Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Báo cáo KHOÁNG sản KIM LOẠI phần I sắt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.82 MB, 29 trang )

Phần I SẮT (Fe)
MỞ ĐẦU
Sắt là một dạng nguyên liệu quan trọng bậc nhất giữ vai trò cách mạng
trong lịch sử. Sắt được ứng dụng hầu hết trong các lĩnh vực công nghiệp trên
toàn thế giới. Việc nghiên cứu sắt là một vấn đề cần thiết và quan trọng trong
ngành công nghiệp khai khoáng. Sắt tồn tại hầu hết ở các loại hình nguồn gốc
mỏ: nhiệt dịch, cacbonatit, macma thực sự, mỏ bị biến chất, mỏ trầm tích…
Sau đây sẽ tìm hiểu kỹ hơn về sắt lịch sử ra đời, tính chất địa hóa, các loại
hình mỏ công nghiệp ở Việt Nam cũng như thế Giới và Sự nghiên cứu phân bố
sắt ở Việt Nam
Chương I. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ TÍNH CHẤT
ĐỊA HÓA
I. Lịch sử
Những dấu hiệu đầu tiên về việc sử dụng sắt là ở những người Sumeria
và người Ai Cập vào khoảng 4000 năm TCN, các đồ vật nỏ như mũi giáo và đồ
trang trí, đã được làm từ sắt lấy từ các thiên thạch. Vì các thiên thạch rơi từ trên
trời xuống nên một số nhà ngôn ngữ học phỏng đoán rằng từ tiếng Anh iron, là
từ có cùng nguồn gốc với nhiều ngôn ngữ ở phía bắc và tây châu Âu, có xuất xứ
từ tiếng Etruria aisar có nghĩa là "trời".
Vào khoảng những năm 3000 đến 2000 Trước Công Nguyên (TCN), đã xuất
hiện hàng loạt các đồ vật làm từ sắt nóng chảy (phân biệt rõ với sắt từ thiên
thạch do thiếu niken trong sản phẩm) ở Lưỡng Hà, Anatolia và Ai Cập. Tuy
nhiên, việc sử dụng chúng có lẽ là thuộc về hình thức trong tế lễ, và sắt đã là
kim loại rất đắt, hơn cả vàng. Trong Illiad, các vũ khí chủ yếu làm từ đồng thau,
nhưng các thỏi sắt đã được sử dụng trong buôn bán. Một số nguời cho rằng sắt
được tạo ra khi đó như sản phẩm đi kèm của việc tinh chế đồng, như là những
bọt sắt, và không được tái sản xuất bởi ngành luyện kim khi đó. Vào khoảng
năm 1600 đến 1200 TCN, sắt đã được sử dụng nhiều hơn ở Trung Cận Đông,
nhưng vẫn chưa thay thế được sự thống trị của đồng thau.
.
Cùng với việc chuyển đổi từ đồng thau sang sắt là việc phát hiện ra quy


trình cacbua hóa, là quy trình bổ sung thêm cacbon vào sắt. Sắt được thu lại như
bọt sắt, là hỗn hợp của sắt với xỉ với một ít cacbon và/hoặc cacbua, sau đó nó
được rèn và tán phẳng để giải phóng sắt khỏi xỉ cũng như ôxi hóa bớt cacbon,
để tạo ra sắt non. Sắt non chứa rất ít cacbon và không dễ làm cứng bằng cách
làm nguội nhanh. Người Trung Đông đã phát hiện ra là một số sản phẩm cứng
hơn có thể được tạo ra bằng cách đốt nóng lâu sắt non với than củi trong lò, sau
đó làm nguội nhanh bằng cách nhúng vào nước hay dầu. Sản phẩm tạo thành có
bề mặt của thép, là cứng hơn và ít gãy hơn đồng thau, là thứ đang bị thay thế
dần.
Ở Trung Quốc, những đồ vật bằng sắt đầu tiên được sử dụng cũng là sắt
lấy từ thiên thạch, các chứng cứ khảo cổ học về các đồ vật làm từ sắt non xuất
hiện ở miền tây bắc, gần Xinjiang trong thế kỷ 8 TCN. Các đồ vật làm từ sắt
non có cùng quy trình như sắt được làm ở Trung Đông và châu Âu, và vì thế
người ta cho rằng chúg được nhập khẩu bởi những người không phải là người
Trung Quốc.
Trong những năm muộn hơn của nhà Chu (khoảng năm 550 TCN), khả
năng sản xuất sắt mới đã bắt đầu vì phát triển cao của công nghệ lò nung. Sản
xuất theo phương pháp lò nung không khí nóng có thể tạo ra nhiệt độ trên 1300
K, người Trung Quốc bắt đầu sản xuất gang thô và gang đúc.
Nếu quặng sắt được nung với cacbon tới 1420–1470 K, một chất lỏng nóng
chảy được tạo ra, là hợp kim của khoảng 96,5% sắt và 3,5% cacbon. Sản phẩm
này cứng, có thể đúc thành các đồ phức tạp, nhưng dễ gãy, trừ khi nó được phi-
cacbua hóa để loại bớt cacbon. Phần chủ yếu của sản xuất sắt từ thời nhà Chu
trở đi là gang đúc. Sắt, tuy vậy vẫn là sản phẩm thông thường, được sử dụng bởi
những người nông dân trong hàng trăm năm, và không có ảnh hưởng đáng kể
đến diện mạo của Trung Quốc cho đến tận thời kỳ nhà Tần (khoảng năm 221
TCN).
Việc sản xuất gang đúc ở châu Âu bị chậm trễ do các lò nung chỉ có thể
tạo ra nhiệt độ khoảng 1000 K. Trong thời Trung cổ, ở Tây Âu sắt bắt đầu được
làm từ bọt sắt để trở thành sắt non. Gang đúc sớm nhất ở châu Âu tìm thấy

ở Thụy Điển, trong hai khu vực là Lapphyttan vàVinarhyttan, khoảng từ năm
1150 đến 1350. Có giả thuyết cho rằng việc sản xuất gang đúc là do
người Mông Cổ thông qua nước Nga truyền đến các khu vực này, nhưng không
có chứng cứ vững chắc cho giả thuyết này. Trong bất kỳ trường hợp nào, vào
cuối thế kỷ14 thì thị trường cho gang đúc bắt đầu được hình thành do nhu cầu
cao về gang đúc cho các súng thần công.
Việc nung chảy sắt thời kỳ đầu tiên bằng than củi như là nguồn nhiệt và
chất khử. Trong thế kỷ 18, ở Anh việc cung cấp gỗ bị giảm xuống và than cốc,
một nhiên liệu hóa thạch, đã được sử dụng để thay thế. Cải tiến của Abraham
Darby đã cung cấp năng lượng cho cuộc cách mạng công nghiệp.
Tóm lại sắt là một dạng nguyên liệu quan trọng bậc nhất giữ vai trò cách
mạng trong lịch sử ( F. Anghen). Sắt là một trong những sản phẩm chính của
công nghiệp hiện đại và là một trong những cơ sở của nển văn minh ( V.Lenin).
II. Tính chất địa hóa, thành phần khoáng vật
1. Tính chất địa hóa
Sắt là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký
hiệu Fe và số hiệu nguyên tử bằng 26. Nằm ở phân nhóm VIIIB chu kỳ 4. Trọng
lượng nguyên tử 55.85. Sắt có bốn đồng vị tự nhiên ổn định là Fe
54
, Fe
56
, Fe
57

