Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Nghiên cứu nồng độ Beta2Microglobulin máu ở bệnh nhân suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (348.7 KB, 25 trang )

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Suy thận mạn là một hội chứng lâm sàng và sinh hoá tiến triển
mạn tính qua nhiều năm, hậu quả của sự xơ hoá các nephron, gây giảm
từ từ mức lọc cầu thận dẫn đến tình trạng tăng nitơ phi protein máu
như ure, creatinin. Khi mức lọc cầu thận < 10 ml/phút bệnh nhân cần
được điều trị thay thế thận suy bằng lọc máu hoặc ghép thận.
Bệnh nhân suy thận chiếm tỷ lệ rất lớn trong dân số, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, điều trị khó khăn, tốn kém. Suy thận giai
đoạn cuối hiện nay có 3 phương pháp điều trị: thận nhân tạo, lọc màng
bụng, ghép thận. Theo thống kê năm 2012 trên toàn thế giới có
3.010.000 người được điều trị thay thế thận, mức tăng hàng năm gần
7%. Trong số bệnh nhân này có khoảng 2.358.000 người là thận nhân
tạo và lọc màng bụng. 652.000 người ghép thận. Khi đời sống được
kéo dài, những bệnh nhân lọc máu chu kỳ (LMCK) xuất hiện ngày
càng nhiều các biến chứng về tim mạch, thần kinh, cơ xương khớp làm
giảm chất lượng sống, có nhiều yếu tố gây nên các biến chứng này
nguyên nhân hàng đầu là do lọc không hiệu quả một số chất trong
máu, đặc biệt là các chất có trọng lượng phân tử lớn và trung bình. Đại
diện là beta2-microglobulin (β2M). Khi lọc không hiệu quả β2Msẽ
lắng đọng vào các cơ quan, bộ phận như là hệ xương khớp gây đau
đớn, hạn chế vận động, gãy xương, lắng đọnglên hệ tim mạch, tiêu hóa
gây nên các biến chứng khác làm tăng tỷ lệ nằm viện, tử vong.
Ở Việt Nam có một số nghiên cứu về nồng độ β2M máu ở bệnh
nhân suy thận chưa lọc máu, hoặc đã lọc máu, đánh giá hiệu quả lọc
β2M của buổi lọc xong chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về
mối liên quan của một số yếu tố làm tăng β2M và cách điều trị, điều trị
dự phòng. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm 2 mục tiêu sau:
2
1. Khảo sát nồng độ beta2-microglobulin máu và mối liên quan


với một số thông số ở bệnh nhân suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ
được sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc thấp.
2. So sánh kết quả lọc beta2-microglobulin bằng 3 phương thức:
sử dụng màng lọc có hệ số siêu lọc thấp đơn thuần, sử dụng màng lọc
có hệ số siêu lọc thấp kết hợp với màng lọc có hệ số siêu lọc cao và sử
dụng màng lọc có hệ số siêu lọc thấp kết hợp với thẩm tách siêu lọc bù
dịch trực tiếp từ dịch lọc thận (HDF online).
2. Những đóng góp mới của đề tài
Đây là công trình đầu tiên trong nước đánh giá về sự thay đổi
nồng độ β2M và mối liên quan giữa nồng độ β2M và một số các yếu tố
ở bệnh nhân suy thận mạn tính LMCK.Ngoài ra công trình còn đánh
giá được kết quả lọc β2M của một số phương thức lọc máu để từ đó
đưa ra phương pháp điều trị tối ưu làm giảm nồng độ β2M tránh các
biến chứng lâu dài do β2M gây ra, nâng cao chất lượng cuộc sống cho
bệnh nhân lọc máu.
3. Cấu trúc của luận án: Luận án 123 trang. Đặt vấn đề: 2 trang, tổng
quan: 33 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 23 trang, kết
quả nghiên cứu: 28 trang, bàn luận: 34 trang, kết luận và kiến nghị: 3
trang. Trong luận án có 51 bảng, 10 biểu đồ, 1 sơ đồ, 3 hình. Tài liệu
tham khảo có 145, trong đó có 32 tiếng Việt và 113 tiếng Anh.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về suy thận mạn tính
Suy thận mạn là hậu quả cuối cùng của các bệnh thận, tiết niệu
mạn tính làm chức năng thận giảm tương ứng với số lượng nephron
của thận bị tổn thương và mất chức năng không hồi phục.
3
Nguyên nhân của suy thận mạn tính có nhiều loại khác nhau,
thường gặp do bệnh cầu thận, bệnh ống kẽ thận, bệnh mạch máu thận,
bệnh bẩm sinh và di truyền…
1.2. Biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của suy thận mạn tính

Thận là cơ quan có chức năng nội tiết, ngoại tiết và điều hòa nội
môi nên khi thận bị tổn thương sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều các cơ quan
khác trong cơ thể.
Suy thận được chia làm 5 giai đoạn, do bệnh tiến triển từ từ nên
khi phát hiện thường muộn và điều trị gặp nhiều khó khăn.
Để phát hiện suy thận sớm quan trọng nhất là dựa vào cận lâm
sàng… Điều trị suy thận ngoài điều trị nguyên nhân chủ yếu là điều trị
bảo tồn bởi các nephron ở thận không có khả năng hồi phục khi đã bị
tổn thương và xơ hóa.
1.3. Các phương pháp điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối (điều
trị thay thế thận)
Khi mức lọc cầu thận < 10ml/phút là phải điều trị thay thế thận.
Hiện nay có 3 phương pháp điều trị chính là:
- Ghép thận: chiếm khoảng 15%. Đây là phương pháp điều trị
thay thế tối ưu nhất nhưng nguồn thận cho rất hiếm.
- Lọc màng bụng: chiếm khoảng 16%, thực hiện tại nhà, bệnh
nhân không phụ thuộc vào bệnh viện và nhân viên y tế tuy nhiên có
nhiều biến chứng và hiệu quả lọc thường thấp hơn so với thận nhân
tạo.
- Lọc máu ngoài cơ thể (thận nhân tạo, LMCK) chiếm 69%. Đây
là phương pháp được áp dụng nhiều nhất, dễ thực hiện, hiệu quả lọc
máu cao xong nhược điểm là bệnh nhân phụ thuộc vào máy, bệnh
viện.
1.4. Điều trị thay thế thận suy bằng thận nhân tạo
(lọc máu chu kỳ)
4
Thận nhân tạo hay LMCK có thể thực hiện tại nhà, tại các trung
tâm lọc máu hoặc tại bệnh viện. Ở Việt Nam hiện nay LMCK chủ yếu
được thực hiện tại bệnh viện.
LMCK gồm các phương thức sau:

