Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại nhno&ptnt huyện nga sơn tỉnh thanh hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (323.69 KB, 50 trang )

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Ch ng 2ươ 14
Th c tr ng cho vay h s n xu t c a nhno&ptnt ự ạ ộ ả ấ ủ
huy n ệ 14
Danh mục từ viết tắt
NHTM: Ng©n hµng th¬ng m¹i
NHNN: Ng©n hµng nhµ níc
NHNo&PTNT: Ng©n hµng n«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n
NH: Ng©n hµng
CNTD: C¸n bé tÝn dông
HSX: Hé s¶n xuÊt
TDNH: TÝn dông ng©n hµng
SXKD: S¶n xuÊt kinh doanh
KTXH: Kinh tÕ x· héi
UBND: ủy ban nhân dân
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
Luận văn tốt nghiệp
lời nói đầu
Cùng với sự nghiệp đổi mới nói chung của đất nước, hoạt động ngân
hàng của Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều thay đổi và đạt được
những kết quả quan trọng, góp phần xứng đáng vào kết quả đổi mới chung
của đất nước mà nét nổi bật là đã góp phần đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới với chủ trương lấy hộ gia đình nông dân là đơn
vị sản xuất cơ bản, việc mở rộng sản xuất kinh doanh hàng hoá trong nông
nghiệp nông thôn ngày càng được quan tâm và phát triển. Song một vấn đề
đặt ra đó là nguồn vốn để đầu tư phát triển cho kinh tế hộ sản xuất. Các hộ
sản xuất có rất nhiều tiềm năng để phát triển nhưng vốn tự có quá nhỏ bé.
Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế luôn là một yêu cầu bức bách và ngân


hàng được xem là một trong những kênh quan trọng, góp phần to lớn trong
việc đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất. Kinh tế hộ phát triển góp phần làm
giảm hộ nghèo tăng hộ giàu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông nghiệp nông
thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông - Lâm - Ngư - Diêm nghiệp,
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
Trong những năm qua NHNo&PTNT Việt Nam đã không ngừng mở
rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trong thị trường nông thôn, bước đầu
đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Tuy nhiên công
tác cho vay hộ sản xuất đang đặt ra những vấn đề cần tiếp tục được nghiên
cứu và giải quyết. Tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Nga Sơn hoạt động
cho vay hộ sản xuất chiếm khoảng 92% trong tổng dư nợ của chi nhánh, vì
vậy việc nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất là một vấn đề hết sức quan
trọng cần đi sâu nghiên cứu.
Xuất phát từ những lý do trên, trong thời gian thực tập tại chi nhánh
NHNo& PTNT huyện Nga Sơn em chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
Luận văn tốt nghiệp
nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Nga Sơn
tỉnh Thanh Hoá” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo kết cấu ba
chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về TDNH và vai trò TDNH đối với
kinh tế hộ sản xuất của NHTM
Chương 2: Thực trạng cho vay hộ sản xuất ở NHNo&PTNT huyện Nga Sơn.
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản
xuất ở NHNo&PTNT Nga Sơn.
Do thời gian thực tập còn hạn chế, sự hiểu biết về thực tế cũng chưa
nhiều, thêm sự hạn hẹp về kiến thức nên luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo, các cán bộ ngân hàng và các bạn có quan tâm đến vấn đề này để bài luận

văn được hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của các
thầy cô trong khoa Tài chính, ĐH Kinh doanh và công nghệ Hà nội; đặc biệt
là thầy giáo PGS; TS Lờ Văn Hưng, thầy đã trực tiếp hướng dẫn em và ban
Giám đốc, các phòng chức năng trong chi nhánh NHNo&PTNT huyện Nga
Sơn đã giúp đỡ em rất nhiều để hoàn thành bài luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TíN DụNG
NGÂN HàNG VÀ VAI TRÒ TíN DụNG NG¢N HµNG
ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT
1.1 Kinh tế hộ sản xuất và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm về kinh tế hộ sản xuất.
Kinh tế hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tế, là đơn vị kinh tế cơ
sở, có quyền tự chủ SXKD trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, vừa có
những đặc trưng của một đơn vị kinh tế vừa có đặc trưng của một hộ gia đình.
Với tư cách là hộ gia đình nên các thành viên tham gia sản xuất là những
người có quan hệ với nhau về hôn nhân và huyết thống, họ sống chung, có
chung một nguồn thu nhập. Là đơn vị kinh tế gắn với từng hộ gia đình nên
người chủ gia đình có chức năng nuôi dạy và giáo dục con cái để tạo sức lao
động tương lai.
Với tư cách là đơn vị kinh tế, kinh tế HSX cũng giống nh các đơn vị
kinh tế khác là thực hiện quá trình SXKD và người chủ gia đình phải thực
hiện chức năng quản lý SXKD đồng thời trực tiếp tham gia sản xuất.
ở nước ta hiện nay, kinh tế HSX ngày càng khẳng định vị trí của nó
trong sản xuất nông nghiệp, trở thành hình thức tổ chức sản xuất cơ bản, có
hiệu quả cao trong nông nghiệp. Với đặc trưng là quy mô sản xuất nhỏ, số
thành viên nhất định và có quan hệ mật thiết với nhau, cùng với sự tự giác, sự

