Tải bản đầy đủ (.pdf) (156 trang)

Lý luận báo chí qua một số tạp chí lý luận và nghề nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.58 MB, 156 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




PHẠM THỊ HƯƠNG





LÝ LUẬN BÁO CHÍ
QUA MỘT SỐ TẠP CHÍ LÝ LUẬN VÀ NGHỀ NGHIỆP






LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ







HÀ NỘI – 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



PHẠM THỊ HƯƠNG



LÝ LUẬN BÁO CHÍ
QUA MỘT SỐ TẠP CHÍ LÝ LUẬN VÀ NGHỀ NGHIỆP


CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN DỮNG




HÀ NỘI - 2009



BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT






NLB : Người làm báo
NB : Nghề báo
LLCT&TT : Lý luận chính trị & Truyền thông


1
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
3
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài
3
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
5
3. Giả thuyết nghiên cứu
6
4. Mục đích, nhiệm vụ đề ra
6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
7
6. Phương pháp nghiên cứu
8
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
8

8. Kết cấu của luận văn
9
Chương 1:
LÝ LUẬN BÁO CHÍ VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN BÁO CHÍ
11
1.1. Một số khái niệm liên quan
11
1.2. Vai trò của lý luận báo chí đối với hoạt động thực tiễn báo chí
16
1.2.1. Vai trò lý luận đối với hoạt động thực tiễn nói chung
16
1.2.2. Vai trò của lý luận báo chí đối với hoạt động thực tiễn báo chí
18
1.3. Bước đầu tìm hiểu lĩnh vực “lý luận báo chí”
22
Tiểu kết chương 1
30
Chương 2:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM ĐƯỢC
CÔNG BỐ TRÊN CÁC TẠP CHÍ LÝ LUẬN VÀ NGHỀ NGHIỆP
32
2.1. Vai trò của các tạp chí lý luận nghề nghiệp trong việc chuyển tải các
kết quả nghiên cứu lý luận báo chí
32
2.2. Các vấn đề lý luận báo chí trên các tạp chí Người Làm Báo, Nghề
báo, Lý luận chính trị và Truyền thông, Tuyên giáo (2005-2008)
37
2.2.1. Vấn đề quan điểm, lập trường xã hội và nguyên tắc hoạt động của
báo chí Việt Nam trên các tạp chí lý luận nghề nghiệp

38
2.2.2. Các vấn đề Chức năng báo chí, công chúng báo chí, cơ chế và đối
44

2
tượng tác động của báo chí, hiệu lực và hiệu quả báo chí
2.2.3. Các vấn đề về chủ thể hoạt động báo chí
50
2.2.4. Các tạp chí lý luận nghề nghiệp báo chí – diễn đàn trao đổi, chia sẻ
kinh nghiệm, kỹ năng trong lao động sáng tạo sản phẩm báo chí
60
2.2.5. Các vấn đề về công nghệ và kỹ thuật truyền thông
70
2.2.6. Một số số liệu thống kê trên 4 tạp chí khảo sát
76
2.3. Lý luận báo chí nhìn từ đối tượng tiếp nhận
81
Tiểu kết chương 2
88
Chương 3:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ
90
3.1. Những thành tựu, kinh nghiệm
90
3.1.1. Thành tựu lý luận báo chí
93
3.1.2. Một vài kinh nghiệm

3.2. Một số tồn tại và vấn đề đặt ra cho việc phát triển lý luận báo chí ở
Việt Nam hiện nay

95
3.2.1. Những tồn tại, hạn chế chung của lý luận báo chí Việt Nam
95
3.2.2. Những hạn chế của các tạp chí trong việc chuyển tải thông tin lý
luận báo chí
97
3.2.3. Một số vấn đề đặt ra cho việc phát triển lý luận báo chí ở Việt Nam
hiện nay
98
3.3. Một số khuyến nghị nâng cao chất lượng thông tin lý luận trên các
tạp chí lý luận và nghề nghiệp
105
Tiểu kết chương 3
111
KẾT LUẬN
112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
PHỤ LỤC