+ Lọc máu ngắt quãng(IHD): tuần 3 lần, mỗi lần kéo dài 4 giờ
hoặc lọc máu tại nhà, tuần 6 - 7 lần, mỗi lần khoảng 2 giờ. Trong lọc
máu ngắt quãng, có nhiều loại quả lọc được áp dụng - siêu lọc thấp
(Low flux) siêu lọc trung bình (Midium flux) siêu lọc cao (High -
flux).
+ Siêu lọc máu (HF): cơ chế đối lưu.
+ Thẩm tách siêu lọc (HDF): cơ chế kết hợp khuyếch tán và đối
lưu, thẩm tách siêu lọc gồm: bù dịch trực tiếp từ dịch lọc (HDF online)
bù dịch từ dịch pha đóng túi (HDF off -line).
Thực hiện bù dịch có thể trước màng,giữa màng, sau màng hoặc
trước và sau màng lọc.
Phương thức HDF có nhiều ưu điểm bởi đồng thời áp dụng cả 2
nguyên lý đối lưu và khuyếch tán nên kết quả lọc tốt hơn nhiều so với
các phương thức khác.
1.5. Beta2-microglobulin trong suy thận mạn và lọc máu
β2M là một thành phần của phân tử phức hợp hòa hợp miễn dịch
chính có mặt trên tất cả các tế bào có nhân, thuộc nhóm chất có trọng
lượng phân tử trung bình (11.800 dalton).
β2M bình thường có trong máu với mức < 2mg/dl, được lọc qua
cầu thận.
β2M tăng dần trong máu tùy theo sự giảm của mức lọc cầu thận.Ở
bệnh nhân lọc máu nồng độ β2M có thể tăng > 30 lần người bình
thường. Sự tăng β2M sẽ lắng đọng tại các cơ quan bộ phận trong cơ
thể gây biến chứng Amylose, đặc biệt ở bệnh nhân lọc máu > 5 năm
làm giảm nghiêm trọng chất lượng sống của bệnh nhân.
1.6. Các nghiên cứu về β2M ở bệnh nhân suy thận
5
Nước ngoài: có nhiều các nghiên cứu về β2M ở bệnh nhân suy thận,
bệnh nhân lọc máu về cơ chế bệnh sinh, các biện pháp điều trị, điều trị dự
phòng.

Ở Việt Nam: có một số các nghiên cứu về thay đổi nồng độ β2M
ở bệnh nhân suy thận, lọc máu, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào
thực hiện có hệ thống về rối loạn β2M và các mối liên quan ở bệnh
nhân suy thận mạn giai đoạn cuối LMCK và các phương pháp điều trị,
điều trị dự phòng.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 374 đối tượng chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm bệnh: 326 bệnh nhân điều trị LMCK, nhóm chứng: 48
người khỏe với độ tuổi trung bình và tỷ lệ giới tính tương đương
nhóm bệnh.
Đề tài được thực hiện tại Khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Bạch
Mai Hà Nội từ tháng 2/2008 đến tháng 2/2011.
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:
+ Nhóm chứng: Người trưởng thành khỏe mạnh,không có tiền sử
bệnh thận- tiết niệu, tương đồng tuổi và giới với nhóm bệnh nhân,
đồng ý tham gia nghiên cứu.
+ Nhóm bệnh: Suy thậngiai đoạn cuối, LMCK≥ 3 tháng, tuổi ≥
18,lọc máu bằng quả lọc có hệ số siêu lọc thấp, bệnh nhân đồng ý
tham gia nghiên cứu.
-Tiêu chuẩn loại trừ:
Nhóm chứng: Mắc một số bệnh mạn tính như: viêm khớp mạn
tính, bệnh lý dạ dày- tá tràng mạn tính…béo phì, thói quen uống rượu,
bia, phụ nữ có thai, cho con bú.
6
Nhóm bệnh: Bệnh nhân có biểu hiện suy tim: khó thở thường
xuyên tức ngực, tim to toàn bộ trên Xquang… Bệnh nhân suy gan: cổ
trướng, hình ảnh xơ gan trên siêu âm, tuần hoàn bàng hệ. Ung thư giai
đoạn cuối, đang mắc các bệnh cấp tính như: nhiễm khuẩn, nhồi máu cơ
tim, suy tim cấp, đột quị não… Khó khăn trong thực hiện đường vào

mạch máu làm ảnh hưởng đến chất lượng lọc máu. Bệnh nhân nghi
ngờ mắc bệnh ngoại khoa, hoặc bệnh nhân đã có can thiệp phẫu thuật
trong 1 tháng. Không hợp tác nghiên cứu.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân can thiệp (Low flux, Low flux +
High -flux, Low flux + HDF online).
Trong 326 bệnh nhân nghiên cứu chọn ra được 32 bệnh nhân đồng
ý lọc máu Low -flux + HDF online (sau khi bệnh nhân được giải thích
về ưu nhược điểm, các thủ tục bắt buộc khác mà bệnh nhân phải tuân
thủ).
Trong 294 bệnh nhân chia làm các nhóm nhỏ và chọn ngẫu nhiên
1 nhóm có các yếu tố: tuổi, giới, thời gian lọc máu, nguyên nhân suy
thận, nồng độ β2Mtương đồng với nhóm HDF online, nhóm này chọn
được 46 bệnh nhân.
Nhóm Low flux: trong số bệnh nhân còn lại, làm giống như nhóm
2 và chọn được 64 bệnh nhân.
2.2. Phương pháp
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh với nhóm chứng khỏe
mạnh, kết hợp nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc.
- Lấy theo cỡ mẫu lâm sàng thuận tiện trong nhóm can thiệp chia
làm 3 nhóm, chọn nhóm can thiệp HDF online, các nhóm sau lấy ngẫu
nhiên có tính đến các yếu tố tương đương.
2.2.1. Khám lâm sàng và xét nghiệm
- Mỗi bệnh nhân và mỗi người trong nhóm chứng được làm bệnh
án theo mẫu nghiên cứu.
7
- Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu và nhóm chứng được lấy
máu xét nghiệm bao gồm công thức máu (CTM) và các chỉ số sinh hóa.
- Nhóm chứng: lấy máu xét nghiệm lúc đói, định lượng β2M.
- Nhóm bệnh:
+ Phần nghiên cứu cắt ngang: lấy máu trước lọc, buổi lọc đầu tiên