nhanh nhạy trước các diễn biến thị trường, mạnh dạn đầu tư vốn, tiến bộ khoa
học kỹ thuật kinh tế HSX đang thực sự làm ăn có hiệu quả, tạo ra bước
chuyển biến lớn trong nông nghiệp nông thôn Việt Nam.
1.1.2. Những đặc điểm của kinh tế hộ sản xuất.
Thứ nhất, kinh tế HSX có sự thống nhất giữa quyền sở hữu và quyền sử
dụng các tư liệu sản xuất, có sự thống nhất giữa quản lý và lao động trực tiếp.
Khác với hình thức tổ chức kinh tế khác trong kinh tế HSX các thành viên
thường có mối quan hệ với nhau về mặt hôn nhân và huyết thống do đó trong kinh
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
1
Luận văn tốt nghiệp
tế HSX có sự thống nhất giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng các tư liệu sản xuất,
có sự thống nhất giữa quản lý và lao động trực tiếp. Các thành viên trong gia đình
đều tham gia vào toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất trên hai cương vị kiểm
tra và giám sát chính, theo đó đã tạo ra ý thức trách nhiệm cao của từng thành viên
đối với tất cả các khâu cũng như kết quả cuối cùng.
Thứ hai, kinh tế HSX có khả năng tự điều chỉnh cao và rất linh hoạt.
Các mối quan hệ chặt chẽ và bền vững giữa các thành viên trong HSX hầu
như không có sự đối lập về mặt lợi ích, lợi ích của từng cá nhân hoà chung trong
lợi ích của toàn gia đình, mọi người làm việc vì lợi ích chung, thế hệ trước vì thế
hệ sau. Vì một mục đích chung rõ ràng nên khi có nhu cầu tập trung đầu tư vốn
mở rộng sản xuất thì tiêu dùng trong hộ gia đình có thể thu hẹp lại. Trường hợp
kinh doanh bị thua thiệt hộ gia đình có thể tăng chi phí lao động của mình lên
hoặc hạ thấp nhu cầu của mình xuống. Sự linh hoạt của kinh tế hộ còn được thể
hiện trong việc chuyển mục tiêu SXKD, thích ứng với điều kiện sản xuất, điều
kiện thị trường một cách nhanh nhất vì vậy kinh tế HSX có khả năng cạnh tranh
tương đối cao so với các hình thức tổ chức kinh tế khác không có đặc điểm này.
1.1.3. Phân loại hộ sản xuất.
Các HSX dù hoạt động trong lĩnh vực nào (nông, lâm, ngư, diêm
nghiệp) cũng có những đặc trưng phụ thuộc vào trình độ SXKD, khả năng kỹ

thuật, quyền làm chủ tư liệu sản xuất, và mức độ vốn đầu tư của mỗi hộ gia
đình. Việc phân loại HSX có căn cứ, khoa học sẽ tao điều kiện để xây dựng
các chính sách tín dụng phù hợp nhằm đầu tư mang lại có hiệu quả.
* Dựa trên tính chất đa dạng hoá sản xuất, HSX được chia thành ba nhóm:
- Nhóm hộ sản xuất thuần nông.
- Nhóm hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp.
- Nhóm hộ sản xuất phi nông nghiệp.
* Dựa trên mức thu nhập hàng năm, HSX được chia thành ba nhóm:
- Nhóm hộ sản xuất có mức thu nhập cao.
- Nhóm hộ sản xuất có mức thu nhập trung bình.
- Nhóm hộ sản xuất có mức thu nhập thấp.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
2
Luận văn tốt nghiệp
Từ các cách phân loại này có thể đưa ra nhiều gợi ý về chính sách nhằm
tạo điều kiện cho HSX phát triển, nâng cao thu nhập và đời sống. Các NH có
được căn cứ cho việc đầu tư tín dụng của mình đúng hướng, đúng vị trí để
đồng vốn đầu tư ra có hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao đời sống cho
nhân dân, tăng thêm sản phẩm cho xã hội.
1.1.4. Vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
1.1.4.1 Kinh tế hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao
động, giải quyết việc làm ở nông thôn.
Hiện nay, ở nước ta tuy lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp
chiếm phần lớn nhưng quỹ thời gian của người lao động ở nông thôn chưa
được sử dụng hết. Do sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở
nông thôn nên hiệu quả kinh tế thấp. Nhằm sử dụng hợp lý nguồn lao động,
giải quyết việc làm ở nông thôn, Đảng và Nhà nước ta đã khuyến khích phát
triển kinh tế hộ gia đình.
Mặt khác, do quy mô sản xuất nhỏ, mức đầu tư cho một lao động trong
kinh tế HSX thấp nên chi phí cho một lao động trong HSX là ít tốn kém. Nước ta

là một nước đang phát triển, vốn tích luỹ còn thấp thì càng khẳng định kinh tế
HSX là một hình thức tổ chức kinh tế phù hợp góp phần giải quyết công ăn viªc
làm, giảm tệ nạn xã hội, nâng cao thu nhập cho người lao động.
1.1.4.2 Kinh tế hộ sản xuất thúc đẩy sự phân công lao động dÉn tới chuyên
môn hoá, tạo khả năng hợp tác trên cơ sở cùng có lợi.
Kinh tế HSX đã từng bước tạo sự chuyển dịch cơ cấu nông thôn, củng cố
quan hệ sản xuất, tăng cường lực lượng sản xuất tạo sự phân công lao động trong
nông thôn từ nền sản xuất thuần nông, lạc hậu sang nền sản xuất hàng hoá phát
triển. Từ sự phân công lao động dẫn đến quá trình chuyên môn hoá trong các
HSX. Để quá trình chuyên môn hoá đạt hiệu quả cao thì một yêu cầu tất yếu sẽ
xuất hiện đó là sự hợp tác lao động giữa các HSX với nhau. Nếu như chuyên môn
hoá làm cho năng suất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn thì hợp tác
hoá sẽ làm cho quá trình sản xuất hàng hoá được hoàn thiện đáp ứng đầy đủ các
nhu cầu của chính các HSX và từ đó đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
3
Luận văn tốt nghiệp
1.1.4.3 Kinh tế hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc
đẩy sản xuất hàng hoá phát triển.
Ngày nay, HSX hoạt động trong cơ chế thị trường có sự tự do cạnh
tranh, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các HSX được hoàn toàn quyết định
trong việc hạch toán kinh tế, đề ra mục tiêu SXKD của mình nhằm mục tiêu
cuối cùng là thu được lợi nhuận cao. Điều đó đòi hỏi sự không ngừng phải
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm bằng việc tăng cường đầu tư, mạnh
dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào SXKD.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động HSX có thể dễ
dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường. Được Đảng và Nhà
nước có các chính sách khuyến khích hỗ trợ, HSX không ngừng vươn lên tự
khẳng định vị trí trên thị trường, tạo điều kiện cho thị trường phát triển đầy đủ,
đa dạng, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hoá phát triển cao hơn.

