Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 3 tuyến tránh thành phố thái nguyên qua địa bàn huyện phú lương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.4 MB, 125 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


§¹I HäC TH¸I NGUY£N
tr-êng ®¹i häc n«ng l©m
–––––––––––––––––––––––





ĐÀO THỊ QUỲNH TRÂM




NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ
THỰC HIỆN DỰ ÁN CẢI TẠO NÂNG CẤP QUỐC LỘ 3
TUYẾN TRÁNH THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
QUA ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG





LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI










th¸i Nguyªn - 2011

S húa bi Trung tõm Hc liu HTN


ĐạI HọC THáI NGUYÊN
tr-ờng đại học nông lâm



O TH QUNH TRM




NGHIấN CU MT S YU T NH HNG N KT QU
THC HIN D N CI TO NNG CP QUC L 3
TUYN TRNH THNH PH THI NGUYấN
QUA A BN HUYN PH LNG




CHUYấN NGNH: KHOA HC QUN Lí T AI
Mã Số: 60 62 16



LUN VN THC S KHOA HC QUN Lí T AI




Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS. L-ơng Văn Hinh




thái Nguyên 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Nội dung
Trang
3.1.
Diện tích, dân số và mật độ dân số huyện Phú Lương năm 2009
31
3.2.
Hiện trạng dân số và lao động huyện Phú Lương năm 2009
32
3.3.
Tình hình lao động địa bàn hai xã Sơn Cẩm và Cổ Lũng
33
3.4.

Cơ cấu các loại đất theo mục đích sử dụng năm 2010
39
3.5.
Tình hình biến động đất đai của huyện năm giai đoạn 2005-2010
40
3.6.
Tình hình cấp GCNQSD đất tại khu vực bị thu hồi đất để làm
đường
51
3.7.
Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu vực bị
thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư
52
3.8.
Tổng hợp các hộ bị cấp sai
53
3.9.
Các hộ được hỗ trợ đất nằm trong hành lang an toàn giao thông
55
3.10.
Tổng hợp các hộ có đơn khiếu nại, không nhận tiền và phải bảo vệ
thi công
56
3.11.
Tổng hợp các trường hợp tự chuyển mục đích sử dụng đất thuộc
khu vực dự án Cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 3
57
3.12.
Tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất không làm thủ tục tại
khu vực thực hiện dự án

58
3.13.
Tổng hợp các trường hợp thừa kế không theo di chúc thuộc khu
vực thực hiện dự án
59
3.14
Tổng hợp các trường hợp tranh chấp thuộc khu vực thực hiện dự án
60
3.15.
Tổng hợp các trường hợp chấp hành chủ trương thu hồi đất
61

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



Bảng
Nội dung
Trang
3.16
Tổng hợp mức độ hoàn thành của dự án
62
3.17.
Tổng hợp diện tích các loại đất bị thu hồi
63
3.18.
Tổng hợp kết quả bồi thường, hỗ trợ diện tích đất thực hiện dự án
64
3.19.
Ý kiến của người bị thu hồi trong việc xác định giá bồi thường

đất, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất
64
3.20
Tình hình an ninh trật tự xã hội của người dân sau khi thu hồi đất
65
3.21
Quan hệ nội bộ gia đình của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất
66
3.22
Thu nhập bình quân của người dân tại khu vực dự án
66
3.23.
Số hộ đã chuyển đổi nghề sau khi bị thu hồi đất
67
3.24.
Cuộc sống của các hộ gia đình trong khu tái định cư
68
3.25.
Tổng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái
Nguyên (theo giá so sánh năm 1994)
69

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 được thông
qua tại Đại hội IX của Đảng đã đặt mục tiêu “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém

phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm
lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường
quốc tế được nâng cao”. Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nhà
nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải
quyết đồng bộ các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo hướng
chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, gắn công nghiệp chế
biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa. Đưa nhanh tiến
bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất. Quy hoạch phát triển
nông thôn trong tổng thể quy hoạch chung của từng vùng. Thực hiện phát triển
nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Thực hiện phát triển kinh tế vùng.
Thực hiện phát triển kinh tế biển. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu
công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển. Thực hiện bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài
nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên. Có biện pháp ngăn chặn các hành
vi gây ô nhiễm môi trường [28].
Để thực hiện phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
cần phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, các
cửa hàng mua bán sản phẩm công – nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu xây dựng
cơ sở hạ tầng và các nhà máy, các xí nghiệp, các dự án khai thác khoáng sản thì
phải có sự chuyển mục đích sử dụng từ các diện tích đất nông nghiệp sang mục
đích công cộng và sang mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, khai thác
khoáng sản. Xuất phát từ việc chuyển mục đích sử dụng đất là việc thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư ở những nơi có dự án. Trong quá trình thực hiện dự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