trong tuần: CTM, β2M, ure, creatinin, albumin, c-reactive protein
(CRP), uric, phospho, cholesterol, triglycerid, HDL-C, LDL-C, HbAg,
Anti-HCV.
+ Phần can thiệp: xét nghiệm trước lọc và sau lọc máu (quả lọc lần 1),
trước lọc: lấy máu kim động mạch, sau lọc lấy theo phương pháp dòng
chậm (CTM lấy trước lọc, xét nghiệm sinh hóa lấy trước và sau lọc máu
gồm: ure, creatinin, β2M, Albumin, điện giải, CRP.
2.2.2. Phác đồ can thiệp
Nhóm 1 (PN1): 64 bệnh nhân - quả lọc Low - flux
Nhóm 2 (PN2): 46 bệnh nhân - quả lọc low flux và 1 tháng có can
thiệp 2 lần dùng quả lọc High - flux.
Nhóm 3 (PN3): 32 bệnh nhân - quả lọc low flux và 1 tháng có can
thiệp 2 lần HDF online.
Lần đầu tiên can thiệp gọi là sử dụng quả lọc lần đầu, trong đó nhóm
1 sử dụng quả lọc Low flux, nhóm 2 High flux và nhóm 3 HDF online.
2.2.3. Đánh giá kết quả
- Phần nghiên cứu cắt ngang:
+ Đánh giá sự thay đổi nồng độ β2M máu ở bệnh nhân suy thận
mạn tính LMCK có so sánh với nhóm chứng.
+ Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ β2M máu ở bệnh nhân suy
thận mạn tính LMCKvới các yếu tố: giới, tuổi, thời gian lọc máu,
BMI, CRP, phospho, ure, creatinin, mỡ máu…
- Phần can thiệp:
+ Đánh giá kết quả lọc ure, creatinin, β2M các phương thức ở quả
lọc dùng lần 1.
8
+ Đánh giá sự giảm β2M sau 6 tháng điều trị của mỗi phương thức.
2.2.4. Đạo đức nghiên cứu
- Thực hiện không vi phạm đạo đức nghiên cứu.
- Các phương pháp xét nghiệm và biện pháp điều trị thực hiện vì

quyền lợi bệnh nhân.
- Các xét nghiệm thực hiện theo chỉ định nêu trong khuyến cáo.
- Tôn trọng ý kiến của đối tượng nghiên cứu, có quyền từ chối.
- Các số liệu thu thập chính xác, trung thực và bí mật.
2.2.5. Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học bằng
chương trình phần mềm Epi-Info 3.5.1 và Epical 2000.
Các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ %, so sánh 2 giá trị
trung bình và tỷ lệ % bằng t-test, so sánh nhiều tỷ lệ bằng test χ
2
, so
sánh nhiều giá trị trung bình bằng kiểm định Anova, tính hệ số tương
quan r.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: So sánh tuổi, giới giữa hai nhóm
Nhóm
Nữ Nam Chung
n % n % n %
Nhóm
chứng
n, % 21 43,8 27 56,2 48 100
Tuổi trung
bình (năm)
34,7 ± 9,9 39,8 ± 9,0 37,56 ± 9,65
Nhóm
bệnh
nhân
n, % 140 42,9 186 57,1 326 100
Tuổi trung

bình (năm)
49,9 ± 13,4 42,3 ± 14,4 45,6 ± 14,5
p > 0,05
Tuổi trung bình nhóm bệnh và nhóm chứng khác nhau không có ý
nghĩa thống kê, p> 0,05.
9
Tỷ lệ nam/nữ giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu là tương
đương nhau.
Tuổi trung bình giữa hai giới trong từng nhóm đối tượng nghiên
cứu là tương đương nhau.
10
Bảng 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới (n=326)
Nhóm tuổi
(năm)
Nữ Nam Chung
n % n % n %
≤ 30 14 10,0 47 25,3 61 18,7
31-40 23 16,4 45 24,2 68 20,9
41-50 27 19,3 39 21,0 66 20,2
51-60 44 31,4 35 18,8 79 24,2
>60 32 22,9 20 10,8 52 16,0
Cộng 140 42,9 186 57,1 326 100,0
Phân bố bệnh nhân tương đối đều ở các nhóm tuổi, tuy nhiên
nhóm bệnh nhân ≤ 30 tuổi và > 60 tuổi có tỷ lệ thấp nhất.
Lứa tuổi từ 31 đến 60 tuổi chiếm chủ yếu trong nghiên cứu này (65,3%).
Tỷ lệ đối tượng nam/nữ trong từng nhóm tuổi là tương đương nhau.
Bảng 3.3: Nguyên nhân gây suy thận mạn tính
Nguyên nhân Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Viêm cầu thận mạn 230 70,6
Viêm thận – bể thận mạn 43 13,2