1.2. TDNH với việc đầu tư vốn cho phát triển kinh tế hộ sản xuất.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm vỊ TDNH
1.2.1.1 Khái niệm
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ảnh mối quan hệ giao dịch giữa
hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia
được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được cam kết
hoàn trả theo thời hạn đã thỏa thuận
Quá trình vận động của tín dụng được thể hiện theo sơ đồ sau:
(1) Cho vay
Người cho vay
(Người sở hữu vốn)
Người đi vay
(Người sử dụng vốn)
(2) Trả nợ
Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:
Một là: Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị
nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật
như: hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
4
Luận văn tốt nghiệp
Hai là: Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất
định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả
cho người cho vay
Ba là: Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị cho vay ban đầu hay
nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).
Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ảnh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn
nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả vốn lẫn lãi.
Căn cứ vào chủ thể tín dụng, tín dụng được chia thành:
- Tín dụng thương mại

- Tín dụng ngân hàng
- Tín dụng Nhà nước
Trong đó,TDNH là một hình thức phát triển cao của quan hệ tín dụng.
TDNH là quan hệ tín dụng giữa một bên là NH và bên kia là các tác
nhân (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội…) trong nền kinh tế quốc dân.
Trong hình thức này, NH xuất hiện với vai trò vừa là người đi vay, vừa là
người cho vay.
Nền kinh tế càng phát triển thì khối lượng TDNH được thực hiện càng
lớn và chiếm tư trọng lớn nhất trong tổng khối lượng tín dụng được thực hiện
trong nền kinh tế. Sở dĩ nh vậy là do TDNH đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế thị trường đối với lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hoá
cũng nh lĩnh vực lưu thông tiền tệ.
1.2.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: huy động vốn và cho vay được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tiền
tệ.
Tất cả những nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế quốc dân được
NH huy động để hình thành nguồn vốn cho vay. Trên cơ sở nguồn vốn đã có,
NH cho vay đối với các tác nhân cần vốn cho SXKD hoặc tiêu dùng. Cả hai
mặt hoạt động huy động vốn và cho vay đều được thực hiện chủ yếu dưới
hình thức tiền tệ. Đây là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng nhu
cầu tín dụng cho mọi khách hàng.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
5
Luận văn tốt nghiệp
Thứ hai: các NH đóng vai trò là tổ chức trung gian tín dụng.
Khi huy động vốn trong nền kinh tế, NH sử dụng nhiều hình thức thu hút
tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, hoặc phát hành các loại giấy nhận nợ (kỳ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi…) ngắn hạn cũng như trung và dài hạn,
vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Khi sử dụng vốn, NH chủ yếu áp

dụng các hình thức cấp tín dụng theo tài khoản cho vay, gửi vốn tại các NH
khác, đầu tư… để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khánh hàng.
Thứ ba: quá trình vận động và phát triển của TDNH độc lập tương đối
với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội.
Vốn TDNH là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình tái sản
xuất xã hội. Khối lượng hàng hoá sản xuất và lưu thông tăng lên thì nhu cầu
vốn TDNH cũng tăng lên. Trường hợp này vốn TDNH vận động phù hợp với
sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh đó, cũng
có những trường hợp vốn TDNH lại vận động mang tính chất độc lập tương
đối so với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá trong xã hội.
1.2.2 Vai trò của TDNH đối với việc phát triển kinh tế HSX.
Cùng với đổi mới của nền kinh tế, hoạt động TDNH cũng không ngừng
được phát triển và hoàn thiện nó là công cụ để kích thích nền kinh tế, kiềm
chế và đẩy lùi lạm phát. Vai trò của TDNH trong việc phát triển kinh tế HSX
được thể hiện nh sau:
1.2.1.1. TDNH đáp ứng nhu cầu vốn cho HSX để duy trì quá trình sản xuất
liên tục góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ đặc điểm và vai trò của HSX, thấy khu vực kinh tế này có
một tiềm năng rất lớn. Tuy nhiên, vốn của họ thường nhỏ, phần lớn là họ thiếu
vốn, thiếu tư liệu sản xuất, đặc biệt là khi chưa thu hoạch sản phẩm, thì chưa có
hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập trong khi họ vẫn cần tiền để trang trải các
khoản chi phí sản xuất và các khoản chi phí khác. Khi đó các HSX cần có sự
hỗ trợ của nhà nước, cần có sự hỗ trợ của TDNH để có đủ vốn duy trì sản xuất
được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các HSX đã mạnh dạn đưa tiến bộ khoa
học kỹ thuật, sử dụng các nguồn nhân lực sẵn có để tạo ra sản phẩm cho xã hội,
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
6
Luận văn tốt nghiệp
thúc đẩy việc sắp xếp lại tổ chức sản xuất, làm tăng chất lượng sản phẩm làm
ra, tăng thu nhập và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho mọi người.

Có thể khẳng định rằng TDNH có vai trò rất quan trọng trong việc đáp
ứng vốn cho HSX, đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn. Nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất là rất cần thiết
và rất lớn, khu vực nông thôn trở thành một thị trường lớn của TDNH.
1.2.1.2. TDNH góp phần phát triển kinh tế nông thôn một cách toàn diện.
Thông qua các chính sách ưu đãi, TDNH đã đầu tư hàng nghìn tư đồng
cho các chương trình như: xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch, cho
vay phí xanh đất trống đồi núi trọc… đặc biệt là chương trình cho vay nhằm cải
tạo, làm mới cơ sở hạ tầng nông thôn đã thực sự làm thay đổi bộ mặt nông thôn
nước ta trong những năm gần đây. Cũng nhờ cho vay phát triển kinh tế HSX,
đã góp phần giải quyết công ăn việc làm thường xuyên cho người lao động,
hạn chế các tệ nạn xã hội phát sinh do thiếu việc làm. Ngoài ra, TDNH còn góp
phần làm giảm các lụn tín dụng “ngầm” và cho vay nặng lãi ở nông thôn. Kinh
tế nông thôn phần nào thu hẹp khoảng cách so với thành thị, hạn chế bớt sự
phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh, chính trị trong khu vực
nông thôn.
1.2.1.3. TDNH giúp HSX tăng cường hạch toán kinh tế, sử dụng vốn vay có
hiệu quả.
Kinh tế thị trường luôn đòi hỏi tính hiệu quả trong sản xuất. Người sản
xuất phải đặt mình vào vị trí của người tiêu dùng làm ra các s¶m phẩm được
người tiêu dùng chấp nhận và có lãi. Khi có sự tham gia của TDNH vào quá
trình sản xuất, các hộ sau khi sử dụng vốn của NH phải hoàn trả cả gốc và lãi.
Điều đó buộc hộ vay vốn của NH phải thực sự quan tâm tới chi phí và thu
nhập của phương án sản xuất, họ phải quan tâm đến vòng quay của vốn và
khả năng sinh lời của đồng vốn. Có nh vậy sau khi trả nợ cho NH thu nhập
sau cùng của họ mới đảm bảo.
1.2.1.4. TDNH thúc đẩy hộ sản xuất tiếp cận và sản xuất hàng hoá.
Khi TDNH chưa phát triển, các hoạt động sản xuất các hộ gia đình phổ
biến mang tính chất tự cung, tự cấp. Được sự hỗ trợ của NH về vốn, các HSX
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N