Fe
58
. Sự phổ biến tương đối của các đồng vị sắt trong tự nhiên là: Fe
54
(5,8%),
Fe

56
(91,7%), Fe
57
(2,2%) và Fe
58
(0,3%). Sắt là nhóm ưu đá và ưa lưu huỳnh.
Sắt là một trong 2 kim loại ( nhôm, sắt) phổ biến nhất trong vở Trái Đất, đứng
sau O: 47%; Si: 29.5%; Al: 8.05%. Trị số trung bình (clack) trong vỏ Trái Đất
của sắt là
4.65%.
Trong tự nhiên, sắt chủ yếu tồn tại dưới dạng oxit và alumosilicat. Sắt có
khả năng thay thế đồng hình cho Mn, Ni, Mg, Zn. Sắt hóa trị 3
+
bền vững trong
điều kiện ngoại sinh. Người ta cho rằng trong lòng Trái Đất sắt và niken đi cùng
nhau theo tỷ lệ tương đương thành phần trung bình của sao băng sắt ( Fe: 90%,
Ni: 8.5%, Co: 0.5% và một ít tạp chất khác). Theo tài liệu vật lý thiên văn thì
sắt thuộc những nguyên tố đặc trưng cho toàn vũ trụ.
Trong không khí, sắt bền vững, mặt ngoài của sắt, thép thường bị xốp,
đó là hiện tượng gỉ sắt. Trong thủy quyển, lượng sắt không đáng kể chiếm 5.10
-
6.5
. Thạch quyển lượng sắt chiếm chủ yếu. Sắt liên quan chặt chẽ tới đá mafic và
siêu mafic 8.56%, trong đá trung tính là 8.85%, trong đá axit 2.7%, trong đá
trầm tích 3.33%. Sắt còn tham gia vào mỡ các động vật, thực vật, trong thành
phần máu động vật.
2. Thành phần khoáng vật
Sắt tham gia vào khoảng 300 loại khoáng vật khác nhau, trong đó phải
kể đến các loại như manhetit, hemait, manhezitmahetit inmenit, gơtit …
Manhetit là một khoáng vật sắt từ có công thức hóa học Fe

3
O
4
, một
trong các ôxít sắt và thuộc nhóm spinel do có cấu trúc tinh thể tương đồng.
Manhetit xuất hiện trong các quặng sắt có nguồn gốc khác nhau: nội sinh, ngoại
sinh, và biến chất. Manhetit là khoáng vật có từ tính mạnh nhất trong các
khoáng vật xuất hiện trong thiên nhiên. Manhetit có vai trò quan trọng trong
việc tìm hiểu các điều kiện môi trường hình thành đá. Manhetit phản ứng với
oxy để tạo ra hematit, và cặp khoáng vật hình thành một vùng đệm có thể khống
chế sự phá hủy của ôxy. Các đá mácma thông thường chứa các hạt của 2 dung
dịch rắn, một bên là giữa Manhetit và ulvospinel còn một bên là giữa ilmenit và
hematit. Các thành phần của các cặp đôi khoáng vật được sử dụng để tính sự
ôxy hóa diễn ra như thế nào trong macma (như sự phá hủy của oxy trong
magma): một dãy các điều kiện oxi hóa được tìm thấy trong mácma và trạng
thái oxy hóa giúp xác định làm thế nào máma có thể liên quan đến sự kết tinh
phân đoạn.
Các hạt Manhetit nhỏ có mặt trong hầu đết các đá mácma và các đá
biến chất. Manhetit cũng được tìm thấy trong một số loại đá trầm tích như
trong các thành hệ sắt phân dải. Trong một số đá mácma, các hạt giàu magnetit
và ilmenit xuất hiện ở dạng kết tủa cùng nhau trong mácma. Manhetit cũng
được sản xuất từ peridotit và dunit bằng phương pháp serpentin hóa.
Hematit Fe
2
O
3
chứa 70% Fe và cí các tạp chất tố đồng hình Ti, Mg.
Hematit thành tạo trong điều kiện đầy đủ oxy, gặp trong nhiều loại quặng có
nguồn gốc khác nhau. Trong thiên nhiên gặp loại quặng hematit không bền
vững có từ tính mạnh gọi là machomit, Hematit dạng tấm lớn gọi là speccularit,

dạng vẩy gọi là mica sắt.
Siderit FeCO còn gọi là spat sắt chứa 48.3% Fe thường có mặt các tạp
tố đồng hình như Mg, Mn, Ca và các tạp chất cơ học SiO
2
, Al
2
O
3
Siderit được thành tạo trong điều kện thiếu oxy và thường gặp trong các
mỏ quặng sắt nhiệt dịch, trầm tích, biến chất.
3. Quy mô mỏ
Tùy thuộc vào con số về số lượng trữ lượng tài nguyên trong một mỏ,
người ta phân loại mỏ quy mô như sau: mỏ khổng lồ, mỏ lớn, mỏ vừa và nhỏ.
Bảng dưới đây thể hiện quy mô mỏ sắt ở một số nước trên thế giới.
Bảng Fe -1 : Quy mô mỏ sắt ở một số nước trên thế giới ( nguồn: Theo tài
liệu tổng hợp của Trần Bình Chưa, 1996)
Quy mô mỏ
( tấn)
V.I
Krasninikov,
G.A Gross,
1966
Meloux.
1977( pháp)
Cục ĐC&KS
Việt Nam
1960 ( Nga) ( Canada) 1986
(1) (2) (3) (4) (5)
Khổng lồ n x 10
10

>1 x 10
9
>2 x 10
9
> 10
7
Lớn n x 10
9
2x10
9
-x10
8
5x10
6
-10x10
7
Vừa/trung
bình
n x 10
8
1x10
9
-1x 10
7
5x10
9
-5x10
7
2x10
6

-5x10
6
Nhỏ n x 10
7
<1 x 10
7
5x10
7
-5x10
6
<2 x 10
5
Không có giá
trị độc lập
<n x 10
6
4. Tài nguyên quặng sắt thế giới
Tiềm năng quặng sắt được đánh giá theo loại hình nguồn gốc mỏ ( hay
kiểu nguồn gốc mỏ ) và theo thời đại sinh khoáng.
Mỏ trầm tích và mro trầm tích bị biến chất chiếm 65% trữ lượng tài
nguyên, các mỏ phong hóa chiếm 25%, mỏ magma chiếm 10 %. Các mỏ Tiền
Cambri chiếm 75%, các mỏ thuộc các thời đại khác chỉ chiếm 25%. Các mỏ sắt
phân bố rất không đồng đều trong không gian và thời gian. Trữ lượng quặng sắt
thế giới khoảng 330.000 triệu tấn (2004), trong đó Ucraina 68.000, Nga 56.000
Trung Quốc 46.000 ( bảng Fe -2)
Bảng Fe -2: Tài nguyên quặng sắt thế giới ( Nguồn thống kê sản phẩm
khoáng sản mỹ năm 2004)
Country/ Các nước chủ yếu ReserceBase/Trữ lượngcơsở triệu tấn
Australia 40000
Brazil 19000