3
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài
Hơn hai mươi năm đồng hành cùng đất nước đổi mới, báo chí nước ta
đã có bước trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt và ngày càng thể hiện tốt
vai trò xung kích của mình trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Đặc biệt là trong

những năm qua, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự mở cửa
hội nhập ngày càng sâu, rộng của đất nước với thế giới, lĩnh vực báo chí
truyền thông luôn đi trước một bước và không ngừng đổi mới để hoàn thành
chức năng, nhiệm vụ và bổn phận của mình, góp phần không nhỏ vào những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới, vào sự phát
triển bền vững của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hoạt động báo chí bao gồm nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, trong đó, lý luận
báo chí là một lĩnh vực đóng vai trò ngày càng quan trọng. Lý luận báo chí
làm nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, chỉ đạo, định hướng, làm cơ sở cho hoạt
động thực tiễn báo chí về mọi phương diện. Quan trọng hơn, một nền lý luận
phát triển phù hợp, đúng hướng sẽ là cơ sở nâng cao tính chuyên nghiệp của
hoạt động báo chí – hướng phát triển về chất của báo chí nước ta đang được
chú trọng.
Những năm qua, hoạt động nghiên cứu lý luận báo chí nước ta có sự
phát triển vượt trội, gắn bó mật thiết với thực tiễn báo chí thay đổi nhanh
chóng từng ngày. Có được thành tựu trên chính nhờ vào sự cộng hưởng của
sức mạnh nội tại của tập thể những người quản lý, những người nghiên cứu,
hoạt động trong lĩnh vực báo chí Việt Nam và quá trình giao lưu, hội nhập và
học hỏi từ các nền báo chí tiến bộ trong khu vực và trên thế giới.
Kết quả nghiên cứu lý luận báo chí thể hiện bằng nhiều con đường khác
nhau. Chúng ta có thể kể đến các bộ giáo trình và rất nhiều cuốn sách tham

4
khảo về chuyên ngành báo chí - truyền thông ngày càng xuất hiện trong sự đa
dạng, phong phú do các giảng viên của các cơ sở đạo tạo báo chí chính của cả
nước là Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Khoa Báo chí của Trường đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội biên soạn. Chúng ta cũng không thể
không kể đến các bộ giáo trình, cẩm nang nghề báo được dịch từ tài liệu nước
ngoài thời gian qua liên tục được xuất bản; những tài liệu của Hội Nhà báo
Việt Nam, Hội nhà báo các tỉnh.

Ngày nay, so với mười năm trước đây, những người quan tâm đến báo
chí, đặc biệt là sinh viên ngành báo bây giờ không còn khó khăn để tìm được
một tài liệu hay cuốn sách về lĩnh vực chuyên ngành. Đấy là chưa kể đến rất
nhiều những tuyển tập tác phẩm báo chí và kinh nghiệm làm báo của các nhà
báo tên tuổi trong nước cũng được xuất bản ngày càng nhiều. Những công
trình, những xuất bản phẩm về hoạt động lý luận và thực tiễn báo chí những
năm qua đã thực sự góp phần làm thay đổi bộ mặt của báo chí chúng ta cả về
bề rộng lẫn chiều sâu, từng bước tạo nên tính bền vững và tính chuyên nghiệp
của nền báo chí của một nước đang phát triển .
Tuy nhiên, nói đến lý luận báo chí một cách tươi mới và sinh động,
chúng ta phải kể đến những bài nghiên cứu, bài viết được công bố trên các tạp
chí lý luận, nghề nghiệp. Đây là những sản phẩm không chỉ của những nhà
nghiên cứu mà còn của các nhà báo và những người hoạt động báo chí -
truyền thông nói chung. Những tác phẩm viết về báo chí trên những tạp chí
này góp phần cung cấp một góc nhìn mới về lý luận báo chí Việt Nam một
cách chân thực và gần gũi.
Thế nhưng, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu, khảo
sát về những công trình được đang tải trên các tạp chí lý luận, nghề nghiệp để
có thể cấp một cái nhìn khái quát về vấn đề này. Thiết nghĩ, đó là việc làm
vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn nghề nghiệp, không chỉ để

5
góp phần khẳng định những thành tựu về mặt lý luận, những đóng góp trong
quá trình đổi mới tư duy và phong cách làm báo, mà quan trọng hơn là có thể
nhận ra những khoảng trống để có thể cùng nhau “lấp” dần, làm cho lý luận
báo chí nước ta dày dặn và phong phú thêm, góp phần tích cực hơn vào sự
nghiệp phát triển báo chí của Đảng.
Với ý nghĩa ấy, nhân dịp tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sĩ, chúng
tôi muốn góp một cái nhìn về vấn đề đang bàn tới, thông qua đề tài: Lý luận
báo chí qua một số tạp chí lý luận và nghề nghiệp (qua khảo sát các tạp chí