7
Luận văn tốt nghiệp
đã thực hiện tái sản xuất mở rộng các sản phẩm. Từ chỗ các sản phẩm chỉ đủ
tiêu dùng trong gia đình đến khi các sản phẩm của họ tham gia vào thị trường
và trở thành hàng hoá, được bán trên thị trường. Thị trường tác động trở lại
buộc các hộ phải có định hướng cho SXKD, nhằm thoả mãn nhu cầu ngày
càng cao của thị trường và thu được lợi nhuận cao.
Như vậy TDNH không chỉ là đòn bẩy kích thích các ngành nghề kinh tế
trong HSX phát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ mà còn giúp các HSX
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tự hạch toán kinh doanh để nâng cao hiệu quả
kinh tế, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường góp phần phát triển kinh tế
hộ nói riêng và nền kinh tế quốc gia nói chung.
1.2.3. Những vấn đề chung trong cho vay hộ sản xuất.
1.2.3.1. Mục đích cho vay.
Nhằm tạo điều kiện và khuyến khích những hộ thiếu vốn SXKD vay
vốn NH để phát triển sản xuất hàng hoá nông - lâm - ngư - diêm nghiệp, công
nghiệp chế biến và mở mang ngành nghề mới và kinh doanh dịch vụ có hiệu
quả tạo công ăn việc làm, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.
1.2.3.2. Nguyên tắc cho vay.
- Hộ vay vốn phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết trong
đơn xin vay và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những sai trái trong
quá trình sử dụng vốn.
- Việc phát tiền vay phải gắn liền với tiến độ thực hiện chương trình, dự
án SXKD.
- Hoàn trả đủ gốc và lãi.
1.2.3.3. Điều kiện vay vốn.
- Hộ vay vốn phải có phương án SXKD, dịch vụ khả thi, kèm phương
án trả nợ khả thi.
- Hộ vay vốn phải là người thường trú và làm việc tại địa phương, nếu
là hộ ở địa phương khác phải có giấy xác nhận của UBND phường, xã nơi có

hộ khẩu thường trú và được UBND địa phương nơi đến cho phép tổ chức hoạt
động kinh doanh. Đại diện hộ gia đình để giao dịch với NH là chủ hộ hoặc
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
8
Luận văn tốt nghiệp
người đại diện chủ hộ. Chủ hộ hoặc người đại diện chủ hộ phải có năng lực
hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự.
- Hộ vay vốn phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
- Hộ vay vốn phải thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định.
- Hộ vay vốn không có nợ quá hạn hoặc đến nợ NH.
1.2.3.4. Thời hạn cho vay.
NH cho vay HSX theo ba loại thời hạn: ngắn, trung và dài hạn, thời hạn cụ
thể phụ thuộc vào chu kỳ SXKD, khả năng hoàn vốn và tính chất nguồn vốn
cho vay của NH.
- Cho vay ngắn hạn: thời gian cho vay thường bằng một chu kỳ SXKD
đối với loại vay có chu kỳ sản xuất ngắn có thể vay lưu vụ nhưng thời hạn tối
đa không quá 12 tháng.
- Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời
gian thu hồi của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất
nguồn vốn cho vay, thời gian cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
- Cho vay dài hạn: Tương tự nh cho vay trung hạn, có thời hạn từ 60
tháng trở lên.
1.2.3.5. Đối tượng vay vốn.
Ngân hàng nông nghiệp thực hiện cho vay các đối tượng gồm:
* Cho vay ngắn hạn, gồm những đối tượng chủ yếu sau:
- Ngành trồng trọt: Mua sắm hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu…
- Ngành chăn nuôi: Mua sắm con giống, thức ăn gia súc…
- Ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp: Mua sắm nguyên nhiên
liệu, công cụ lao động nhỏ.
* Cho vay trung hạn, gồm những đối tượng chủ yếu sau:

- Chi phí trồng mới cây lưu gốc: dâu tằm, mía, dứa…
- Thanh toán chi phí mở rộng diện tích canh tác gieo trồng hàng năm.
- Chi phí đào đắp ao xây dựng chuồng trại chăn nuôi trâu bò, lợn, gà,
dịch vụ thú y.
- Mua sắm sửa chữa phương tiện nuôi trồng đánh bắt thủ hải sản.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
9
Luận văn tốt nghiệp
* Cho vay dài hạn: gồm những đối tượng chủ yếu sau:
- Chi phí trồng và chăm sóc cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm.
- Mua sắm mới, sửa chữa lớn máy móc thiết bị sản xuất, chế biến bảo quản.
- Chi phí xây dựng mới đồng ruộng, đồi cây, hồ đầm, nhà xưởng.
1.2.3.6. Thủ tục vay vốn:
* Hồ sơ pháp lý:
- Chứng minh nhân dân, hộ khẩu (các hồ sơ này chỉ cần xuất trình khi
làm thủ tục vay vốn).
- Đăng ký kinh doanh đối với cá nhân phải đăng ký kinh doanh.
- Hợp đồng hợp tác (đối với tổ hợp tác)
- Giấy uỷ quyền cho người đại diện nếu có.
* Hồ sơ vay vốn
+ Đối với hộ gia đình vay qua tổ vay vốn
- Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án, dự án SXKD.
- Biên bản thành lập tổ vay vốn
- Hợp đồng dịch vụ.
- Hợp đồng bảo đảm tiền vay (nếu khoản vay trên 10 triệu đồng)
+ Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác vay trực tiếp NH:
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Phương án, dự án SXKD, dịch vụ.
- Hợp đồng bảo đảm tiền vay theo quy định.
1.2.3.7. Quy trình cho vay.