Đái tháo đường 32 9,8
Nguyên nhân khác 21 6,4
Cộng 326 100%
Tỷ lệ bệnh nhân theo nguyên nhân trong nghiên cứu là khác nhau.
Nhóm nguyên nhân suy thận mạn tính do viêm cầu thận mạn tính
chiếm tỷ lệ cao nhất (70,6%).
Bảng 3.4: Phân bố bệnh nhân theo thời gian lọc máu (n=326)
Thời gian lọc máu (năm) Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
<1 14 4,3
1- <5 183 56,1
5- <10 107 32,8
≥10 22 6,7
Trung bình (
X
± SD) 4,71 ± 3,14 (năm)
Nhóm bệnh nhân có thời gian lọc máu trên 1 và dưới 5 năm chiếm
tỷ lệ cao nhất.
11
Bệnh nhân có thời gian lọc máu dưới 1 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất.
Bảng 3.7: Đặc điểm BMI nhóm bệnh nhân nghiên cứu (n=326)
Mức độ Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Thiếu cân 137 42,02
Bình thường 167 51,28
Thừa cân và béo phì 22 6,7
Trung bình (
X
± SD) 19,2 ± 2,4 (13,3 – 29,0)
Tỷ lệ bệnh nhân có BMI bình thường trong nghiên cứu chiếm cao
nhất sau đó là thiếu cân (gầy).
Bảng 3.10: Tỷ lệ nhiễm HBV, HCV nhóm bệnh nhân nghiên cứu

(n=326)
Tình trạng Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Không nhiễm 186 57,1
HBV (+) 28 8,6
HCV (+) 98 30,1
HBV và HCV (+) 14 4,2
Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virutviêm gan tương đối cao trong nghiên
cứu này. Có tới 30,1% bệnh nhân có HCV (+), 8,6% bệnh nhân có
HBV (+) và 4,2% bệnh nhân có cả HBV và HCV (+).
3.2. Biến đổi nồng độ beta2-microglobulin ở bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 3.11: Biến đổi nồng độ beta2 - microglobulin máu
nhóm bệnh nhân và nhóm chứng
β2M
(mg/l)
Đối tượng
Min – Max
X
± SD
p
Bệnh nhân (n=326) 16,9 - 129,2 64,7 ± 21,1
< 0,001
Nhóm chứng (n=48) 0,9 - 3,6 1,88 ± 0,68
Nhóm bệnh có nồng độ β2M máu trung bình cao hơn nhóm chứng
có ý nghĩa với p < 0,001.
Bảng 3.14: Nồng độ β2M máu theo giới nhóm bệnh nhân
12
nghiên cứu (n=326)
Đối tượng β2M (mg/L) p
Nam (n=186) 64,0 ± 21,3
> 0,05

Nữ (n=140) 65,7 ± 21,0
Nồng độ trung bình β2M máu khác nhau giữa nam và nữ song sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.15: Liên quan nồng độ β2M theo nhóm tuổi (n=326)
β2M (mg/l)
Nhóm tuổi (năm)
Min – Max
X
± SD
≤ 30 (n=61) 23,7-101,7 66,1 ± 20,1
31-40 (n=68) 21,4-109,3 64,5 ± 21,9
41-50 (n=66) 25,3-120,4 63,5 ± 21,6
51-60 (n=79) 16,9-129,2 68,4 ± 21,5
>60 (n=52) 20,8-96,8 59,6 ± 19,7
p ANOVA > 0,05
Giá trị trung bình β2M của bệnh nhân giữa các nhóm tuổi khác
biệt không có ý nghĩa, chứng tỏ nồng độ β2M không liên quan với tuổi
của bệnh nhân.
Bảng 3.16: Biến đổi nồng độ β2M theo thời gian lọc máu (n=326)
β2M (mg/l)
Thời gian
lọc máu (năm)
Min – Max
X
± SD
<1 (n=14) 23,7 – 70,4 38,2 ± 12,0
1- < 5 (n=183) 16,9-98,7 56,4 ± 18,8
5- <10 (n=107) 43,7-99,9 76,9 ± 12,0
≥10 (n=22) 52,2-129,2 92,4 ± 20,3
p ANOVA < 0,001

Nồng độ β2M trung bình khác nhau giữa các nhóm bệnh nhân có
thời gian lọc máu khác nhau, tăng theo thời gian lọc máu.
13
Nhóm bệnh nhân lọc máu < 1 năm có nồng độ β2M trung bình thấp
nhất, nhóm bệnh nhân lọc máu hơn 10 năm có nồng độ β2M trung bình
cao nhất, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Biểu đồ 3.4: Tương quan giữa nồng độ β2M với thời gian lọc máu
Nồng độ β2M tương quan thuận, mức độ chặt, có ý nghĩa với thời
gian lọc máu. Những bệnh nhân có thời gian lọc máu càng dài càng có
sự tích lũy nhiều β2M.
Hệ số tương quan β2M và thời gian lọc máu là r=0,64, p < 0,001.
14
Bảng 3.18: Liên quan nồng độ β2M ở bệnh nhân theo nguyên
nhân gây suy thận mạn tính
β2M (mg/l)
Nguyên nhân
Min – Max (
X
± SD)
Viêm cầu thận mạn
(n=230)
16,9-129,2 64,3 ± 21,5
Viêm thận – bể thận
mạn (n=43)
31,4-105,9 62,9 ± 19,1
Đái tháo đường (n=32) 30,8-93,8 66,5 ± 19,4
Nguyên nhân khác
(n=21)
40,2-77,6 66,8 ± 17,8
p ANOVA > 0,05

Nồng độ β2M không liên quan đến nguyên nhân gây suy thận
mạn tính, p > 0,05.
Bảng 3.19: Liên quan nồng độ β2M theo nhóm bệnh nhân có tình
trạng nhiễm hoặc không nhiễm virut viêm gan
β2M (mg/l)
Nhiễm virut viêm gan
Min – Max (
X
± SD)
Không nhiễm (n=186) 16,9-93,4 57,2 ± 18,5
Có nhiễm (n=140) 29,7-129,2 74,7 ± 20,4
p < 0,001
β2M liên quan với tình trạng nhiễm virut viêm gan, nồng độ β2M
trung bình nhóm bệnh nhân nhiễm virut viêm gan cao hơn nhóm
không nhiễm có ý nghĩa, p< 0,001.
Bảng 3.20: Liên quan nồng độ β2M theo nhóm bệnh nhân có tình
trạng nhiễm HBV, HCV khác nhau
β2M (mg/l)
Nhiễm virut viêm gan
Min – Max (
X
± SD)
HBV (+), (n=28) 30,3-129,2 62,8 ± 23,5
HCV (+), (n=98) 29,7-120,4 77,6 ± 17,9
HBV + HCV (n=14) 39,4-117,6 78,9 ± 22,9
p ANOVA < 0,01
15
Khi so sánh chung 3 nhóm, nồng độ β2M có liên quan đến chủng
virus viêm gan bị nhiễm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01),
trong đó cao nhất ở nhóm đồng nhiễm HBV+HCV và thấp nhất ở