Canada 3900
China 46000
India/ Ấn Độ 9800
Iran 2500
Kazakhstan 19000
Mauritania/Moritania 1500
Russia/Nga 56000
South Africa/ Nam Phi 2300
Sweden/ Thụy Điển 7800
Ukraine/Ucrain 68000
USA/ Mỹ 15000
Venezuela 6000
Other Countries/ Các nước khác 30000
World Total/ Tổng toàn thế giới 330000
5. Kinh tế nguyên liệu khoáng
Dựa vào trữ lượng quặng người ta chia ra thành 4 loại:
- Mỏ cực lớn: n.10
10
tấn
- Mỏ lớn : n.10
9
tấn
- Mỏ trung bình ( vừa): n.10
8
tấn
- Mỏ nhỏ: n.10
7
tấn
Dựa vào thành phần khoáng vật người ta chia quặng sắt ra làm 6 loại quặng
sau:

- Quặng manhetit chứa 50 – 60% Fe
- Quặng titanomanhetit chứa 55% Fe
2
O
3
- Quặng hematit và hidrohematit ( quặng sắt đỏ) chứa 50 – 60% Fe
- Quặng sắt nâu 40 – 50% Fe
- Quặng siderit 30 – 35% Fe
- Quặng silicat sắt 25 – 40% Fe
Hiện nay trên thế giới ước đạt trữ lượng quắng sắt đã được thăm dò đạt
185 tỷ tấn, trữ lượng đánh giá chung 350 tỷ tấn. Liên Xô chiếm 1/3 trữ lượng
quặng sắt thăm dò và trữ lượng chung của thế giới.
Hiện nay, có khoảng hơn 40 quốc gia khai thác quặng sắt. Liên Xô là nước khai
thác nhiều quặng sắt nhất thế giới đạt 245 triệu tấn/ năm; sau đó là Braxin 107
triệu tấn, Úc 97 triệu tấn…
Ở Việt Nam quy định mở sắt lớn có trữ lượng là n.10
8
tấn, mỏ vừa n.10
7
tấn, mỏ nhỏ n.10
6
tấn. Hàm lượng SiO
2
+ Al
2
O
3
cao nhất là 25%, hàm lượng P
cao nhất là 0.18%, hàm lượng S, Pb, Zn,As, Cu mỗi nguyên tố cao nhất là 0.1%.
6. Tình hình khai thác quặng sắt ở Việt Nam

Từ năm 1964 đến nay Việt Nam đã khai thác khoảng 8 -10 tấn quặng sắt,
thu được gần 7 triệu tấn tinh quặng. Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên
đang phấu đấu khai thác và tuyển 192.000 tấn quặng sắt (2009).
Hiện tại, công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên có công suất 550.000
tấn thép/ năm. Một số nhà máy cán thép liên doanh với nước ngoài cũng đã đi
vào hoạt động với công suất đến năm 2010 là 8 triệu tấn thép/ năm, Việt Nam
sản xuất 7-8 triệu tấn thép/năm, chủ yếu nguyên liệu là sắt thép phế liệu nhập
ngoại.
Công ty TNHH Khoáng sản và Luyện Kim Việt Trung .Tổng Công ty
thép Việt Nam và Tập đoàn Gang thép Công Gang, Trung Quốc sẽ khai thác 1,5
– 3 triệu tấn quặng/ năm mro Quý Xa, trong vòng 40-50 năm. Trên cơ sở
nguyên liệu quặng sắt mro Quý Xa sẽ xây dựng và vận hành nahf máy gang
thép tại khu công nghiệp Tằng Lổng vào năm 2015 dây chuyền cán thép công
suất 500.000 tấn / năm
Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê ( TiC) với vốn điều lệ 2.400 tỷ đồng ,
Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê ( TiC) với vốn điều lệ 2.400 tỷ đồng , Công ty
khoáng sản & thương mại Hà Tĩnh 24%., Tổng công ty thép Việt Nam 20% đã
làm lễ động thổ, mở vỉa mỏ Thạch Khê ( 8/9/2009). Dự án sẽ khai thác 10 triệu
tấn quặng / năm, vốn đầu tư hơn 650 triệu đô la mỹ. Nhiều dự án nhà máy sản
xuất thép đã và đang ra đời: Nhà máy liên hợp Thép Tycoon 100% vốn của Đài
Loan 2 tỷ đô la mỹ. Dụ án Liên Hợp thép 100% vốn của tập đoàn Thép Posco
( Hàn Qốc) đặt ở Vân Phong công suất dự kiến gian đoạn I là 4 triệu tấn / năm,
dự án Liên hợp thép liên danh Việt Nam – Malaixia tại Ninh Thuận, công suất
dự kiến 4,5 triệu tấn thép/ năm.
Chương II: CÁC LOẠI HÌNH MỎ CÔNG NGHIỆP Ở
VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
1. Mỏ bị biến chất
Kiểu mỏ bị biến chất chiếm phần lớn tài nguyên – trữ lượng và sản lượng
khai thác quặng sắt trên thế giới. Đây là nguồn nguyên liệu rất quan trọng đối
với các nước Oxtraylia, Mỹ, Brazin, Canada, Nga, Ucraina, Trung Quốc,…

Trên thế giới, đây là kiểu mỏ sắt trầm tích bị biến chất, có tên gọi điển hình như
“jaspiliy”, “taconit” hay “itabirit” hoặc “quarzit sắt”. Thực chất thuộc kiểu mỏ
sắt phân lớp, cấu tạo dải, tuổi cổ BIF( tên viết tắt tiếng anh của Bended Iron
Formation) mà bất kỳ nhà địa chất hay nahf khai tahcs đều hiểu. Trước đây, các
nhà địa chất cho rằng chúng được thành tạo trong các bồn trầm tích, bồn trũng
“địa máng” sau đó bị biến chất. Hiện nay, theo “ Sinh khoáng kiến tạo mảng”
hay “ Địa kiến tạo toàn cầu và sinh kháong” các mỏ này được hình thành trong
môi trường rift, sau đó bị biến chất. Các mỏ điển hình gồm Krivoirog ( Ucraina)
Mỏ krivoirog ( hình Fe -1) nằm trong hệ tầng đá phiến kết tinh cổ và đá
granit, migmatit tuổi AR bị vò nhàu uốn nếp tạo thành một hệ phức nếp lõm lớn
và bị đưats gãy mỏng xen kẽ giữa các lớp không quặng và lớp quặng, chiều đà
1-5mm. Các lớp mỏng quặng có thành phần chủ yếu gồm martit, magnetit,
hematit… Các lớp mỏng không quặng có thành phần chủ yếu thạch anh hạt mịn,
có chứa xâm tán martit hoặc magnetit. Hàm lượng sắt trong các lớp chứa quặng
dao đồng từ 25 đến 45%. Trong các lipws chứa quaawngjm có những vỉa quặng
sắt giàu, đặc sit chiếm đến 80% trữ lượng của mỏ. Chiều dài vỉa theo đường
phương từ 100 – 500 đến 1000m, chiều dày dao động từ 10-30 đến 100m, duy
trì đến độ sâu 600-800m, đôi khi hematit, đôi khi martit-hematit. Hàm lượng
các thành phần quặng sắt giàu như sau % 46-48% Fe; 0,05%S; 0,002 – 0,009%
P; 0,45%Mn và < 12% SiO
2
. Tổng tài nguyên trữ lượng mỏ Krivoirog 19 tỷ tấn
quặng, trong đó quặng giàu đã thăm dò đạt hơn 2 tỷ tấn với hàm lượng sắt trong
quặng giàu 46-68%; khai thác hầm lò tới độ sâu hơn 500-700m và tiếp tục tới
100-1200m. Mỏ được bắt đầu khai thác từ năm 1995.
Vùng mỏ dị thường KMA với diện tích hơn 120000km
2
đã được thăm dò
các mỏ giàu sắt: Jacolev, Gostise, Khokholov, Mikhailov và Lebedi. Hàm lượng
sắt trong quặng sắt gaifu như 48-69%; S,P và SiO