2

án đã có sự thay đổi cơ bản về bộ mặt của nông thôn như đời sống, xã hội và cũng
có ảnh hưởng đến sự thay đổi về môi trường.
Trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây
được sự qua tâm của Đảng và Nhà nước huyện đã thu hút được một số sự án đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế. Trong quá trình thực hiện các dự án
nền kinh tế của huyện đã được nâng lên rõ rệt đời sống sinh hoạt, trình độ dân trí
cũng được nâng lên.
Để thực hiện thu hút đầu tư trước tiên cần phải có cơ sở hạ tầng tương xứng.
Xuất phát từ việc thu hút các dự án đầu tư vào huyện Phú Lương nhằm thực
hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội làm cho nền kinh tế - xã hội của huyện
tăng lên trong những năm gần đây, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số yếu tố
ảnh hƣởng đến kết quả thực hiện dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 3 tuyến
tránh thành phố Thái Nguyên qua địa bàn huyện Phú Lƣơng”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng của việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái
định cư khi thu hồi đất đến đời sống của người bị thu hồi khi dự án bắt đầu triển khai.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống, việc làm, thu nhập, môi
trường của người dân khi dự án đi vào giai đoạn khai thác.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu hồi
đất, bồi thường hỗ trợ về đất khi bị thu hồi và sử dụng đất của các dự án.
3. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu, nắm vững các văn bản pháp luật liên quan đến công tác thu
hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư liên quan đến dự án.
- Số liệu thu thập phải khách quan và đảm bảo độ tin cậy.
- Đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng một cách khách quan, chính xác đối với
dự án.
- Kết quả nghiên cứu phải đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn.
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận về công tác thu hồi, bồi thƣờng, hỗ trợ đất
1.1.1. Khái niệm
- Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
quản lý theo quy định.[11]
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Trong đó, giá
trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện
tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định.[11]
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi
đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa
điểm mới.[11]
- Giải phóng mặt bằng là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên
quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phần diện tích đất
nhất định cho việc xây dựng một công trình mới hoặc mở rộng, cải tạo một công
trình nào đó.
1.1.2. Đặc điểm của công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án
mang tính đa dạng và phức tạp.
Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và dân cư khác nhau. Khu vực nội
thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn;
Khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp,
hoạt động sản xuất đa dạng gồm: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại,

dịch vụ; khu vực ngoại thành và vùng nông thôn, hoạt động sản xuất chủ yếu của
dân cư là sản xuất nông nghiệp. Do đó, mỗi khu vực bồi thường giải phóng mặt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


4
bằng có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù
hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể.
Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế-xã hội đối với mọi người dân. Đối với khu vực nông thôn, dân cư
chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản
xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển
đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư ở vùng này rất sợ bị thu hồi đất.
Việc tuyên truyền, vận động người dân chấp hành chủ trương thu hồi đất gặp rất
nhiều khó khăn. Mặt khác, việc xác định giá đất để bồi thường, hỗ trợ ở các dự án
có sự chênh lệch về giá nên công tác áp giá bồi thường, hỗ trợ cũng gặp rất nhiều
khó khăn, đặc biệt ở các dự án thu hồi đất làm đường giao thông vì có tính chất
tuyến kéo dài qua nhiều địa bàn nên trong cùng một dự án có thể có nhiều khung
giá khác nhau làm cho nhiều người dân không chấp hành hoặc chậm chấp hành
chủ trương thu hồi đất.
Ngoài ra việc thu hồi đất ở còn có nhiều phức tạp do những nguyên nhân sau:
- Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của
người dân mà tâm lý, tập quán của đa số người dân ngại di chuyển chỗ ở. Hoặc có
những trường hợp dự án chỉ thu hồi một phần thửa đất và một phần nhà của người dân
nên người dân khắc phục phần công trình còn lại gặp rất nhiều khó khăn.
- Nguồn gốc sử dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý
khác nhau, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai
xây dựng nhà trái phép diến ra thường xuyên.
- Thiếu quỹ đất để xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái

định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu.
- Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào
các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực
mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển.
Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì công tác giải phóng mặt
bằng được thực hiện khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


5
1.1.3. Chính sách bồi thường, hỗ trợ ở một số nước trên thế giới
1.1.3.1. Ở Trung Quốc
Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Trung Quốc với mục tiêu bao
trùm là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số
lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như
việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền
bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo
cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với
trước khi bị thu hồi đất.
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì
người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường. Người bị thu hồi đất
được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư,
tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền
trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm
trước đây rồi nhân với hệ số. Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản
trên đất được tính theo giá cả hiện tại.
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm
bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải
phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương

đảm nhiệm. Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một
đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng.
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức
chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là,
giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là,
giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả. Ba khoản này cộng lại là tiền bồi
thường về nhà ở.
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho
dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và
nông thôn. Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


6
là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung
gian để đánh giá, xác định giá. Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo
những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi
thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu;
bồi thường tài sản tập thể.
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có
những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do thứ
nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt
động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư,
tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư. Thứ hai, năng lực thể chế
của các chính quyền địa phương khá mạnh. Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm
hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư. Thứ ba,
quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có
nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn. Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả
cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới

hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng. Chính
quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng.
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc
làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước
khi xây xong nhà tái định cư [45].
1.1.3.2. Ở Thái Lan
Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị
hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều
tiết. Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành
theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù.
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án. Nếu một dự án mang
tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường.
Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


7
bù với mức cao hơn giá thị trường [45].
1.1.3.3. Ở Hàn Quốc
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng
nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư
trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền
thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù được
thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua
căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư.
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý,
được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km. Vào
những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các

hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn
nhiều lần so với giá gốc [45].
1.1.3.4. Singapore
Singapre có chế độ sở hữu đất đai đa dạng, trong đó chấp nhận sở hữu tư
nhân. Đất đai do Nhà nước sở hữu tỷ trọng lớn nhất (gần 90 %), số còn lại thuộc sở
hữu tư nhân, nhưng việc sở hữu này phải tuân thủ quy hoạch sử dụng đất mà nhà
nước đó phê duyệt. Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong quy hoạch đô thị, có
toàn quyền quyết định mọi vấn đề trong quy hoạch đô thị. Sau khi có quy hoạch,
nhà nước thu hồi đất và giao đất (bán hoặc cho thuê) cho các công ty (nhà nước
hoặc tư nhân) thực hiện đúng quy hoạch chi tiết. Quy hoạch được công bố trước
khi thu hồi đất 2 đến 3 năm. Nhà nước không cho phép chủ đầu tư mua đi bán lại
trên mảnh đất đã được giao, trừ một số trường hợp đặc biệt. Phát triển nhất ở quốc
gia này là nhà ở, nhà ở tái định cư khi nhà nước thu hồi đất sử dụng cho các mục
đích quốc gia, người bị thu hồi đất hoàn toàn yên tâm bởi ngoài các khoản hỗ trợ
theo quy định, người bị thu hồi đất sẽ được bố trí ngay các căn hộ mới hơn, đẹp
hơn, thậm chí có cả trường hợp diện tích tái định cư rộng hơn [45].