CBTD chuyên quản tiếp nhận hồ sơ xin vay vốn của khách hàng có
trách nhiệm đối chiếu danh mục hồ sơ theo quy định, kiểm tra tính hợp lệ,
hợp pháp của từng loại hồ sơ.
Trưởng phòng hoặc tổ trưởng tổ tín dụng tập hợp các đơn xin vay trong
ngày kiểm tra lại hồ sơ vay vốn và cô CBTD đi thẩm định.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
10
Luận văn tốt nghiệp
Trưởng phòng hoặc tổ trưởng tổ tín dụng tập hợp các hồ sơ, đối chiếu
với nguồn vốn hiện có trình giám đốc hoặc phó giám đốc phê duyệt và thông
báo cho khách hàng biết. Trường hợp quyết định cho vay, hồ sơ được chuyển
cho CBTD hướng dẫn cho khách hàng lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo
đảm tiền vay (trong trường hợp khoản vay có bảo đảm).
Sau khi hoàn tất các công việc trên, bộ phận tín dụng chuyển hồ sơ
vay vốn cho bộ phận kế toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán kế toán và tổ
chức giải ngân.
NH kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của
khách hàng nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện đúng, đầy đủ những cam kết
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Hàng tháng cán bộ kế toán sao kê các khế ước cho vay, các khoản nợ
đến hạn, quá hạn, lập thông báo thu nợ gửi đến khách hàng, chuyển cho bộ
phận tín dụng tổ chức thực hiện.
Xử lý kû luật tín dụng, xử lý rủi ro bất khả kháng, xử lý tài sản thế chấp
(nếu có) theo quy định
1.2.4 Mét số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay đối với kinh tế hộ sản xuất
NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với phương châm hoạt động là
‘đi vay để cho vay’. Do đó để duy trì và phát triển đòi hỏi các NHTM phải
mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm và
dịch vụ. NH có tập trung huy động được nhiều vốn nhàn rỗi, có thực hiện cho
vay nhiều, sử dụng vốn có hiệu quả thì mới có thu nhập. Như vậy hiệu quả tín

dụng được thể hiện cụ thể nhất đó là lợi nhuận mà NH có được. Để đánh giá
được hiệu quả tín dụng của NH đối với kinh tế HSX, các NH thường đưa ra
một số chỉ tiêu sau:
* Chỉ tiêu tỷ trọng doanh số cho vay hộ sản xuất:
Tỷ trọng doanh số cho vay HSX =
Doanh số cho vay hộ sản xuất
×
100%
Tổng doanh số cho vay
Chỉ tiêu này cho biết quy mô đầu tư cho vay HSX là lớn hay nhỏ so với
tổng doanh số cho vay của NH. Chỉ tiêu này phản ánh chính xác về hoạt động
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
11
Luận văn tốt nghiệp
cho vay hộ sản xuất trong thời gian dài, qua đó thấy được khả năng cho vay
hộ sản xuất qua các năm.
* Chỉ tiêu tổng dư nợ:
Tỷ trọng dư nợ hộ sản xuất =
Dư nợ hộ sản xuất
× 100%
Tổng dư nợ
Là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền NH cấp cho HSX trong tổng dư nợ
của NH là lớn hay nhỏ.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
12
Luận văn tốt nghiệp
* Chỉ tiêu doanh số thu nợ:
Tỷ trọng doanh số thu nợ HSX =
Doanh số thu nợ hộ sản xuất
×100%

Tổng thu nợ
Chỉ tiêu này cho biết tình hình thu nợ của NH đối với HSX trong tổng
thu nợ là bao nhiêu.
* Chỉ tiêu nợ quá hạn hộ sản xuất:
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không
hoàn hảo khi HSX đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ trả nợ đúng hạn như cam kết. Chỉ tiêu này được thể hiện qua tỉ lệ nợ quá
hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn cho vay hộ sản xuất
×100%
Tổng dư nợ hộ sản xuất
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay càng cao thì NH càng gặp khó khăn trong kinh
doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và lợi nhuận cũng sẽ
giảm. Nghĩa là tỷ lệ này càng cao thì chất lượng cho vay HSX càng thấp.
* Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng:
Vòng quay vốn tín dụng =
Doanh số thu nợ hộ sản xuất
Dư nợ bình quân hộ sản xuất
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay
tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay NH đã luân chuyển nhanh, tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất
định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên NH đã đáp ứng được nhu
cầu vốn cho HSX, mặt khác NH có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực
khác. Như vậy hệ số này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lí vốn tín
dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
13
Luận văn tốt nghiệp
Chương 2

Thực trạng cho vay hộ sản xuất của nhno&ptnt huyện
2.1 Khái quát về sự ra đời và phát triển của chi nhánh
NHNo&PTNT Nga Sơn Tỉnh Thanh Hóa
2.1.1 . Một vài nét về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của
NHNo&PTNT huyện Nga Sơn
Thực hiện Nghị định 53/HĐBT ngày 26 tháng 3 năm 1988 của Hội
đồng Bộ trưởng về việc chuyển đổi hoạt động NH theo hướng kinh doanh và
tổ chức phân chia NH thành: NHNN và NH chuyên doanh hay còn gọi là
NHTM. Sau khi cú quyết định thì hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam ra đời.
Cùng với toàn bộ hệ thống, NHNo&PTNT Thanh Hoá và các NHNo&PTNT
huyện cũng được ra đời và phát triển.
Tháng 10 năm 1991 NHNo&PTNT huyện Nga Sơn đi vào hoạt động
với tư cách là NH cấp II trực thuộc NHNo&PTNT Thanh Hoá, thực hiện các
nghiệp vụ tín dụng và dịch vụ NH nhằm mục đích góp phần ổn định phát triển
kinh tế huyện Nga Sơn nói riêng và cả nước nói chung.
Những năm đầu hoạt động, NH gặp rất nhiều khó khăn trong kinh
doanh, hoạt động không có hiệu quả. Nguyên nhân là do trên địa bàn huyện
các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ chưa phát triển mạnh, nhu cầu
của dân cư về vốn chưa cao do hoạt động chính trên địa bàn là trồng trọt, chăn
nuôi, sản xuất nhỏ… và thu nhập của người dân chưa cao nên quá trình tích
luỹ không lớn, hoạt động của NH còn nhỏ hẹp, cơ sở vật chất và các phương
tiện phục vụ kinh doanh còn lạc hậu, các nghiệp vụ hoạt động chưa đa dạng
và phong phú.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của hệ thống NHTM, chi nhánh
NHNo&PTNT huyện Nga Sơn đã kiên trì khắc phục khó khăn và quyết tâm
đổi mới cũng như không ngừng phát triển, vươn lên, thực hiện tốt công tác
huy động vốn và đầu tư tín dụng có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn đầy đủ và
kịp thời cho đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, chuyển đổi cơ
cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thu hút hàng
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N