2
thấp ở mức cho phép. Trong
quarzit lượng vùng mro dị thường KMA đạt tới 26 tỷ tấn quặng trung bình –
giàu. Tổng tài nguyên dự báo quarzit sắt từ mặt đá kết tinh Tiền Cambry đến độ
sâu 300m xấp xỉ 9000 tỷ tấn ( Hình Fe-1)
Mỏ sắt Hamersley phân bố trong các hệ tầng đá phiến lục kết tinh bị uốn
nếp, có tài nguyên 10 tỷ tấn sắt với hàm lượng 22,5 -30% Fe. Quặng có giá trị
kinh tế ở hiện tại với tối thiểu gần 55% Fe dao động trong khoảng 15 -19,5 tỷ
tấn ( Harmswirth et al.1990). Khoáng vật quặng có t hành phần chủ yếu gồm
martit, magnetit, hematit, hydrohematit. Khoáng vật phi quặng amphibol,
pyroxen, calcit, clorit
Ở Việt Nam, thường quen gọi quặng sắt bị biến chất là “ quarzut sắt” hay
quặng sắt dạng dải. Kiểu mỏ này tập trung chủ yếu trong các vùng và Làng Mỵ
- Hưng Khánh và Tòng Bá. Các thân quặng đa dạng ( vỉa, thấu kính). Chiều dày
không ổn định ( từ 0,3m đến hơn chục mét, trung bình 30-5m), dài từ hàng chục
đến hàng trăm mét, có khi hàng ngàn mét. Khoáng vật quặng gồm magnetit (20-
60%) hematit (2 – 25%) và limonit ( 2-15%0. Khoáng vật phi quặng (KVOQ)
amphibol, pyroxen, calcit, clorit ( Hình Fe-3, Fe-4).
2. Mỏ phong hóa
Mỏ phong hoá được thành tạo do quá trình oxi hoá các mỏ gốc như siderite,
sunfua chứa sắt (pirit, pirotin) và các đá siêu mafie. Sự thành tạo các ddowiss
oxi hoá liên quan chặt chẽ với các thời kỳ phong hoá cổ và phong hoá hiện đại.
Các thành hệ quặng đặc trưng cho mỏ phong hoá là hidrogotit- gotit (quặng sắt
nâu); hidrogotit- mactit. Quặng siderite trong đới oxi hoá chuyển thành hỗn hợp
các khoáng vật hidroxit sắt (gotit-hidrogotit, hidro-hematit, turit) có chứa một ít
khoáng vật canxit. Các khoáng vật thứ yếu có prilomelan và piroluzit, hiếm gặp
hơn là các khoáng vật aragonite, thạch cao, macazit, malachite, azurite, cuprit,
đồng tự sinh đôikhi có seorodit.
Quặng Scano manhetit khi bị oxi hoá sẽ trở thành hidrohematit-mactit, bị phụ
thuộc vào sự phân bố quặng nguyên sinh của khoáng vật silicat và sunfua của

scacno và sau scacno. Điều đó được ghi nhận bằng các khoáng vật nontonit,
haluazit, alofan, bomit, canxit, arogonit, cuprit, covelin, maclachit, azurite,
crisocon, palomelan,
Quặng hidrogotit-gotit tạo đới ocro trên của vỏ phong hoá do hiện tượng
seopentin hoá các khối đá đunit và peridonit, các biến đổi yếu hơn của
secpentinit là siliic hoá, nontronit hoá và cacbonat hoá ( với sự thành tạo
manhetit). Đôi khi gặp chúng dưới dạng liên hợp chuyển tiếp sang quặng trầm
tích với sự lắng đọng các sản phẩm của vỏ phong hoá biển và hồ quặng này có
cấu tạo trứng cá.
Quặng sắt laterit của vỏ phong hoá đá cicumafic chủ yếu là khoáng vật
hidrogotit và các tạp chất canxendon, opan, nontronit, các thể sót tàn dư của
cromspinen, vẩn manhetit. Trong laterit còn gặp một số nguyên tố crom, niken,
coban.
Laterit sắt phát triển ở vùng khiên Braxin, ghine, vùng uốn nếp có tuổi khác
nhau như Uran(Liên Xô), Cuba, Philippin, Indonexia…
Mỏ laterit sawtts-niken Moa và Maiari có nhiều dây phong hoá 5-25m, diện tích
150km
2
, kéo dài không liên tục hàng kilomet. Trữ lượng chung đạt 15 tỷ tấn
(trong đó có 3 tỷ tấn quặng giầu). Quặng thuộc loại hợp kim tự nhiên chứa Cr,
No, Co, Mn; cấu tạo dạng đất. Hàm lượng Sắt đạt 40-50%, Cr
2
O
3
4% (trung
bình 1,5-1,8%) Ni 2,5 % (trung bình 0,7-0,8%), Mn 0,5-2 %, SiO
2
18-30%,
Al
2

O
3
10-12%.
Quặng sắt phong hoá ở Việt Nam phân bố rất rộng rãi và đã khai thác , nhưng
quy mô mỗi mỏ không lớn, chúng là đối tượng khai thác phục vụ cho ngành
luyện kim đen như mỏ sắt Trại Cau, Quang Trung, Linh Nham, Tiến Bộ(Thái
Nguyeen0, Quý Xá( Yên Bái), Mộ Đức( Quảng Ngãi).
Quặng sắt lâu ở vùng Linh Nham- Tiến Bộ phân bố trên diện tích khá rộng,
quặng có hàm lượng sắt khá cao. Dựa vào cấp hàm lượng có thể phân quặng sắt
nâu vùng này ra 3 loại: Quặng loai I có hàm lượng sắt trung bình 52% , hàm
lượng các tạp chất Pb, Zn, As, Cu, Ni, Co (mỗi loại 0,6%), P 0,2%. Quặng loại
II có hàm lượng sắt trung bình 42%. Hàm lượng các tạp chất Pb, Zn, S (mỗi loại
0,15%). Quặng loại III (quặng nghèo) có hàm lượng sắt trung bình 30%. Trong
quặng sắt nâu Linh Nham- Tiến Bộ có hàm lượng mangan khá cao đạt tới 1,2-
3,9%.
Mỏ sắt Quý Xa
Mỏ sắt Quý Xa ( hinh Fe-5) là một mỏ lộ thiên, nằm trọn trên địa bàn xã
Sơn Thủy, huyện Văn Bàn, Tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thành phố tỉnh lị Lào
Cai chừng 70km về hướng Tây Nam, diện tích trên 11.000 ha. Mỏ đượct hăm
dò và phát hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước, nhưng do điều kiện giao
thông đi lại khó khăn, kinh tế đất nước chưa cho phép đầu tư khai thác nên mỏ
mãi chỉ là dạng tiềm năng.
Thân quặng thường dải từ vài chục, vài trăm mét đến hơn 2km rộng từ
100 đến 800m, dày từ vài mét đến 30-40m, cá biệt đến 190m. Khoáng vật quặng
chủ yếu là goethit, hydrohematit, hydrogoethit, ít hematit, magnetit và các
khoáng vật của mangan. Hàm lượng Fe có thể thay dổi từ 30 – 55% ( trung bình
50%). Ngoài ra trong quặng còn có % Mn =1-5; SiO=3-5; Al
2
O
3