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


8
1.1.4. Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở
Việt Nam qua các thời kỳ
1.1.4.1. Thời kì trước 1987
* Hiến pháp 1946
Sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, lần đầu tiên nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Hiến pháp vào năm 1946. Đến năm 1953,
Nhà nước ta thực hiện cuộc cải cách ruộng đất và Luật cải cách ruộng đất được ban

hành. Một trong những mục tiêu đầu tiên của cuộc cải cách là: Thủ tiêu quyền
chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và đế quốc xâm lược ở Việt Nam, xóa bỏ
chế độ phong kiến, chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ thực hiện chế độ sở
hữu ruộng đất của nông dân [3], [7]. Sau đó, Đảng và Nhà nước ta đã vận động
nông dân làm ăn tập thể, đồng thời Nhà nước thành lập các nông trường quốc
doanh, các trạm trại nông nghiệp- hình thức sở hữu tập thể.
* Nghị định số 151-TTg
Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 151-TTg ngày 14/4/1959, quy
định về thể lệ tạm thời trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên
quan đến việc bồi thường và tái định cư ở Việt Nam, sau đó Ủy ban kế hoạch Nhà
nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên bộ số 1424/TTg của Chính phủ quy
định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây dựng các công
trình kiến thiết cơ bản với nguyên tắc phải đảm bảo kịp thời và diện tích đủ cần
thiết cho công trình xây dựng kiến thiết cơ bản, đồng thời chiếu cố đúng mức
quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất. Đất thuộc sở hữu tư nhân hoặc tập
thể khi bị trưng dụng thì thuộc sở hữu của Nhà nước.
1.1.4.2. Thời kỳ 1987 đến 1993
Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, chính vì vậy việc
thực hiện bồi thường về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện bồi thường
những tài sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên [5].
Luật Đất đai năm 1988 ban hành quy định về việc bồi thường cũng cơ bản
dựa trên những điều quy định tại Hiến pháp 1980.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


9
Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về
việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích vào mục
đích khác thì phải bồi thường. Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại về đất nông

nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất. Mỗi
hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu, UBND các tỉnh, thành phố
quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực
tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức. Tổ
chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước.
Khoản tiền này được nộp vào ngân sách Nhà nước và sử dụng vào việc khai
hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống, định
canh, định cư cho vùng bị lấy đất.
Tại quyết định này, mức bồi thường còn được phân biệt theo thời hạn sử
dụng đất lâu dài hay tạm thời quy định việc miễn giảm tiền bồi thường đối với việc
sử dụng đất để xây dựng hệ thống đường giao thông, thủy lợi…
1.1.4.3. Thời kỳ 1993 đến 2003
* Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 (thay thế Hiến pháp 1980) đã quy định:
“Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN”.
- Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước
giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân
có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển
quyền sử dụng đất Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”.
- Điều 23 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc
hữu hóa. Trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc
tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”[6].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


10

Những quy định trên đã tạo điều kiện củng cố quyền hạn riêng của Nhà
nước trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi ích
quốc gia.
* Luật đất đai 1993
Luật đất đai 1993 có hiệu lực kể từ ngày 05/10/1993 thay thế cho Luật đất
đai 1988.
Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Luật đất đai quy định các loại đất sử
dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất. Một thủ tục rất quan trọng và là cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất là họ
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Chính điều
này làm căn cứ cho quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Điều 12 đã quy định: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất. Tính giá trị tài
sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất. Chính phủ quy định khung giá các
loại đất đối với từng vùng theo thời gian”.
- Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì
người thu hồi đất được đền bù thiệt hại”[8].
Sau khi Luật đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các
văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý
đất đai nhằm cụ thể hóa các điều luật để thực hiện các văn bản đó, bao gồm:
- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định cụ thể các chính sách và phân
biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để
lập kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định khi Nhà nước thu hồi
đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng. Xét về tính chất, nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu
nhất định, so với các văn bản trước, nghị định này là văn bản pháp lý mang tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