14
Luận văn tốt nghiệp
ngàn lao động góp phần xoá đói giảm nghèo và từng bước góp phần đem lại
sự khởi sắc cho kinh tế huyện Nga Sơn. Bên cạch đó, NHNo&PTNT huyện
Nga Sơn còn mở rộng dịch vụ NH khác như thanh toán chuyển tiền, chuyển
tiền điện tử…
Với trách nhiệm của một ngành cung ứng vốn cho phát triển kinh tế địa
phương. Ngành NH nói chung, NHNo&PTNT huyện Nga Sơn nói riêng đã có
những đóng góp tích cực phục vụ cho chương trình phát triển kinh tế xã hội
của toàn tỉnh nói chung và của huyện nhà nói riêng, nhất là những năm gần
đây, trên lĩnh vực huy động vốn và cho vay các chương trình chuyển đổi cơ
cấu của huyện, thể hiện thông qua tăng trưởng khối lượng tín dụng và thay
đổi cơ cấu dần qua các năm.
Nhờ hoạt động ngày càng có hiệu quả, uy tín của NHNo&PTNT huyện
Nga Sơn ngày càng được nâng cao và thực sự trở thành người bạn đồng hành
không thể thiếu của bà con nông dân.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
2.1.2.1 Mô hình tổ chức
NHNo&PTNT huyện Nga Sơn đến nay hoạt động với một NH hội sở
(NH cấp II) có trụ sở tại Thị trấn huyện Nga Sơn và ba NH cấp III là Tư Sy,
Nga An, Hói Đào. Với tổng số biên chế hiện nay là 43 cán bộ công nhân viên,
có cơ cấu tổ chức như sau:
Đứng đầu NHNo&PTNT huyện Nga Sơn là Giám đốc, Giám đốc chịu
trách nhiệm trước pháp luật, trước Nhà nước và trước cấp trên về hoạt động
kinh doanh của NH mình, điều hành mọi hoạt động kinh doanh nhằm đạt hiệu
quả cao nhất. Giám đốc vạch ra các chiến lược, sách lược kinh doanh để từ đó
các phòng ban thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Đồng thời giám
đốc xem xét các chính sách kinh tế của huyện đã giao phó để từ đó hướng
hoạt động NH theo mục tiêu đã đề ra.
Cùng với giám đốc là hai phó giám đốc đã được phân công uỷ quyền

trách nhiệm từng phần công việc cụ thể. Nhân danh giám đốc chịu trách
nhiệm trước giám đốc và pháp luật về công việc đó.
Với tổng số 43 cán bộ nhân viên được bố trí như sau:
- Tại ngân hàng hội sở là: 21 cán bộ
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
15
Luận văn tốt nghiệp
- Tại ngân hàng cấp III Tư Sy là: 8 cán bộ
- Tại ngân hàng cấp III Nga An là: 7 cán bộ
- Tại ngân hàng cấp III Hói Đào là: 7 cán bộ
Trụ sở chính NH có các phòng, tổ chức thực hiện chức năng quản lý,
hướng dẫn chỉ đạo ba NH cấp III và tổ chức kinh doanh giao dịch khách hàng
của 12 xã, thị trấn gần trung tâm huyện. Tại đây có các phòng như sau:
* Phòng tín dụng:
Với chức năng:
- Tham mưu cho ban giám đốc về chiến lược kinh doanh, các chính
sách khách hàng để ban giám đốc đưa ra quyết định tối ưu.
- Hoạt động kinh doanh tiền tệ: như huy động vốn trong địa bàn cho
vay các thành phần kinh tế, bảo lãnh cầm cố… khối lượng nghiệp vụ tín dụng
của NH chủ yếu được thực hiện tại phòng tín dụng. Vì vậy có thể nói hiệu quả
hoạt động của phòng tín dụng có tác động lớn tới kết quả hoạt động của NH.
- Tổng hợp báo cáo tháng, quý, năm để gửi về NH tỉnh.
- Chỉ đạo công tác huy động vốn, cho vay và hướng dẫn quy trình
nghiệp vụ đối với ba NH cấp III.
* Phòng kế toán ngân quỹ:
Cũng như mọi doanh nghiệp khác, phòng kế toán ngân quỹ của NH
cũng có chức năng quan trọng trong hoạt động kinh doanh đó là:
- Quản lý an toàn tài sản trong nội bộ và ngoài ngành, hạch toán chính
sách an toàn cập nhật các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh.
- Phát triển và mở rộng các nghiệp vụ hạch toán qua NH nhất là thanh

toán không dùng tiền mặt, tuyên truyền vận động khách hàng mở tài khoản
thanh toán qua NH.
- Ứng dụng các chương trình tin học vào nghiệp vụ kế toán để quản lý
tốt tài sản, để giảm dần các thao tác thủ công trong quá trình giao dịch.
- Thực hiện thu chi tiền mặt với khách hàng và quản lý an toàn kho
quỹ, tài sản trong đơn vị.
- Tổng hợp báo cáo tháng, quý, năm về NH tỉnh, thực hiện lưu trữ số
liệu, tài liệu đảm bảo đúng chế độ quy định.
- Tham mưu cho ban giám đốc trong công tác tài chính đơn vị.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
16
Luận văn tốt nghiệp
* Tổ hành chính nhân sự:
- Tổ hành chính nhân sự có nhiệm vụ tham mưu, bố trí sắp xếp cán bộ
cho giám đốc trong quá trình tiến hành. Đảm bảo phù hợp với năng lực trình
độ của từng cán bộ, để hoàn thành được nhiệm vụ được giao.
- Thực hiện nhiệm vụ hành chính quản trị cho cơ quan, đảm bảo an
toàn tài sản và vệ sinh sạch đẹp trong cơ quan.
* Bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
- Được bố trí cán bộ có trình độ nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ theo
chương trình tháng, quý của phòng kiểm toán nội bộ NH tỉnh và chỉ đạo của
ban giám đốc NHNo&PTNT huyện Nga Sơn.
- Thực hiện kiểm tra tín dụng tới tận HSX vay vốn, kiểm toán số liệu
kế toán, có trách nhiệm phát hiện kịp thời những sai lệch vi phạm để trình
giám đốc có biện pháp xử lý kịp thời, giúp các phòng, tổ thực hiện đúng chức
năng nhiệm vụ của mình trong quá trình kinh doanh.
- Tổng hợp các báo cáo kiểm toán tại các NH cơ sở gửi NH cấp trên.
- Giải quyết các đơn thư, khiếu tố, khiếu nại của khách hàng trong quá
trình giao dịch quan hệ với NH một cách kịp thời, đúng pháp luật.
Có thể mô hình hoá cơ cấu tổ chức của chi nhánh NH như sau:

Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
17
Luận văn tốt nghiệp
2.1.2.2 Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu
2.1.2.2 Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu
- Huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư
- Đầu tư cho vay các thành phần kinh tế
- Tổ chức dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước
- Chi trả kiều hối
- Dịch vụ ngân quỹ
2.1.2.3 Các khách hàng chủ yếu
Khách hàng truyền thống của NH là các doanh nghiệp hoạt động
SXKD, dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu, các HSX kinh doanh tiểu thủ
công nghiệp
2.2 Khái quát về tình hình hoạt động của chi nhánh
Thực hiện sự nghiệp đổi mới của nền kinh tế, đối với công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tập thể lãnh đạo và toàn thể cán bộ công
nhân viên đã thực hiện tốt có hiệu quả các nhiệm vụ chức năng mà NH tỉnh
giao phó. Với khả năng huy động vốn cao, tốc độ luân chuyển vốn tốt, kinh
doanh có hiệu quả, đảm bảo thu nhập cho cán bộ nhân viên trong đơn vị và có
phần tích luỹ cho ngành.
Bên cạnh sự đổi mới kinh doanh trong NH, mở rộng kinh doanh đa
ngành, NHNo&PTNT huyện Nga Sơn ngày càng chú trọng đến công tác
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
18
Giám đốc
Phó Giám Đốc Phó Giám Đốc
Phòng
Tín
Dụng

Phòng
Kế
Toán
Ngân
Quỹ
Phòng
Hành
Chính
Nhân
Sự
Bộ
Phận
Kiểm
Tra
Kiểm
Soát
Ngân
hàng
Cấp
III

Si
Ngân
Hàng
Cấp
III
Nga
An
Ngân
Hàng

Cấp
III
Hói
Đào
Luận văn tốt nghiệp
thanh toán qua NH, mở rộng thu hút khách hàng, kinh doanh ngoại hối tăng
thêm nguồn thu trong kinh doanh.
Kết quả các năm qua NHNo&PTNT huyện Nga Sơn luôn đạt là đơn vị
kinh doanh khá trong toàn tỉnh Thanh Hoá.
2.2.1 Hoạt động nguồn vốn
Bằng nhiều hình thức huy động vốn, nguồn vốn của NHNo&PTNT
huyện Nga Sơn ngày càng tăng trưởng cao. Với phương châm ‘đi vay để cho
vay’ NH đã thực hiện tốt các chủ trương chính sách và cơ chế nghiệp vụ huy
động vốn để tạo ra lượng vốn tín dụng cho hoạt động kinh doanh.
Trong những năm qua, NH đã cải tiến nghiệp vụ, đổi mới phong cách
giao dịch, mở rộng mạng lưới hoạt động và sử dụng nhiều chính sách lãi suất
hợp lý… để tạo nên lòng tin giữa NH với khách hàng.
Có thể nhận thấy kết quả trong công tác huy động vốn tại NH ở bảng sau:
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn của NH năm 2008 - 2010 ( tính đến 31/12 )
( đơn vị tính: triệu đồng)
Chỉ
tiêu
Năm 2008 Năm2009 Năm 2010
Số
Tiền
Tỉ
Trọng
Số
Tiền
Tỉ

Trọng
So với 2008 Số
Tiền
Tỉ
Trọng
So với 2009
ST TT ST TT
Tổng
nguồn vốn
nội tệ
117.039 100 157.960 100
40.921
0 201.146 100
43.186
0
T/g KKH 13.177 11,3 15.045 9,5 1.868 -1,8 16.560 8,2 1.515 -1,3
T/g kì
hạn<12
tháng
73.272 62,6 112.335 71,1
39.063
8,5 158.549 78,8
46.214
+7,7
T/g từ12
tháng
đến 24
tháng
28.347 24,2 29.203 18,5 856 -5,7 24.699 12,3
- 4.504

-6,2
T/g kì hạn
24
tháng
trởlên
2.243 1,9 1.377 0,9 -866 -1 1.338 0,7 -39 -0,2
Tổng
nguồn vốn
ngoại tệ
663.6 100 725,4 100 43 0 878,2 100 152,8 0
T/g KKH 14,9 2,2 11,1 1,5 -3,8 -0,6 40,3 4,6 29,2 3,1
T/g kì
hạn<12
tháng
375,2 56,5 543,7 74,9 152 18,1 674,6 76,8 130,9 1,9
T/g từ12
tháng
đến 24
tháng
273,6 41,3 169,1 23,3 -105,2 -17,5 153,7 17,5 -15,4 -5,8
T/g kì hạn
24
tháng
trởlên
1,5 0,3 9,6 1,1 8,1 0,8
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
19
Luận văn tốt nghiệp
Qua số liệu bảng trên ta thấy, nguồn vốn huy động của NH tăng ổn
định qua các năm, nguồn vốn huy động nội tệ từ 117.039 triệu đồng năm