nhóm đơn nhiễm HBV.
Bảng 3.21: Liên quan nồng độ β2M với tình trạng
bảo tồn nước tiểu (n=326)
β2M (mg/l)
Mức độ
Min – Max
(
X
± SD)
Không bảo tồn (n=263) 21,4-129,2 68,2 ± 19,8
Bảo tổn (n=63) 16,9-109,3 50,5 ± 20,6
p < 0,001
β2M liên quan đến tình trạng bảo tồn nước tiểu, những bệnh nhân
còn bảo tồn nước tiểu có nồng độ β2M thấp hơn có ý nghĩa so với
nhóm không bảo tồn nước tiểu, p< 0,001.
Bảng 3.23: Liên quan nồng độ β2M theo tình trạng thiếu máu của
bệnh nhân (n=326)
Mức độ thiếu máu Số lượng (n)
β2M (mg/l),
(
X
± SD)
Không 55 65,02 ± 19,77
Nhẹ 171 65,17 ± 21,32
Vừa 82 63,38 ± 20,64
Nặng 18 66,09 ± 26,79
Tổng 326 64,7 ± 21,1
p ANOVA > 0,05
β2M không liên quan đến tình trạng có hay không có thiếu máu,
mức độ thiếu máu, p > 0,05.

16
Bảng 3.24: Liên quan nồng độ β2M với rối loạn từng thành phần
lipid máu nhóm bệnh nhân nghiên cứu (n=326)
Biểu hiện
β2M (mg/l)
(
X
± SD)
p
Tăng cholesterol
Không (n=235) 62,6 ± 19,7
<0,01
Có (n=91) 70,2 ± 19,9
Tăng triglyceride
Không (n=232) 62,7 ± 21,0
<0,01
Có (n= 94) 69,8 ± 20,7
Giảm HDL-C
Không (n=203) 60,5 ± 19,1
<0,001
Có (n=123) 71,7 ± 22,7
Tăng LDL-C
Không (n=256) 63,2 ± 21,2
<0,01
Có (n=70) 70,6 ± 19,9
β2M liên quan đến tình trạng rối loạn lipid máu, bệnh nhân có
rối loạn lipid máu có nồng độ β2M cao hơn nhóm không rối loạn có
ý nghĩa, p < 0,05.
Bảng 3.25: Liên quan nồng độ β2M với BMI nhóm bệnh nhân
nghiên cứu (n=326)

BMI Số lượng (n)
β2M (mg/l),
(
X
± SD)
Thiếu cân 137 63,83 ± 21,21
Bình thường 167 65,19 ± 20,43
Thừa cân, béo 22 67,17 ± 26,27
p ANOVA > 0,05
Nồng độ β2M có xu hướng tăng ở nhóm bệnh nhân thừa cân béo
phì, tuy nhiên β2M không liên quan đến tình trạng gầy hoặc thừa cân
béo phì, p> 0,05.
17
3.3. Hiệu quả lọc β2M ở bệnh nhân sử dụng phương pháp và quả
lọc có hệ số siêu lọc khác nhau
Bảng 3.27: Đặc điểm mẫu nghiên cứu trước khi can thiệp
Đặc điểm PN1 PN2 PN3 p ANOVA
Thời gian lọc máu
(tháng)
80,6 ± 42,6 64,6 ± 44,0 78,8 ± 41,0 > 0,05
Bạch cầu (BC) (G/l) 7,2 ± 1,3 7,3 ± 1,2 7,3 ± 1,4 > 0,05
Hemoglobin (g/l) 101,2 ± 16,9 99,2 ± 17,3 99,5 ± 15,1 > 0,05
Albumin (g/l) 38,2 ± 3,5 38,4 ± 5,0 39,7 ± 3,3 > 0,05
CRP (mg/dl) 0,61 ± 0,48 0,47 ± 0,37 0,68 ± 0,49 > 0,05
Ure (mmol/l) 29,2 ± 6,5 29,0 ± 7,1 29,2 ± 7,2 > 0,05
Creatinin (µmol/l) 830,7 ± 204,6 828,8 ± 217,1 831,7 ± 200,7 > 0,05
β2M (mg/l) 66,04 ± 26,7 64,8 ± 18,8 69,2 ± 18,9 > 0,05
K+ (mmol/l) 4,91 ± 0,55 4,86 ± 0,58 4,93 ± 0,56 > 0,05
Na+ (mmol/l) 135,4 ± 2,1 135,6 ± 2,2 135,6 ± 2,2 > 0,05
Ca++ (mmol/l) 1,90 ± 0,31 1,84 ± 0,29 1,86 ± 0,29 > 0,05

Không có sự khác biệt có ý nghĩa của các chỉ số ở 3 phân nhóm sử
dụng phương pháp và loại quả lọc khác nhau, p > 0,05.
Bảng 3.30: So sánh nồng độ ure ở các phân nhóm nghiên cứu
sau sử dụng quả lọc lần đầu
Phân nhóm
Ure
(mmol/l)
PN1
(n=64)
PN2
(n=46)
PN3
(n=32)
p ANOVA
Trước lọc 29,2 ± 6,5 29,0 ± 7,1 29,2 ± 7,2 > 0,05
Sau lọc
9,9 ± 2,6 8,9 ± 2,2 6,0 ± 1,3
1-3,2-3:
< 0,001
1-2: > 0,05
P < 0,001 < 0,001 < 0,001
Sau lọc nồng độ ure giảm có ý nghĩa ở các phân nhóm, p< 0,001.
Phân nhóm 3 có mức giảm ure tốt nhất, khác biệt có ý nghĩa so với
phân nhóm 1 và 2, p < 0,001.
18
Bảng 3.31: So sánh nồng độ creatinin ở các phân nhóm nghiên cứu
sau sử dụng quả lọc lần đầu
Phân nhóm
Creatinin
(µmol/l)