11
toàn diện cao và cụ thể hóa việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất.
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính-
Xây dựng-Tổng cục Địa chính- Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị
định 87/CP.
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998, thay thế Nghị định 90/CP nói
trên và quy định rõ phạm vi áp dụng, đối tượng phải bồi thường, đối tượng được
bồi thường, phạm vi bồi thường, đặc biệt người có đất bị thu hồi có quyền được
lựa chọn một trong ba phương án bồi thường bằng đất, bằng tiền hoặc bằng đất và
bằng tiền. Trong đó có nhiều nội dung mới: Về phạm vi áp dụng: nguyên tắc để
được đền bù thiệt hại về đất (quy định về giấy tờ: hợp pháp, hợp lệ và được coi là
hợp lệ là vấn đề cốt yếu khẳng định thể nhân, pháp nhân có được đền bù hay
không được đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất); giá đất để tính đền bù thiệt
hại, chính sách hỗ trợ và tái định, công tác tổ chức thực hiện. Nghị định
22/1998/NĐ-CP có những đóng góp nhất định đối với yêu cầu phát triển kinh tế-xã
hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực đô thị [43].
* Luật sửa đổi một số điểu của Luật đất đai năm 1998
Luật sửa đổi một số điều của Luật đất đai năm 1998 được Quốc hội thông
qua ngày 02/12/1998. Về cơ bản, Luật đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền
tảng cơ bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp thực tế.
Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản-Bộ Tài chính đã tiến hành dự thảo lần
thứ nhất về sửa đổi bổ sung nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc bồi thường thiệt hại khi
Nhà nước thu hồi đất. Trong đó, một số điều cơ bản đã được đề nghị sửa đổi như xác
định mức đất để tính bồi thường, giá bồi thường, lập khu tái định cư, quyền và nghĩa
vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các
điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cư, Hội đồng bồi thường giải phóng mặt

bằng và thẩm định phương án bồi thường giải phóng mặt bằng [1].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


12
- Thông tư số 145/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định
22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ
quản lý, phương án bồi thường và một số nội dung khác.
- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04/9/1999 của Cục quản lý Công sản-
Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác bồi thường giải
phóng mặt bằng.
* Luật sửa đổi một số điều của Luật đất đai năm 2001
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai ngày 29/6/2001 quy định
cụ thể hơn về việc bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng, cụ thể:
a. Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người
sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ. Việc bồi thường hoặc hỗ trợ
theo quy định của Chính phủ.
b. Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi.
Trong trường hợp người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được mua nhà ở
của Nhà nước hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở. Trong
trường hợp phương án bồi thường được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt, được công bố công khai và có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật
mà người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi thì cơ quan quyết định
thu hồi đất có quyền ra quyết định cưỡng chế. Trong trường hợp Chính phủ ra
quyết định thu hồi đất thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết
định cưỡng chế.
c. Trong trường hợp cộng đồng dân cư xây dựng công trình phục vụ lợi ích
công cộng của cộng đồng theo quy hoạch bằng vốn do nhân dân đóng góp hoặc

Nhà nước có hỗ trợ thì việc bồi thường hoặc hỗ trợ cho người có đất được sử dụng
để xây dựng công trình do cộng đồng dân cư và người có đất đó thỏa thuận [10].
1.1.4.4. Thời kỳ từ 2003 đến nay
Trên cơ sở tổng kết 10 năm thi hành Luật đất đai và xuất phát từ yêu cầu
của giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


13
đã ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Hiện nay, có rất nhiều các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các khu công
nghiệp, khu thương mại đang được thực hiện và trong tương lai con số các dự án
sẽ tăng lên rất nhanh. Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban
hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hóa các điều luật
về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, bao gồm:
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ tài
chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11
năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định
187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty Cổ phần.
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004 của Chính phủ về thu tiền
sử dụng đất.
- Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 12/7/2004 của Chính phủ về hướng
dẫn Nghị định 198/2004/NĐ-CP.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


14
- Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4/2008 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004 của
Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư liên tịch của Bộ tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường số
14/2008/TTLB-BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 hướng dẫn thực hiện
một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy
định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực
hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư số 107/2007/TT-BTC ngày 07 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn về

quản lý thanh toán, quyết toán vốn đầu tư dự án giải phóng mặt bằng, tái định cư
sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư.
- Văn bản số 181/ĐC-CP ngày 23/10/2009 của Chính phủ Đính chính Nghị
định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Công văn số 3378/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/9/2009 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc Tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


15
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
1.2. Cơ sở thực tiễn về công tác bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng
1.2.1. Tình hình thực tiễn chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở
Việt Nam
1.2.1.1. Thực trạng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của
Luật đất đai 1993
Luật Đất đai 1993 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu
hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù
thiệt hại” (Điều 27). Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy
định việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ

thay thế cho Nghị định số 90/CP. Chính sách bồi thường thiệt hại về đất được thể
chế tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã điều chỉnh đầy đủ, cụ thể, chi tiết về chính
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về đất, về
tài sản… phù hợp với mức thiệt hại thực tế, giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi
ích giữa người bị thu hồi đất với Nhà nước và các bên có liên quan. Với việc ban
hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, Nhà nước đã thực hiện đổi mới một bước
chính sách đền bù và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
1.2.1.2.Thực trạng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của
Luật đất đai 2003
Ở nước ta, theo quy định của Luật đất đai 2003, các văn bản dưới luật quy
định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với
yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế. Quan tâm tới lợi ích
của những người bị thu hồi đất, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