Người làm báo, Nghề báo, Lý luận chính trị và Truyền thông, Tuyên giáo từ
năm 2005 đến năm 2008).
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, đã có khá nhiều khoá luận tốt nghiệp đại học của sinh
viên báo chí, luận văn thạc sĩ báo chí (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh) tiếp cận, khai thác
các mảng khác nhau của lý luận báo chí như: loại hình, thể loại, tác phẩm,
lịch sử báo chí, ngôn ngữ báo chí, công chúng báo chí, quản lý báo chí Bên
cạnh đó, nhiều công trình, bài viết dù mang tính chuyên biệt cũng đã được
công bố khá liên tục trên các tờ báo, tạp chí chuyên ngành báo chí - truyền
thông những năm trở lại đây.
Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách tổng quan về lý luận báo chí trên tất cả các bình diện của vấn đề, để
có thể phác thảo bức tranh tổng quát về lý luận báo chí nước ta trên một số tạp
chí lý luận, nghề nghiệp. Vì lẽ đó, một công trình nghiên cứu, khảo sát tổng
quan về lý luận báo chí rất cần thiết và hữu ích trong giai đoạn hiện nay. Bởi
nó có thể cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về những vấn đề lý luận báo chí
được công bố trên các tạp chí chuyên ngành tiêu biểu ở nước ta trong những
năm gần đây. Tuy vậy, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ báo chí, chúng

6
tôi chỉ có thể có đủ thời gian và điều kiện để khảo sát, hệ thống các bài nghiên
cứu, bài viết về lý luận báo chí trên một số tạp chí lý luận, nghề nghiệp nhằm
góp một góc nhìn về lý luận báo chí Việt Nam. Đây là một đề tài mới, hy
vọng cũng có thể góp một góc tiếp cận có ích của người nghiên cứu đối với
hoạt động báo chí hiện nay.
3. Giả thuyết nghiên cứu.
Giả thuyết thứ nhất, có những nhận thức chưa thống nhất, chưa đầy đủ
về các lĩnh vực thuộc lý luận báo chí giữa các nhà báo, thậm chí giữa các nhà
nghiên cứu lý luận báo chí nước ta; do đó cần có sự chia sẻ về bức tranh tổng

quan các khía cạnh của lý luận báo chí, ngay cả cách phân loại vấn đề;
Giả thuyết thứ hai, các công trình nghiên cứu tiếng Việt về lý luận báo
chí ngày càng xuất hiện với tần số dày và thường xuyên hơn, cần được tổng
kết trên cơ sở một cái nhìn hệ thống và phân loại khoa học;
Giả thuyết thứ ba, các vấn đề lý luận báo chí công bố trên tạp chí được
khảo sát là bức tranh cận cảnh về vấn đề nghiên cứu có thể giúp nhìn rõ hơn
những thế mạnh và hạn chế cuả lý luận báo chí VN, từ đó tìm kiếm những
khuyến nghị khoa học hướng tới một nền lý luận báo chí hài hòa với trình độ
chuyên nghiệp ngày càng cao.
4. Mục đích, nhiệm vụ đề ra
Mục đích của luận văn:
- Góp phần tổng kết những vấn đề lý luận báo chí Việt Nam.
- Tìm hiểu vấn đề nghiên cứu lý luận báo chí, tổng kết thực tiễn hoạt
động báo chí những năm gần đây thông qua việc giới thiệu, phân tích, đánh
giá, tổng kết nội dung những bài viết, bài nghiên cứu về báo chí truyền thông
trên các tạp chí lý luận và nghề nghiệp.
- Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận báo chí, phân nhóm các
vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng vấn đề được đăng tải, phát hiện những vấn

7
đề và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường công tác lý luận báo chí ở
Việt Nam trong thời kỳ mới.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn chú trọng những nhiệm vụ
chủ yếu là:
- Hệ thống hoá vai trò của lý luận báo chí với sự phát triển của báo chí
Việt Nam hiện nay.
- Góp phần làm rõ nội hàm khái niệm lý luận báo chí và thử phân loại
các vấn đề này để có thể phác thảo bức tranh tổng quát về vấn đề nghiên cứu;
- Khảo sát những bài viết, bài nghiên cứu về các vấn đề của lý luận báo
chí được công bố trên các tạp chí lý luận và nghề nghiệp.