=1,75 -3;
CaO=0,25 Pb =0,1; Zn =0,1. Mro có trữ lượng 120 triệu tấn. Quặng sắt nâu có
chất lượng tương đối cao và ổn định. Đến cuối năm 2006, việc quy hoạch đầu tư
mới được Chính phủ phê duyệt vào năm 2007, mro sắt Quý Xa mới đi vào hoạt
động trước sự hợp tác đầu tư khai thác của Tổng công ty thép Việt Nam với tập
đoàn Gang thép Côn Gang ( Trung Quốc). Tổng giá trị đầu tư cả 3 giai đoạn là
175 triệu USD, cho phép khai thác liên tục 40-50 năm; hàm lượng sắt 55%. Mỏ
được khai thác từ quý I/2008, giai đoạn I (2007-2009) có tổng mức đầu tư gần
20 triệu đô la Mỹ ( USD)
3. Mỏ trầm tích
Loại mỏ sắt trầm tích khá phổ biến và có giá trị công nghiệp, chúng có
quy mô lớn, cung cấp 30% sản lượng khai thác quặng sắt cho thế giới (chỉ đứng
sau nhóm mỏ nguồn gốc biến chất).
Mỏ sắt trầm tích được thành tạo trong nhiều thời đại địa chất khác nhau:
Proterozoi ở Liên Xô và Nam Phi; Silua ở Mỹ, Liên Xô, Jula ở Pháp, Đức, Bỉ.
Mỏ sắt trầm tích được thành tạo trong các bồn địa biển hoặc hồ, từ các hợp chất
keo sắt được nước trên mặt mang tới và lắng đọng ở với ven hồ. Tuỳ thuộc vào
thế năng oxi hoá khử (Eh), độ axit hoặc kiềm (PH) của môi trường và nồng độ
CO
2
ở đáy bồn địa sẽ lắng đọng quặng sắt oxit (limolit, gotit, hematite); silicat
(samozit, turingit), hoặc quặng sắt cacbonat (siderit). Cấu tạo đặc trưng của
quặng sắt , nguồn gốc trầm tích là trứng cá, hạt đậu hoặc dạng thân.
Căn cứ vào vị trí cơ chế thành tạo người ta chia mỏ sắt trầm tích ra 2 loai:
mỏ trầm tích biển và mỏ trầm tích lục địa.
a. Mỏ trầm tích biển
Mỏ trầm tích biển có thành hệ soderit dạng vỉa lắng đọng trong trầm tích lục
nguyên- cacbonat biển xuất hiện ở phía tây nam Uran trong nhân nếp lồi cổ
hecxini. Chúng nằm trong các đá trầm tích phiến cacbonat tuổi Proterozoi. Mỏ
điển hình và lớn nhất đó là mỏ baican.

Nhóm mỏ Baican có hơn 200 thân quặng dạng vỉa thấu kính, dạng mạch và
khoáng hoá sunfua nên một số nhà địa chất cho rằng đó là mỏ nhiệt dịch. Tuy
nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đều cho là trầm tích và chỉ ra mối
liên quan cơ bản với quá trình lắng đọng nhiệt dịch muộn hơn.
Nhứng mỏ manhetit trầm tích biển miền địa máng phân bố trong các thành tạo
lục nguyên- cacbonat trong vùng Angara- Bitsco ở bờ phải họ nguồn sông
Angara. Vỉa quặng phân bố trong thành hệ trầm tíc của địa máng Proterozoi
muộn. Loại mỏ này còn gặp ở Linton Apalach (Mỹ), Mali (Châu Phi) và Bắc
Úc.
Quặng Siderit-samozit ở miền nền có cấu tạo hạt đậu và trứng cá phân bố trong
trầm tích lục nguyên –cacbonat tuổi Mezozoi-Kainozoi thuộc bể quặng cát
Kechan, tây Xibia… Thành phần khoáng vật quặng gồm hiddrogotit, hematite,
canozit hoặc siderite.
Mỏ LORANH có diện tích 1100km
2
chủ yếu phân bố ở Pháp và một phần ở
Đức, Bỉ, Lucxembua. Quặng hoá nằm trong lớp cacbonat- cát kết dày 10-60m.
Vùng mỏ có 4-12 thân quặng dạng vỉa , mỗi vỉa dày từ 1-6m nằm xen kẽ với
các lớp phi quặng cũng có độ dày tương tự. Tầng chứa quặng cắm thoải mái về
phía tây, các lỗ khoan đã đạt tới chiều sâu 800m. Vùng mỏ vừa khai thác lộ
thiên vừa khai thác hầm lò, các lò đã khai thác tới độ sâu 200m.
Khoáng vật gồm gotit, samozit, turingit, siderite. Quặng có cấu tạo trứng cá rất
điển hình (kích thước 0.25-1mm). Hàm lượng sắt trung bình 31-36%, P 0,6-
1,8%, Mn 0,5-2%, S 0,01- 0,4%, V 0,1 %. Quặng dùng đẻ luyện trong lò
Tomat. Trữ lượng chung của mỏ là 15 tỷ tấn, trong đó trữ lượng đã thăm dò là 2
tỷ tấn.
b. Mỏ trầm tích lục địa được thành tạo ở các hồ , đầm lầm, tam giá châu , vùng
biển và các thung lũng song. Loai mỏ này thành tạo do sự kết đọng của các hợp
chất keo mang từ lục địa tới, có sự tham gia của axit mùn cây (humit) cùng với
tác động của vi khuẩn và rong tảo. Tuổi thành tạo của loại này khá trẻ từ J- Q.