16
của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sau
một thời gian thực hiện; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính
phủ quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về
đất đai và đặc biệt là sau sự ra đời của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13
tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá
đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã thể hiện được tính khả thi và
vai trò tích cực của các văn bản pháp luật.
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và
có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của
công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban ngành có các dự án đầu tư

ngày càng được mở rộng và có hiệu quả.
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng
lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự
án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác
động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án. Việc thực hiện chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát
triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu vực chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ
cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền
kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại,
vướng mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó đặc biệt là vấn đề
giá đền bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản [44].
1.2.2. Tình hình thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi
đất của tỉnh Thái Nguyên.
Các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư.
Căn cứ Luật đất đai, các Nghị định của Chính phủ và các Thông tư hướng
dẫn của các bộ, ngành Trung ương về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


17
Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương như điều kiện về kinh tế - xã hội, từ
năm 2004 đến nay UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành nhiều văn bản quy phạm
pháp luật về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư áp dụng trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên phù hợp theo phân cấp của Chính phủ và các bộ trong từng thời kỳ,
cụ thể như sau:
- Quyết định số 2044/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 của UBND tỉnh
Thái Nguyên về quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước

thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Quyết định số 58/2008/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về việc sửa đổi một số điều tại quy định ban hành kèm theo Quyết định số
2044/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 của UBND tỉnh về quy định thực hiện bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
- Quyết định số 1365/2004/QĐ-UBND ngày 21/6/2004 của UBND tỉnh
Thái Nguyên về việc ban hành quy định quản lý nhà nước về giá trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên.
- Quyết định số 3234/2004/QĐ-UBND ngày 24/12/2004 của UBND tỉnh
Thái Nguyên về việc quy định tổng thể giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
- Quyết định số 1590/2006/QĐ-UBND ngày 03/8/2006 của UBND tỉnh
Thái Nguyên v/v ban hành đơn giá bồi thường cây cối hoa màu gắn liền với đất khi
nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Quyết định số: 89/2004/QĐ-UBND, ngày 13 tháng 01 năm 2004 của Uỷ
ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc: Phân cấp quyết định bồi thường giải
phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 11/4/2008 của UBND tỉnh Thái
Nguyên v/v ban hành đơn giá bồi thường cây cối hoa màu gắn liền với đất khi nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


18
- Quyết định số: 3033/2007/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 của UBND tỉnh Thái
Nguyên v/v Quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2008;
- Quyết định số 23/2008/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 của UBND tỉnh Thái
Nguyên v/v ban hành đơn giá bồi thường nhaf vật kiến trúc gắn liền với đất khi

nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Quyết định số 37/2009/QĐ-UBND ngày 29/12/2009 của UBND tỉnh Thái
Nguyên v/v Quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2010;
- Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2010 của
UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Quyết định số 06/2010/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2010 của
UBND tỉnh Thái Nguyên về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy định kèm
Các chính sách về công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư do UBND tỉnh
Thái Nguyên ban hành cơ bản phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của địa
phương được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.
1.2.3. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày
càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế.
Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP
sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của Nghị định số 84/2007/NĐ-
CP đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật. Vì
thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết
quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được
xác định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho
công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng
thấy thỏa đáng.
Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân
bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ trợ đã được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