PN1
(n=64)
PN2
(n=46)
PN3
(n=32)
p
ANOVA
Trước lọc 830,7 ± 204,6 828,8 ± 217,1 831,7 ± 200,7 > 0,05
Sau lọc
294,9 ± 105,0 272,5 ± 109,6 161,2 ± 65,6
1-3,2-3:
< 0,001
1-2: > 0,05
p < 0,001 < 0,001 < 0,001
Sau lọc nồng độ creatinin máu giảm có ý nghĩa ở các phân
nhóm,p< 0,001. Phân nhóm 3 có mức giảm creatinin tốt nhất, khác
biệt có ý nghĩa so với phân nhóm 1 và 2, p< 0,001.
Bảng 3.35: Biến đổi BC, Hemoglobin, albumin, CRP và BMI
sau 6 tháng điều trị
Chỉ tiêu
PN1
(n=64)
PN2
(n=46)
PN3
(n=32)
pANOVA
BC (G/L)
Trước can thiệp 7,2 ± 1,3 7,3 ± 1,2 7,3 ± 1,4 > 0,05

Sau 6 tháng 7,1 ± 1,2 7,0 ± 1,1 7,1 ± 1,4 > 0,05
p > 0,05 > 0,05 > 0,05
Hemoglobi
n
(g/l)
Trước can thiệp 101,2 ± 16,9 99,2 ± 17,3 99,5 ± 15,1 > 0,05
Sau 6 tháng 104,2 ± 16,3 109,6±16,2 120,7 ± 14,3
1-3,2-3:
< 0,05
1-2:>0,05
p > 0,05 < 0,05 < 0,05
Albumin
(g/l)
Trước can thiệp 38,2 ± 3,5 38,4 ± 5,0 39,7 ± 3,3 > 0,05
Sau 6 tháng 38,5 ± 3,4 39,6 ± 4,6 39,0 ± 2,8 > 0,05
p > 0,05 > 0,05 > 0,05
CRP
(mg/dl)
Trước can thiệp 0,61 ± 0,48 0,47 ± 0,37 0,68 ± 0,49 > 0,05
Sau 6 tháng 0,59 ± 0,44 0,52 ± 0,34 0,55 ± 0,33 > 0,05
p > 0,05 > 0,05 > 0,05
BMI
Trước can thiệp 18,9 ± 2,6 19,6 ± 2,0 19,6 ± 2,4 > 0,05
Sau 6 tháng 19,2 ± 2,4 19,5 ± 2,1 21,1 ± 2,0
1-3,2-3:
< 0,05
1-2: > 0,05
p > 0,05 > 0,05 < 0,05
19
Nồng độ hemoglobin và BMI nhóm thẩm tách siêu lọc máu sau 6

tháng tăng hơn các nhóm khác và tăng hơn thời điểm trước 6 tháng
(p <0,05). Không có sự khác biệt thay đổi số lượng BC, nồng độ
albumin và nồng độ CRP máu trước và sau 6 tháng điều trị, giữa
các nhóm (p > 0,05).
Bảng 3.38: So sánh hiệu quả lọc β2M ở các phân nhóm
sau sử dụng quả lọc lần đầu
β2M
(mg/l)
PN1
(n=64)
PN2
(n=46)
PN3
(n=32)
p
ANOVA
Trước lọc 66,04 ± 26,7 64,8 ± 18,8 69,2 ± 18,9 > 0,05
Sau lọc
66,3 ± 26,2 47,8 ± 13,5
21,8± 9,8
< 0,001
p > 0,05 < 0,001 < 0,001
trước và sau lọc: Nhóm 1 tăng nhẹ, nhóm 2 và 3 giảm có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001 đặc biệt ở nhóm 3.
Bảng 3.41: Biến đổi nồng độ β2M trong 6 tháng điều trị
Thời điểm
PN1
(n=64)
PN2
(n=46)

PN3
(n=32)
p ANOVA
Trước lọc (T0) 66,04 ± 26,7 64,8 ± 18,8 69,2 ± 18,9 > 0,05
Sau 1 tháng 65,9 ± 26,4 57,8 ± 16,5 46,1 ± 11,8 < 0,05
Sau 2 tháng 66,5 ± 26,7 56,3 ± 16,3 44,4 ± 11,9 < 0,05
Sau 3 tháng (T3) 66,9 ± 26,6 54,9 ± 16,2 42,7 ± 12,2 < 0,05
Sau 4 tháng 67,6 ± 26,5 52,0 ± 15,6 40,8 ± 13,1 < 0,05
Sau 5 tháng 68,5 ± 27,0 48,7 ± 14,2 34,5 ± 11,8 < 0,01
Sau 6 tháng (T6) 68,5 ± 24,9 46,7 ± 12,8 32,4 ± 9,1 < 0,01
p > 0,05
T6 &T3,
T6&T0:
< 0,001
T6&T3,
T6&T0:
< 0,001
Nhóm bệnh nhân sử dụng quả lọc hệ số màng siêu lọc thấp, nồng
độ β2M tăng theo thời gian.
20
Nhóm bệnh nhân sử dụng quả có hệ số siêu lọc thấp xen kẽ với
quả có hệ số siêu lọc cao nồng độ β2M giảm, sau 6 tháng giảm có ý
nghĩa p<0,001.
Nhóm bệnh nhân thẩm tách siêu lọc máu nồng độ β2M giảm
mạnh, đến tháng thứ sáu nồng độ chỉ còn 32,4 mg/l, p< 0,001.
Giữa các phân nhóm từng tháng đều có sự giảm khác biệt , p< 0,05.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
4.1.1. Tuổi - giới
Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 45,6 ± 14,5 trong đó nam là