Quặng thuộc thành hệ siderite- samozit-hidrogotit. Các vỉa quặng kéo dài
khoảng 10km dọc theo lòng sông cổ. Thân quặng có dạng thấu kính, ô van và
những hình dạng khác nhau. Cấu tạo quặng trứng cá hoặc hạt đậ. Khoáng vật
chủ yếu gồm hidrogotit, samozit, siderite; ngoài ra còn có thạch cao, canxi,
ankerit, nhóm khoáng vật sét, hiếm hơn là pirit, macazit, thạch cao, hidroxit-
mangan. Hàm lượng sắt trong quặng thấp 30-35%, P cao gần 0,5%.
Loại hình mỏ sắt trầm tích lục địa phân bố rộng rãi ở nước Nga và có giá trị
công nghiệp.
4. Mỏ Skarn ( hay thường gọi là Scacnơ)
Kiểu mỏ Skarn ( hay loại hình nguồn gốc mỏ skarn) là những mỏ, hoặc
tập hợp các mỏ và điểm quặng sắt được thành tạo ở lân cận tiếp xúc của khối
xâm nhập granitit với các đá trầm tích carbonat hoặc lục nguyên – carbonnat, có
sự tham gia của dung dịch hậu magma. Các mỏ này thường phát triển ở rìa lục
địa và cung đảo, nơi có hoạt động magma mạnh mẽ. Thân quặng chủ yếu tập
trung trong đới ngoại tiếp xúc, cá biệt đôi khi trong đới nội tiếp xúc, có dạng
thấu kinh, thấu kính phức tạp, vỉa hay dạng thau thế trao đổi với kích thuốc khác
nhau. Khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, ít hematit, goethit đôi chỗ có
chalcopyrit, pyrit, galanit, sfalerit. Hàm lượng sắt dao dộng 60 -68%, có khi tới
70%. Điển hình là các mỏ: Núi Quặng, Núi Cao và Núi Blagodat ( Uran, Nga) ;
Mount Iron ( Mỹ), Ba Nat ( Rurmany) Rift ( Maroc), Morning Iron ( Mỹ) và
Thạch Khê ( Việt Nam) vvv
G.Xocolov chia các mỏ skarrn magnetit ra các kiểu sau: Skarn vôi. Skarn
magie, skran vôi – magie, skarn scapolit-albit, magnetit và hematit –solocat
chứa nước. Các khoáng vật của skarn vôi gồm pyroxen, groxule, andradit,
epidot….Các khoáng vật phi quặng thành tạo muộn hơn gồm các mạch thạch
anh và calcit. Hàm lượng sắt trong quặng đạt từ 20 -25% đến 60-70%, trunh
bình 35-45%. Trong số các tạp chất có hại, đáng kể là S: 1-2%. Ngoài ra còn có
một ít nguyên tố Co, Ni, Á, Cu. Quặng được làm giàu tự nhiên kkhi lưu huỳnh
bị rửa trôi, magnetit bị martit hóa, các sulfua bị oxy hóa.
Mỏ biến chất trao đổi thay thế magnetit và hematit silicat ướt phần lớn

thường gặp trong các trường quặng skarn, nhưng hay pphana bố dọc nơi tiếp
xúc của khối xâm nhập. Thành phần khoáng vật của đá biến đổi gồm: epidot,
actinolit đôi khi có albit, granat. Các khoáng vật chứa sắt chủ yếu là magnetit,
một vài trường hợp đặc biệt gặp hematit trong loại sắt ánh thủy tinh
Vùng quặng điển hình là Kusstanai trong đai quặng sắt Turgai dài hơn
600km, rộng 30-80km với hơn 70 mỏ lớn nhỏ khác nhau đã được thăm dò,
trong đó có ba mỏ lớn nhất là Sarbai và Kachar. Mỏ điển hình là Sarbai( hình
Fe-6) được phát hiện từ 1948. Vùng mỏ được chia ra hai khu: Sarna nằm ở phía
tây, Xocon ở phía đông. Chúng được phân cách bở hệ thống đứt gãy phá hủy có
phương Đông Bắc- Tây Nam. Khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, ngoài ra
gặp một ít pyrit, pyrotin sfalerit. Trữ lượng thăm dò của mỏ đạt 1,5 tỷ tấn quặng
với hàm lượng trung bình Fe 45%, S: 3,85%; P 0,129%. Trong quặng magnetit
giàu, hàm lượng sắt trunh bình 54,7% cao nhất tới 65-70%. Tổng tài nguyên trữ
lượng mỏ Kusstanai 4 tỷ tấn quặng sắt. mỏ được khai thác lộ thiên
Ở Việt Nam điển hình cho kiểu mỏ này là mỏ Thạch Khê, sau đó là các
mỏ ở Cao Bằng ( Bản Lũng, Nà Rụa ) Có thể kể đến điểm quặng Nâm Mít, Nà
Mon, Ma Lu Thang Nà Lốc……Mỏ Thạch Khê cách thành phố Vinh 55km về
phía Nam, cách thị xã Hà tĩnh 8km. Mỏ sắt thạch Khê được phát hiện vào năm
1960 – 1962 bằng phương pháp đo từ hàng khhoong và từ 1975 đến 1985 được
tìm kiếm thăm dò liên tục và thập niên 90 được các công ty nước ngoài nghiên
cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi.
Mỏ Thạch Khê hình Fe-7 nằm trong phạm vi ba xã Thạch Khê, Thạch Trị,
Thạch Hải nhưng có diện tích khoảng 2,6km
2
, dài 3,2 km theo chiều bắc Nam
5. Mỏ macma thực sự
Có thành hệ titanmanhetit liên quan chặt chẽ về không gian và nguồn gốc
với các đá gabro piroxentit, anoctozit và gabro-dicba. Thân quặng tập trung
thành đới xâm tán, dạng mạch dạng ổ và thấu kính. Khoáng vật chủ yếu là
manhetit và inmenit, đôi khi lẫn lộn ít sunfua (bocnitchancopirit). Cromitva

hiếm hơn là bạch kim và paladin. Quặng có kiến trúc Sideronit (quặng là xi
măng gắn kết các khoáng vật alivin và piroxen thành tạo trước) và kiến trúc
phân huỷ dung dịch cứng của inmein trong manhetit. Hàm lượng sắt trong
quặng này khá cao tới 50-55%, Ti 8-12%, V 0,5-1%. Loại mỏ nỳ gặp ở sườn
đông Uran( Liên Xô), nam Thuỵ Điển , ở Na uy, Mỹ, Canada, Nam Phi, Ấn Độ
với các quy mô từ nhỏ đến lớn và cực lớn. Tuy vậy tổng sản lượng khai thác của
loại quặng này chiếm tỷ lệ không lớn so với sản lượng quặng sắt khai thác trên
thế giới. Nhưng cần chú ý là loại quặng này thường chứa vanadi có chất lượng
tốt.
Mỏ KACHCANA ( Uran- Liên Xô) nằm trong khối xâm nhập sâu với
diện tích lộ gần 110 km
2
được chia thành 2 phân khu: Kachcana ở phía Tây và
gusevogo ở phía Đông. Phân khu Kachcana kéo dài 5,5 km, rộng 3,2 km, phân
khu gusevogorsco dài 8,5km, rộng 1-4km, quặng phân bố đến chiều sâu 600m.
Khaongs vật quặng chủ yếu titannomanhetit, trong đó inmenit chiếm 2-18% hợp
chất có lợi là vanadi. Các khoáng vật thứ yếu là pirit, protin, hiếm gặp hơn là
chancopirit, penlandit, bocnit và các khoáng vật nhpm Pt và Pt tự sinh. Các
khoáng vật phi quặng thường gặp là piroxin, amfibon là clorit và biotit. Hàm
lượng sắt thấp 15-18%, thường vắng mặt P và S. Trong quá trình luyện kim còn
nhận được một lượng vanadi không nhỏ. Trữ lượng mỏ gusevogoraco 3,5 tỷ tấn,
mỏ cachcanagan 2,6 tỷ tấn. Hàm lượng sắt trung bình trong quặng 16,6%.
Ở Việt Nam có mỏ inmenit Cây Châm ( Thái Nguyên). Mỏ titan Cây
Châm nằm cạnh đường quốc lộ số 3 cách thành phố Thái Nguyên 22km về phía
Tây Bắc. Quặng hoá liên quan với khối gabronit. Núi Chúa có diện tích 55km
2
.
Thành phần đá gồm gabroolivin, gabrodiaba không chứa olivine và
gabropesmatit. Có 2 thân quặng nằm trong các thể gabrope , cmatit hạt lớn và
rất lớn. Thân quặng phía Đông kéo dài 760m, theo hướng dốc 450m, chiều dầy