- Nêu ra những vấn đề và đề xuất một số khuyến nghị khoa học cụ thể
với mong muốn hoạt động nghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam được phát
triển hài hòa, cân đối hơn, phù hợp với sự phát triển chung của báo chí hiện
đại.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận báo chí. Đối tượng khảo
sát là các bài báo khoa học; các bài viết có tính chất tổng kết kinh nghiệm
hoạt động báo chí trên các tạp chí lý luận và nghề nghiệp: Lý luận chính trị
và truyền thông (tên cũ là Báo chí & tuyên truyền), Người làm báo, Nghề báo,
Tuyên giáo (Trước đây là tạp chí Tư tưởng và Khoa giáo) và một số ấn phẩm
có liên quan.
Phạm vi khảo sát:
Lý luận báo chí bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mảng khác nhau. Trong
khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi tiến hành phân nhóm và tập trung khảo
sát trên các tạp chí Người làm báo, Nghề báo, Lý luận chính trị và Truyền
thông, Tuyên giáo.

8
Thời gian khảo sát giới hạn từ tháng 01 năm 2005 đến tháng 12 năm
2008. Tất nhiên, khoảng thời gian trước giai đoạn này cũng được xem xét với
mục đích so sánh đối chiếu để thấy rõ hướng phát triển liên tục của vấn đề
nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận của luận văn lấy lý luận Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng và dựa vào quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về
hoạt động báo chí, về vị trí, vai trò của báo chí đối với sự nghiệp cách mạng
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Dựa vào hệ thống lý luận báo chí nước ta hiện nay, đặc biệt là những
thành tựu lý luận được tiếp thu trong quá trình đào tạo, về các nguyên tắc,

chức năng, của báo chí.
- Luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên quan điểm hệ thống.
Về phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân loại.
- Phương pháp phỏng vấn an-ket.
- Phương pháp phỏng vấn sâu, trao đổi, xin ý kiến chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, các thao tác chủ yếu là phân tích, tổng hợp,
so sánh đối chiếu được vận dụng để tập trung làm sáng tỏ vấn đề.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đây là một đề tài nghiên cứu, khảo sát trực tiếp lý luận báo chí. Cụ thể
là đề tài đi vào khảo sát, tổng kết những kết quả nghiên cứu các vấn đề lý luận
báo chí của các nhà nghiên cứu, các nhà báo và hoạt động trong lĩnh vực báo
chí - truyền thông được đăng tải trên các tạp chí lý luận. Như vậy, luận văn sẽ

9
đóng góp giá trị lý luận nhất định cho khoa học về báo chí - truyền thông nói
chung.
Về mặt thực tiễn, từ kết quả khảo sát, chúng tôi đưa ra những nhận xét
nhằm giúp những người quan tâm tới báo chí và lý luận báo chí nắm bắt được
thực trạng nghiên cứu báo chí hiện nay để có thể có những giải pháp và
hướng đi phù hợp. Luận văn cũng mạnh dạn đưa ra một số đề xuất khuyến
nghị với mong muốn công tác nghiên cứu lý luận báo chí phát triển đúng
hướng, cân đối, bền vững trong quá trình nâng cao tính chuyên nghiệp của
báo chí nước nhà. Luận văn cũng sẽ là một tài liệu tham khảo, góp phần vào
hệ thống tư liệu khoa học chung về báo chí - truyền thông, nhằm phục vụ
công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về báo chí hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ

lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận báo chí và vai trò của nó đối với hoạt động thực
tiễn báo chí. Chương này chủ yếu hệ thống hóa các khái niệm liên quan vấn
đề nghiên cứu, cố gắng làm rõ nội hàm khái niệm công cụ như lý luận và lý
luận báo chí. Trên cơ sở ấy, nói đến vai trò của lý luận, chia sẻ quan niệm và
làm tiền đề cho việc khảo sát ở chương 2.
Chương 2: Những vấn đề lý luận báo chí Việt Nam được công bố trên
các tạp chí lý luận và nghề nghiệp. Như tên gọi của nó, chương này cố gắng
khảo sát những vấn đề lý luận báo chí được đăng tải trên một số tạp chí lý
luận và nghề nghiệp; từ đó góp phần phác thảo bức tranh sống động của lý
luận báo chí nước ta, mức độ của tính mới mẻ, cập nhật của nó.
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và những khuyến nghị. Chương này
chủ yếu đưa ra một số nhận xét bước đầu, phát hiện những vấn đề qua khảo
sát; trên cơ sở đó, đề xuất một số khuyến nghị cho việc tiếp tục phát triển lý

10
luận báo chí nước ta, góp phần thúc đấy hoạt động báo chí phát triển trong
quá trình nâng cao tính chuyên nghiệp của báo chí.



