49,9 ± 13,4, nữ là 42,3 ± 14,5 (bảng 3.1). Tỷ lệ của nam mắc nhiều
hơn nữ. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các kết quả nghiên cứu
trong nước. Tuy nhiên tuổi trung bình bệnh nhân lọc máu thấp hơn
nhiều so với các nghiên cứu ở các nước phát triển. Nguyên nhân là do
cơ cấu bệnh tật khác nhau, công tác tổ chức, điều trị bảo tồn ở những
nước này tốt nên kéo dài thời gian bệnh nhân suy thận đến giai đoạn
lọc máu.
4.1.2. Nguyên nhân
Chúng tôi chia thành 4 nhóm nguyên nhân gây bệnh chính là viêm
cầu thận mạn, viêm thận - bể thận mạn, đái tháo đường và các nguyên
nhân khác. Trong đó nguyên nhân suy thận do viêm cầu thận mạn tính
chiếm tỷ lệ cao nhất (bảng 3.3), phù hợp với các nghiên cứu trong
nước. Các nghiên cứu ở các nước phát triển nguyên nhân suy thận đái
tháo đường lại chiếm tỷ lệ cao.
4.1.3. Thời gian lọc máu
Trong nghiên cứu này bệnh nhân lọc máu < 1 năm chiếm tỷ lệ
thấp nhất sau đó đến nhóm ≥ 10 năm. Còn đa số là từ 5 - 10 năm (bảng
3.4). Các nghiên cứu khác trên thế giới bệnh nhân lọc máu 5 - 10 năm
cũng chiếm đa số.
21
4.1.4. Tình trạng BMI
Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân là thiếu cân. Số
bệnh nhân béo phì chiếm tỷ lệ thấp (6,7%). Nghiên cứu khác ở các
nước châu Âu thì số bệnh nhân béo phì chiếm đa số, nguyên nhân do
suy thận ở các nước này liên quan đến rối loạn chuyển hóa như đái
tháo đường, goutte…
4.1.5. Tình trạng nhiễm virut viêm gan: tỷ lệ viêm gan trong LMCK
tăng cao, vì lây truyền virut B, C qua đường máu. Ở một số nước phát
triển tỷ lệ viêm gan thấp hơn. Điều này nói lên công tác phòng viêm
gan cần phải đặc biệt lưu ý (vacxin, vô trùng…).

4.2. Biến đổi nồng độ beta2-microglobulin và mối liên quan với
một số thông số ở bệnh nhân suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ
4.2.1. Biến đổi β2M
Nồng độ β2M tăng cao tuyệt đối ở nhóm bệnh, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê so với nhóm chứng p < 0,001. Kết quả phù hợp với các
kết quả nghiên cứu trong nước cũng như ở nước ngoài (Bảng 3.11).
4.2.2. Liên quan với giới
Bảng 3.14: ở bệnh nhân LMCK trong nghiên cứu của chúng tôi.
Cả nam và nữ β2M đều tăng cao. Tuy nhiên không có sự khác biệt với
p > 0,05.
4.2.3. Liên quan với tuổi: Ở các nhóm tuổi khác nhau, nồng độ β2M
có khác nhau, nhóm cao tuổi (61 - 60) có nồng độ β2M cao nhất xong
không có sự khác biệt so với các nhóm tuổi khác p > 0,05. Điều này
phù hợp với bệnh bởi nguyên nhân là do suy thận không lọc được β2M
và không liên quan đến tuổi.
4.2.4. Liên quan với thời gian lọc máu
Trong nghiên cứu này nồng độ β2M liên quan chặt chẽ với thời
gian lọc máu. Thời gian lọc máu càng lâu nồng độ β2M càng cao, sự
khác biệt giữa các nhóm với p < 0,001 (Bảng 3.16). Nguyên nhân là
β2M sản sinh ra hàng ngày, lọc bằng siêu lọc thấp không đào thải
được nên có sự tích tụtheo thời gian lọc máu.
22
4.2.5. Liên quan với nguyên nhân gây suy thận mạn
Gồm 4 nhóm nguyên nhân gây suy thận mạn, nồng độ β2M ở
nhóm tiểu đường cao nhất tuy nhiên không có sự khác biệt so với các
nhóm khác. Chưa có một báo cáo nào đi sâu về vấn đề này xong do cơ
chế bệnh sinh nên kết quả này là phù hợp (bảng 3.18).
4.2.6. Liên quan với tình trạng nhiễm virut viêm gan
Bệnh nhân viêm gan không viêm gan, viêm gan virut B, C hoặc
đồng nhiễm, nồng độ có sự khác biệt p < 0,05. Vì vậy phát hiện

viêm gan virut ở bệnh nhân LMCK là một vấn đề cần được quan tâm
chặt chẽ.
4.2.7. Liên quan tới chức năng thận tồn dư
Ở bệnh nhân còn chức năng thận tồn dư nồng độ β2M thấp hơn so
với nhóm vô niệu, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trên thế
giới, vấn đề duy trì chức năng thận tồn dư này là rất quan trọng ở bệnh
nhân suy thận mạn LMCK.
4.2.8. Liên quan với mức độ thiếu máu và BMI
Trong nghiên cứu của chúng tôi thiếu máu là phổ biến xong chưa
tìm thấy mối liên quan giữa thiếu máu và nồng độ β2M. Chúng tôi
thấy những bệnh nhân thừa cân có nồng độ β2M cao nhất xong cũng
không thấy sự khác biệt giữa các nhóm thiếu cân, bình thường, béo phì
với p > 0,05.
4.2.11. Liên quan với rối loạn lipid máu
Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng giống các tác giả trong nước
và trên thế giới thấy có sự liên quan giữa rối loạn các thành phần lipid
máu với p < 0,001 theo mức tăng triglycerid, cholesterol, LDL-C và
giảm HDL-C.
4.3. Hiệu quả lọc β2M ở bệnh nhân sử dụng phương pháp và quả
lọc có hệ số siêu lọc khác nhau
4.3.1. Đặc điểm chung và hiệu quả lọc của các phân nhóm
Đặc điểm chung: Cả 3 phân nhóm nghiên cứu đều có sự tương
đồng về thời gian lọc máu, tuổi, nồng độ β2M và các thông số nghiên
23
cứu khác.
Hiệu quả lọc ure, creatinin ở quả lọc lần đầu: trong lần lọc đầu
tiên ure, creatinin, ở cả 3 nhóm đều lọc tốt. Sự khác biệt giữa trước và
sau lọc có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tuy nhiên ở nhóm HDF
online là cao nhất.
Các chất điện giải (Na