thay đổi 5-85m. Hàm lượng inmenit 10-20% thuộc loại quặng nghèo.
Thân quặng phía Tây bị đứt gãy chia 2 khối. Khối Bắc dài 210m, cắm
sâu 150m, dầy 5-30m; khối Nam dài 450m, cắm sâu gần 200m, dầy nhất 25m.
Khoáng vật quặng chủ yếu là inmentit, thứ yếu là pirotin, rutin đôi khi có pirit,
chancopirit henatit, hiếm hơn có monicovit, macazit, manhetit. Khoáng vật phi
quặng có piroxen, amfibon, biotit, clorit, thạch anh. Quặng ở mở này phân ra 3
loại: quặng giàu hàm lượng inmenit 30-70%, quặng trung bình 20-30%, quặng
nghèo 10-20% inmenit.
6. Mỏ cacbonattit
Có 2 thành hệ quặng; peropskit-titanomanhetit và apatit-manhetit trong
đá xâm nhập siêu mafia kiềm kiểu trung tâm. Loại mỏ này gặp ở khiên Bantich,
nền Xibia (Liên Xô), Uganda, Zimbabue, Nam Phi (khiên Châu Phi).
Khoáng vật trong quặng là titanmahetit và peropskit chủ yếu tập trung ở
phần trung tâm khối xâm nhập. Sự phát triển của cacbonatit-focterit, flogopit-
focterit, apatit-canxit và canxit được thành tạo trong xâm nhập siêu mafia kiềm.
Các thân quặng sắt được biểu hiện trong các khối xâm tán dầy của apatit-
focterit; trong các mạch và mạng mạch có xâm tán thưa các khoáng vật piroclo
và badeleit.
Nguồn macma và những tác dụng biến đổi muộn hơn của mỏ
titanmanhetit-peropskit trong các xâm nhập có lẽ do sự cải biến đá siêu mafic và
sự phát triển yếu ớt cacbonatit. Mỏ apatit- manhetit trong các đá xâm nhập với
sự phát sinh khối lượng lớn cacbonat được nhiều nhà nghiên cứu liệt vào các
thành tạo biến chất trao đổi. Mỏ COVADOR ở vùng Kirov (Liên Xô) liên quan
tới khối siêu mafic kiềm có diện tích 40km
2
. Khối xâm nhập này được biểu hiện
bằng nhiều pha xâm nhập kiểu trung tâm. Thành phần thạch học đa dạng gồm;
alivinit, iiolit, menteigit, sienit nefenit và các tập hợp biến chất trao đổi silicat
và cacbonatit. Thân quặng kéo dài 1,3km, rộng 100-800m nằm trong iiolit,
piroxenit.Thân quặng duy trì theo hướng cắm 1200m với góc dốc 70-90

o
.
Ngoài manhetit, các khoáng vật quặng gặp với hàm lượng không đáng kể
có pirotin, chancopirit, pirit, macazit, inmenit; khoáng vật phi quặng có divin,
apatit , canxit , spinen.
Quặng chứa hàm lượng Fe 27,5% , MgO 14% , CaO 11%, P 2,9%, S
0,3%. Trữ lượng quặng manhetit đã thăm dò là 700 triệu tấn. Ngoài ra từ quặng
manhetit của mỏ này còn thu được lượng apatit và badeleit khá lớn.
7. Mỏ nhiệt dịch
Kiểu mỏ nhiệt dịch hay loại hình nguồn gốc nhiệt dịch của quặng sắt ít
phổ biến, quy mô nhỏ, chủ yếu gặp ở Nga, một ít ở Nam phi và Angeri… Mỏ
nhiệt dịch và nhiệt dịch phun trào có 2 kiểu quặng . kiểu manhetit
(manhegiferit: Mg chiếm ưu thế hơn Fe)- xuất hiện ở nhiều nơi trong vùng nền
Xibia (Liên Xô). Kiểu này liên quan chặt chẽ với các đá gabro diaba. Thuộc
thành hệ đá torap phát triển trong nền hoạt hoá. Các thân quặng phân bố dọc
theo đới phá huỷ, trong phạm vi các họng núi lửa thì phát triển quặng thay thế
trao đổi dưới dạng dăm kết và xâm tán. Các thân quặng có hiện tượng phân
nhánh, dạng răng lược, bướu, dạng vòm, mạng mạch với kích thước rất khác
nhau, kéo dài hàng trăm mét hoặc có khi 1-2km, chiều dày 2-3cm đến 5-6m.
Thân quặng dạng mạch phát triển theo chiều sâu 500m, cắm dốc 50-60
o
. Các
khoáng vật quặng chủ yếu là manhetit chứa Mg, hemantit; thứ yếu là pirit và
chancopirit; các khoáng vật phi quặng gồm canxit, cloxi, thạch anh, clopatit
( Hàm lượng 18-23% FeO, 5-8% MgO). Trong quặng đặc sét hàm lượng sắt đạt
4,8-60%, S 0,02- 0,48%, P 0,1% chứa apatit. Trong quặng xâm tán Fe 27-36%,
quặng thuộc loại dễ làm giàu. Trữ lượng mỏ điển hình Cosunovsco đã thăm dò
đạt 280 triệu tấn.
Kiểu quặng siderite nằm trong các lớp hoặc khe nứt của đá cacbonat dưới
dạng thay thế trao đổi. Thân quặng có dạng vỉa , thấu kính mạch, mạng mạch