19

bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà
nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất.
Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư
cần đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành
chính trong việc thu hồi đất.
Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết
được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả.
Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai
năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính
sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn
bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn. Do đã vận dụng các
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành
bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây
trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện.
Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất
phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính
sách, của chính quyền địa phương được nâng lên. Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để
tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Tóm lại, những vấn đề nảy sinh trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư là không thể tránh khỏi đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là ở các nước đang
phát triển. Khắc phục những tồn tại đó sẽ đảm bảo sự ổn định, nâng cao điều kiện
sống cho người dân ở những khu vực có đất bị thu hồi, góp phần vào sự vận hành
và phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam.
1.2.4. Kết quả thực hiện chính sách pháp luật về bồi thương, hỗ trợ và tái định
cư tại huyện Phú Lương trong giai đoạn 2004-2010.
Trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010 trên địa bàn huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện khối lượng công tác bồi thường rất lớn, đáp ứng cơ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


20
bản yêu cầu giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình dự án, phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tại địa phương.
Tổng số dự án đã thực hiện được trong giai đoạn là 156 dự án với diện tích
thu hồi là 4.171 ha, số tiền bồi thường hỗ trợ khoảng 220 tỷ đồng, số hộ được bố
trí tái định cư là 350 hộ.
Nhìn chung các dự án đã thực hiện công tác tuyên truyền vận động nhân
dân chấp hành chủ trương thu hồi đất của Nhà nước tương đối tốt, công tác bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện công bằng dân chủ tạo lòng tin đối với
nhân dân, được nhân dân ủng hộ. Tuy nhiên, khi thực hiện cũng còn có dự án quá
trình triển khai thực hiện còn chưa nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân đó
là dự án cải tạo nâng cấp đường Quốc lộ 3 ở tất cả các gói thầu, nguyên nhân là do
dự án có tính chất tuyến, đi qua nhiều địa bàn, giá bồi thường, hỗ trợ trong cùng
một dự án khác nhau do vị trí đất, do liên quan đến các quy định về quản lý sử
dụng hành lang an toàn giao thông.
1.2.5. Khái quát về dự án
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hệ thống Quốc lộ và tỉnh lộ phân bố khá
hợp lý, phần lớn các đường đều xuất phát từ trục dọc Quốc lộ 3 đi trung tâm các
huyện lỵ, thị xã, các khu kinh tế, vùng mỏ, khu du lịch và thông với các tỉnh lân
cận. Quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái
Nguyên, chạy qua thành phố Thái Nguyên, nối Thái Nguyên với Hà Nội và các
tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Các quốc lộ 37, 18, 259 cùng với hệ thống tỉnh lộ,
huyện lộ là mạch máu giao thông quan trọng và thuận lợi nối Thái Nguyên với
các tỉnh xung quanh.
Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 3 đoạn Hà Nội - Thái Nguyên là dự án
đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam nói
chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Quốc lộ 3 hiện nay đã quá tải, không đáp

ứng yêu cầu phát triển Kinh tế - Xã hội khu vực giàu truyền thống cách mạng
với An toàn khu Định Hóa, vùng văn hóa Kinh Bắc trong thời gian tới. Với
những ý nghĩa đó, thời gian qua, các địa phương có tuyến đường đi qua đã nỗ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


21
lực hợp tác với chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để bàn giao
đúng tiến độ, phục vụ thi công.
Khi dự án hoàn thành sẽ rút ngắn thời gian lưu thông của phương tiện
vận tải trên tuyến Hà Nội - Thái Nguyên, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế xã hội, an
ninh, quốc phòng của Thái Nguyên, Hà Nội nói riêng và các tỉnh miền Bắc nói
chung, góp phần tạo thêm động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế cho khu vực
trung du - miền núi phía Bắc và mở thêm một hướng thông thương mới đối với
nước bạn Trung Quốc tại cửa khẩu Tà Lùng - Cao Bằng.
Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 3 đoạn tuyến tránh thành phố Thái
Nguyên qua địa bàn huyện Phú Lương là tiểu dự án nằm trong dự án cải tạo nâng
cấp Quốc lộ 3. Đoạn tuyến đi qua địa phận huyện Phú Lương nằm trên hai xã là
xã Sơn Cẩm và xã Cổ Lũng, do PMU 18 làm đại diện chủ đầu tư. Việc thu hồi
đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do địa phương (Ủy ban nhân dân huyện Phú
Lương) thực hiện.
Dự án được phê duyệt tại Quyết định số 2281/QĐ-BGTVT ngày 07/8/2002
của Bộ Giao thông vân tải.













×