2008 lên 157.960 triệu đồng năm 2009 tăng 40.921 triệu đồng với tỷ lệ tăng
35%. Trong tổng nguồn vốn huy động nguồn vốn có kỳ hạn trên 12 tháng
chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng lên qua các năm. Nguồn vốn
ngoại tệ NH huy động chỉ có USD và không ổn định qua các năm. Năm 2008
là 663,6 USD đến năm 2009 là 878,2 USD tăng lên 214,6USD năm 2010 lại
giảm mạnh xuống còn 152,8 USD giảm 725,4USD
Nhưng nhìn chung, kết quả công tác huy động vốn giữ ở mức tăng
trưởng khá, tốc độ vẫn đảm bảo được mức tăng chung của toàn hệ thống
NHNo&PTNT tỉnh đưa ra. Nguồn vốn của tổ chức như Kho bạc Nhà nước
vẫn được gửi vào NH, nguồn vốn này thường lớn so với huy động từ các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác. Chi phí cho nguồn gửi của Kho bạc thấp.
Do đó quan hệ giữa chi nhánh NH với Kho bạc cần phải cần phải giữ vững để
là khách hàng truyền thống có uy tín.
Tuy cũng gặp một số khó khăn nhất định về lãi suất sự cạnh tranh của
lãi suất kho bạc, lãi suất các quỹ tín dụng nhân dân cao hơn lãi suất huy động
của NH. Nền kinh tế trong huyện vẫn chủ yếu là nông nghiệp, ngành nghề
dịch vụ phát triển chậm do vậy thu nhập và tích luỹ của nhân dân còn hạn
chế. Tiền gửi chủ yếu là của các hộ hưởng lương, các hộ nông dân khá giả,
các hộ kinh doanh và một số lượng chưa lớn của thân nhân người đi xuất
khẩu lao động. Vì vậy, đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa từ chi nhánh, cũng như sự
chỉ đạo và các chỉ tiêu của NH cấp tỉnh, để công tác huy động vốn được đẩy
mạnh hơn nữa trong những năm tới.
2.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Công tác huy động vốn và sử dụng vốn là hai vấn đề liên quan chặt chẽ
với nhau. Huy động vốn nhằm thúc đẩy sự mở rộng việc sử dụng vốn là cơ sở
và động lực cho công tác huy động vốn. Nhận thức đúng đắn vấn đề này và sự
chỉ đạo của NH cấp trân NH luôn coi trọng công tác sử dụng vốn.
Trong công tác tín dụng, NH tập trung đi sâu vào công tác chấn chỉnh,
nâng cao chất lượng tín dụng, rà soát xem xét xử lý kịp thời những tồn tại
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N

20
Luận văn tốt nghiệp
thiếu sót trong hoạt động tín dụng. Thể hiện việc cho vay đúng theo chế độ tín
dụng, đúng quy trình cho vay, đảm bảo thẩm định kỹ các món vay mới để
nhằm đầu tư có hiệu quả và hạn chế rủi ro.
NH áp dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tiền vay như bảo đảm
bằng tài sản hình thành từ vốn vay, các hình thức bảo đảm khác như thế chấp,
cầm cố chủ động tiếp cận hướng dẫn khách hàng vay lớn rút ngắn thời gian
thẩm định để thu hút khách hàng.
Tăng cường công tác tự kiểm tra bằng các hình thức: kiểm tra bằng thư
đối chiếu, thường xuyên kiểm tra tổ vay vốn, tăng cường thu hồi nợ đến hạn
từ đó phát hiện kịp thời các sai phạm để chỉnh sửa và ngăn chặn nợ quá hạn
mới phát sinh. Phối hợp với hội nông dân, hội phụ nữ các cấp tăng cường cho
vay qua tổ nhóm, tạo thuận lợi cho khách hàng vay vốn, cũng như trả nợ đáp
ứng kịp thời các nhu cầu của các hộ SXKD.
Duy trì sổ đăng ký vay vốn đi vào nề nếp được chính quyền coi đây là
cầu nối giữa NH với địa phương và giữa địa phương với người dân, nắm bắt
thông tin kiểm tra giám sát tiền vay, quản lý và điều hành của NH với địa
phương rất hiệu quả.
Kết hợp chặt chẽ với cấp ủy và chính quyền cơ sở, với các đoàn thể
chính trị xã hội. mở rộng cho vay HSX thông qua tổ nhóm, xử lý kịp thời
những trường hợp sử dụng vốn sai mục đích, vay hộ, vay ké, kiên quyết thu
hồi vốn những đoàn thể quản ký yếu kém sang đoàn thể khác quản lý, vừa
phát triển kinh tế địa phương, đúng hướng, giảm thời gian, chi phí đi lại cho
khách hàng, tăng trưởng được dư nợ, phát huy được hiệu quả vốn vay,chất
lượng tín dụng tốt, tránh được phiền hà tiêu cực, vừa giảm tải cho CBTD vừa
tạo điều kiện để NH tuyên truyền về thể thức huy động vốn và cho vay.
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
21
Luận văn tốt nghiệp

Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn của NHNo&PTNT huyện Nga Sơn năm
2008- 2010 Phân theo loại vay ( Tính đến 31/12 )
( Đơn vị tính: triệu đồng )
Chỉ
tiêu
Năm 2008
Năm2009 Năm 2010
Cho vay Thu nợ Dư nợ Cho vay Thu nợ Dư nợ Cho vay Thu nợ Dư nợ
Tổng
cộng
212.300 195.698 286.606 213.630 187.856 307.647 215.160
175.569
324.745
Cho
vayNH
120.580 112.983 163.681 130.300 106.933 187.048 145.850
100.112
182.890
Tỉ
trọng%
56,8% 57,8% 57,1% 61% 57% 60,8% 67,8% 57,1% 56,3%
Cho
vay TH
91.720 82.715 122.925 83.330 80.923 120.599 69.310 75.457 141.855
Tỉ
trọng%
43,2% 42,2% 42,9% 39% 43% 39,2% 32,2% 42,9% 43,7%
Tổng dư nợ cho vay năm 2008 là 286.606 triệu đồng, trong đó dư nợ
cho vay ngắn hạn là 120.580 triệu đồng chiếm tỷ trọng 56,8%, dư nợ cho vay
trung hạn là 91.720 chiếm tỷ trọng 43,2% tổng dư nợ. Dư nợ đến năm 2009 là

triệu đồng trong đó dư nợ ngắn hạn là 187.048 triệu đồng chiếm tỷ trọng
60,8%. Dư nợ cho vay trung hạn là 120.599 triệu đồng chiếm tỷ trọng 39,2%.
Đến năm 2010 dư nợ là 324.745 triệu đồng trong đó dư nợ cho vay là ngắn
hạn là 182.890 triệu đồng chiếm tỷ trọng 56,3 %. Dư nợ cho vay trung và dài
hạn chiếm tỷ trọng 43,7% trong tổng dư nợ.
Nhìn vào tổng dư nợ tỷ lệ tăng năm sau cao hơn năm trước cụ thể năm
2009 tăng so với năm 2008, năm 2010 tăng cao hơn so với năm 2009. Bên
cạnh đó, chất lượng tín dụng được chuyển biến tích cực hiệu quả đồng vốn
tạo đà cho sự phát triển của NH trong những năm tới.
2.2.3 Hoạt động thanh toán
Hoạt động trao đổi trong nền kinh tế, cuối cùng đều kết thúc bằng khâu
thanh toán, chính vì vậy nghiệp vụ thanh toán qua NH được tạo lập giúp cho
các khách hàng tiến hành quá trình thanh toán thuận lợi và tiết kiệm chi phí
Sinh viên : Mai Kiều Nga MSV : 07A13366N
22

×