phức tạp. Khoáng vật quặng gồm siderite chứa mangan lẫn một ít manhetit ,
ngoài ra còn có barit, pirit , chanopirit, sfaletit, galeint. Hàm lượng sắt trong
quặng đạt 27-40%, trung bình 32%, Mn 1-3%, S 1,7%, P 0,05- 0,1%. Quặng
siderite bị oxi hoá chứa 30-60% Fe, 2%Mn, còn các tạp chất P, S rất thấp.
Vấn đề nguồn gốc mỏ siderite còn nhiều ý kiến khác nhau. Nhiều người
cho rằng chúng thuộc loại nhiệt dịch nhiệt đọ trung bình hoặc viễn nhiệt liên
quan tới macma axit nằm dưới sâu. Họ chứng minh luận điểm các thân quặng
nằm kề các đứt gãy khống chế các quặng , trong quặng còn giữ lại dạng cấu tạo
của đá vôi dolomite; siderite giả hình theo các rong biểu, gặp những mảnh đá
vôi chưa bị thay thế. Hàm lượng P trong quặng thấp, hàm lương S cao.
Có ý kiến khác cho rằng mỏ siderit có nguồn gốc trầm tích hoá học
ccbonat chứa sắt hoặc do biến đổi bùn vôi dưới tác dụng của các hợp chất sắt
trong nước biển. Quan điểm này dựa vào các thân quặng siderite có dạng vỉa
nằm xen kẽ với các lớp dolemit và đôi khi với quaczit.
Ở Việt Nam, kiểu mỏ nhiệt dịch gặp ở Tây Bắc Bộ,kiểu quặng magnetit:
Bản Vược, Minh Lương – Lào Cai, kiểu quặng hematit: Làng Khuân, Suối
Yong, Làng Phát, Xuân Giang, Thụy Cuông, Cây Mít – Yên Bái và Đồng Mu,
Núi dương, Xóm Trại – Phú Thọ và kiểu quặng siderit gặp ở ĐÔng Bắc Bắc Bộ
điểm quặng Bản Phẳng- Bắc Kan….
Quặng siderite nguyên sinh ở vùng Linh Nham- tiến bộ có thể xếp vào
nguồn gốc nhiệt dịch vì thân quặng có dạng vỉa thấu kính thay thế đá vôi sét,
vôi tuổi Devon trung. Khoáng vật quặng chủ yếu là siderite, hiếm hơn co pirit,
sfalerit, canxit. Hàm lượng sắt trong quặng siderite trung bình 30%, Mn 1,5-
3,8%. Các nguyên tố khác Pb, Zn, S từ 1-5% ( mỗi loại). Hầu hết các thân
quặng siderite nguyên sinh đã bị oxi hoá và biến thành limonit có hàm lượng rất
cao.
Ngoài ra còn gặp các điểm quặng sắt siderite ở Bản Pháng (Bắc Cạn) cũng có
thể xếp vào loại hình nhiệt dịch nhiệt độ trung bình.
Chương III. SẮT Ở VIỆT NAM
1. Tiềm năng quặng sắt ở Việt Nam

Trên lãnh thổ Việt Nam, các điểm và mỏ quặng sắt phân bố rộng rãi từ
Bắc bộ đến Nam Trung Bộ. Những mỏ đạt trữ lượng công nghiệp không nhiều
và tập trung ở Bắc Bộ, Bắc trung Bộ trong vùng : Hà Tĩnh, Thái Nguyên. Lào
Cai, Hà Giang, Cao Bằng và Yên Bái. Tổng tài nguyên – trữ lượng quặng sắt ở
Việt Nam khoảng 3509,08 triệu tấn trong đó trữ lượng thăm dò các cấp cũ là 1,5
đến 1,8 tỉ tấn. Chất lượng quặng sắt rất khác nhau và nói chung chưa qua giai
đoạn nghiên cứu mẫu công nghệ cũng như đánh giá kinh tê.
a) Vùng mỏ Hà Tĩnh
Vùng mỏ sắt chủ yếu phân bố ở ba xã Thạch Khê – Thạch Hải – Thạch
Trị huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, với tên gọi mỏ sắt Thạch Khê có tài nguyên
– trữ lượng lớn nhất. Thành phần quặng chủ yếu là hematit, magnetit, siderit.
Hàm lượng sắt trong quặng đạt từ 60-65%. Mỏ Thạch Khê đã được t hăm dò,
đánh giá đạt tổng tài nguyên trữ lượng 544 triệu tấn quặng theo cấp cũ
b) Vùng mỏ Lào Cai – Yên Bái: Quặng có nguồn g ốc phong hóa, cát đá giàu
sắt, được thành tạo trong thời gian Mezozoi – Kainozoi. Thân quặng nằm dạng
giả lớp, giả tầng, ổ hoặc thấu kính. Thành phần quặng chủ yếu là Goethit và
limonit. Hàm lượng sắt trong quặng thay đổi từ 20 -56%. Ngoài ra trong khu
vực có nguồn gốc biến chất và nhiệt dịch, trong đó đáng quan tâm là Làng Mỵ -
Hưng KHánh Tổng tài nguyên trữ lượng khoảng gần 300 triệu tấn quặng.
c) Vùng mỏ Thái Nguyên: Phân bố chủ yếu ở Trại Cau và một số nơi khác
trong khu vực tỉnh Thái Nguyên. Quặng gồm hai nguồn gốc. Nhiệt dịch xâm
nhập và sản phẩm phong hóa, được hình thành trong thời gian Mezozoi –
kainozoi . Quặng nguồn gốc nhiệt xâm nhập ở dạng ổ, dạng mạch, thành phần
chủ yếu là hematit, magnetit. Quặng có nguồn gốc dạng phong hóa lớp, dạng
vỉa với t hành phần chủ yếu là limonit, goethit. Khu vực sắt ở Thái Nguyên đã
được thăm dò khai thác phục vụ cho khu liên hợp Gang thép Thái Nguyên từ
năm 1962 với toorg tài nguyên trữ lượng khoảng 100 triệu tấn.
d) Vũng mỏ Cao Bằng: Quặng có nhiều nguồn gốc trao đổi được hình thành
trong thời gian Paleozoi muộn – mezozoi sơm. Thân quặng có dạng ổ, thấu kính
nằm trong đá biến chất. Thành phần quặng chủ yếu là magnetit, hematit với

hàm lượng sắt thay đổi từ 20 -60% với tổng tài nguyên trữ lượng gần 80-100
triệu tấn quặng
e) Vùng mỏ Hà Giang: với nhiều nguồn gốc khác nhau, được hình thành trong
thời gian Mezozoi – Kainozoi. Thân quặng nằm trong đá phun trào bị biến chất,
dạng vỉa, thấu kính. Thành phần chru yếu là magnetit, siiderit, hematit, có hàm
lượng Fe từ 20 -40%, SiO
2
và S cao. Tổng tài nguyên trữ lượng khoảng 60-100
triệu t ấn quặng được đánh giá công tác tìm kiếm thăm dò
Vùng trung Bộ và Tây Nguyên: chủ yếu là các điểm quặng hoặc mỏ sắt
nhỏ có nguồn gốc phong hóa kiểu laterit sắt phân bố ở Đak tô – Kon Tum,
Quảng Ngãi….Nhìn chung có quy mô nhỏ, chất lượng quặng thấp và có thể coi
là quặng sắt của tương lai.
2. Mô tả mỏ sắt Thạch Khê – Hà Tĩnh
Vùng mỏ sắt chủ yếu phân bố ở ba xã Thạch Khê – Thạch Hải – Thạch
Trị huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, với tên gọi mỏ sắt Thạch Khê có tài nguyên
– trữ lượng lớn nhất. Thành phần quặng chủ yếu là hematit, magnetit, siderit.
Hàm lượng sắt trong quặng đạt từ 60-65%. Mỏ Thạch Khê đã được t hăm dò,
đánh giá đạt tổng tài nguyên trữ lượng 544 triệu tấn quặng theo cấp cũ
a. Sơ lược đặc điểm địa chất

×