+
, K
+
, Cl
-
) trước và sau lọc ở cả 3 nhóm là
tương đương, hiệu quả cân bằng điện giải ở 3 nhóm như nhau.
Biến đổi một số chỉ số sau sau 6 tháng điều trị: Trong3 nhóm sau
6 tháng can thiệp, nhóm HDF online cải thiện thiếu máu, huyết áp.Các
thông số khác như: albumin, CRP, BC… ở 3 nhóm không có sự khác
biệt.
4.3.2. Hiệu quả lọc β2M ở các phân nhóm
Hiệu quả lọc lần 1: kết quả nghiên cứu (Bảng 3.38) của chúng tôi
cho thấy ở phân nhóm 1 nồng độ β2M sau lọc tăng nhẹso với trước lọc
như vậy nhóm này lọc β2M không hiệu quả, ở phân nhóm 2 nồng độ
β2M sau lọc giảm, khác biệt với p < 0,01. Đặc biệt hiệu quả lọc rất cao
ở phân nhóm 3. Như vậy HDF online là phương thức lọc tốt nhất β2M
so với 2 nhóm còn lại.
Biến đổi nồng độ β2M sau 6 tháng điều trị.
Sau 6 tháng điều trị nhóm dùng quả lọc có hệ số siêu lọc thấp
β2M tăng có xu hướng tăng. Ở phân nhóm có dùng kết hợp quả lọc
High flux sự giảm β2M từ tháng thứ 3 so với tháng bắt đầu nghiên cứu
sự khác biệt với p < 0,001. Sự giảm này còn rõ hơn ở nhóm HDF
online. Như vậy nếu điều trị dự phòng tăng β2M máu ở bệnh nhân suy
thận mạn LMCK áp dụng phương thức này sẽ mang lại hiệu quả cao.
24
KẾT LUẬN
Nghiên cứu nồng độ β2 microglobulin máu ở 326 bệnh nhân
LMCK sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc thấp, so sánh với 48 người
thuộc nhóm chứng khỏe mạnh và đánh giá hiệu quả lọc Beta2

microglobulin ở bệnh nhân sử dụng phương thức và quả lọc có hệ số
siêu lọc khác nhau có kết luận sau:
1. Biến đổi nồng độ β2M:
β2M máu tăng cao ở bệnh nhân suy thận mạn tính LMCK:
+ Giá trị trung bình β2M của bệnh nhân cao hơn so với nhóm
chứng (64,7 ± 21,1 mg/L so với 1,88 ± 0,68 mg/L). 100% bệnh nhân
có tăng giá trị tuyệt đối của β2M.
+ Nồng độ β2M tương quan thuận, mức độ chặt với thời gian lọc
máu (r = 0,64, p < 0,001).
+ Nồng độ β2M liên quan với nhiễm virut viêm gan B, C. Ở bệnh
nhân nhiễm virut cao hơn so với không nhiễm (74,7 ± 20,4 mg/L so
với 57,2 ± 18,5 mg/L), ở bệnh nhân đồng nhiễm cao hơn so với khi
nhiễm đơn độc, nhiễm virut viêm gan C cao hơn so với nhiễm virut viêm
gan B.
+ Nồng độ β2M ở bệnh nhân không còn bảo tồn nước tiểu cao hơn
so với còn bảo tồn nước tiểu (68,2 ± 19,8 mg/L so với 50,5 ± 20,6 mg/L).
+ Nồng độ β2M liên quan có ý nghĩa với rối loạn lipid máu. Giá
trị trung bình β2M tăng ở bệnh nhân có tăng cholesterol, triglycerid,
LDL-C hoặc giảm HDL-C.
2. Hiệu quả lọc β2M khi sử dụng phương thức và quả lọc có hệ số
siêu lọc khác nhau.
+ Sau cuộc lọc lần đầu, nồng độ β2M máu trung bình ở nhóm
thẩm tách siêu lọc, nhóm bệnh nhân quả lọc có hệ số siêu lọc cao giảm
có ý nghĩa so với trước lọc (69,2 ± 18,9 mg/L so với 21,8 ± 9,8 mg/L
và 64,8 ± 18,8 mg/L so với 47,8 ± 13,5 mg/L), p< 0,001. Nồng độ
25
β2M máu trung bình sau lọc ở nhóm thẩm tách siêu lọc giảm hiệu quả
hơn nhóm sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc cao, p< 0,001.
+ Trong 3 phân nhóm, hệ số thanh thải β2M máu sau cuộc lọc
lần đầu ở nhóm thẩm tách siêu lọc cao nhất, khác biệt so với nhóm

sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc cao và nhóm sử dụng quả lọc có
hệ số siêu lọc thấp (52,4 ± 6,8 mg/L so với 32,5 ± 5,7 mg/L và 6,2
± 4,2 mg/L), pANOVA < 0,001.
+ Giá trị trung bình nồng độ β2M máu giảm sau 6 tháng điều trị
khi sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc thấp xen kẽ thẩm tách siêu lọc
hoặc xen kẽ quả lọc có hệ số siêu lọc cao (69,2 ± 18,9 mg/L và 32,4 ± 9,1
mg/L so với 64,8 ± 18,8 mg/L và 46,7 ± 12,8 mg/L). Nếu chỉ lọc bằng
quả lọc có hệ số siêu lọc thấp đơn thuần thì nồng độ β2M máu biến đổi có
xu hướng tăng lên (66,04 ± 26,7 mg/L so với 68,5 ± 24,9 mg/L).
KIẾN NGHỊ
+ Bệnh nhân LMCK cần định kỳ xét nghiệm nồng độ β2
microglobulin máu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ
β2M làm cơ sở cho các biện pháp chẩn đoán, tiên lượng và điều trị
nhằm nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân.
+ Để kiểm soát nồng độ β2M tăng ở bệnh nhân LMCK nên áp
dụng chế độ lọc máu có phối hợp quả lọc hệ số siêu lọc thấp với thẩm
tách siêu lọc hoặc phối hợp với quả lọc hệ số siêu lọc cao.
+ Cần có các nghiên cứu tiếp theo với số lượng bệnh nhân lớn
hơn, thời gian dài hơn về ảnh hưởng của tăng β2M máu trên bệnh nhân
LMCKvà hiệu quả của việc kiểm soát nồng độ β2M máu trên những
bệnh nhân này.

×