11
Chương 1:
LÝ LUẬN BÁO CHÍ VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN BÁO CHÍ

1.1. Một số khái niệm liên quan
 Lý thuyết và lý luận
Theo Từ điển Tiếng Việt - NXB Đà Nẵng 2007, lý thuyết được hiểu là
kiến thức về lý luận (nghĩa khái quát nhất). Cũng theo từ điển này, khái niệm
lý luận được giải thích là hệ thống những tư tưởng được khái quát từ kinh
nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn; và ở nhánh nghĩa thứ hai, đó
là những kiến thức được khái quát và hệ thống hoá trong một lĩnh vực nào đó
[nói tổng quát].
Như vậy, ở đây có thể thấy rõ cốt lõi của cả hai khái niệm này chính là
kiến thức được khái quát từ thực tiễn. Lý luận xuất phát từ việc tổng kết đúc
rút kinh nghiệm thực tiễn để tạo lập lý thuyết.

Trong ngôn ngữ đời sống hàng ngày, lý thuyết và lý luận vẫn thường
được dùng với ý đối lập với thực tiễn. Ví dụ cho rằng, “ông ấy là người rất lý
thuyết”, tức nói về một con người luôn coi trọng lý thuyết, sách vở nhưng lại
xem nhẹ (hoặc thiếu) các kinh nghiệm, kiến thức rút ra từ thực tiễn. Tức là
không (hoặc thiếu) thực tiễn, thực tế.
Từ đó, trong lĩnh vực hoạt động báo chí, nói đến lý thuyết báo chí hay
lý luận báo chí chính là nói đến hệ thống kiến thức chuyên ngành báo chí
được tổng kết và đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn hoạt động báo chí.
Anghen từng khẳng định trong “Phép biện chứng tự nhiên”: “Một dân
tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học, thì không thể phút giây nào vắng
tư duy lý thuyết”. Tất nhiên, sẽ rất khôi hài nếu ta quá đề cao vai vai trò của
lý thuyết, lý luận đối với một quá trình sáng tạo cụ thể như trong lĩnh vực báo

12
chí. Nhưng một thực tế không thể phủ nhận rằng: hầu như các nền báo chí lớn
trên thế giới đều tương ứng với di sản lý luận phong phú và sâu sắc. Còn ở
Việt Nam, lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực hoạt động báo chí còn tồn tại
khoảng cách khá xa, bởi vậy lâu nay chúng ta vẫn thường nghe nhắc đến
những câu, những nhận định đại loại như: “coi trọng lý thuyết hơn thực
hành”, hay ngược lại, “chỉ dựa vào kinh nghiệm mà bỏ rơi nền tảng lý luận”,
hoặc đặt dấu hỏi “chọn kiến thức chuyên ngành hay năng khiếu bẩm sinh?”
 Báo chí và lý luận báo chí
Báo chí
Khái niệm báo chí ban đầu được dùng để gọi tên báo và tạp chí của loại
hình Báo in. Theo đó, báo chí được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ,
được in ấn với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo công chúng
trong toàn xã hội. Sau hơn ba trăm năm chỉ có loại hình Báo in thống trị, lịch
sử báo chí thế giới lần lượt đón nhận sự ra đời của các loại hình báo chí mới
trong thế kỷ XX: đầu thế kỷ với loại hình Phát thanh, Truyền hình xuất hiện
vào đầu và giữa thế kỷ; cuối thế kỷ là sự ra đời của loại hình Báo điện tử đăng

tải trên mạng internet. Từ đây, khái niệm báo chí được mở rộng, làm tên gọi
chung cho tất cả các loại hình báo chí có mặt hiện tại bao gồm Báo in, Phát
thanh, Truyền hình và Báo mạng điện tử.
Các định nghĩa trong các từ điển và các tài liệu nghiên cứu khác những
năm gần đây cũng đã giải thích rõ về thuật ngữ này:
Theo từ điển Tiếng Việt - NXB Đà Nẵng 2007, Báo là hình thức thông
tin tuyên truyền có tính chất đại chúng, được thể hiện qua các ấn phẩm định
kỳ hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác (như truyền thanh,
truyền hình, internet), có đưa tin, bài, tranh ảnh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia giải nghĩa: Báo, hay gọi đầy đủ là
báo chí (xuất phát từ 2 từ "báo" - thông báo - và "chí" - giấy), nói một cách

13
khái quát là những xuất bản phẩm định kỳ. Báo chí là tên gọi chung của các
thể loại thông tin đại chúng. Có những loại báo chí sau: báo viết, báo nói, báo
hình, báo điện tử.
Phạm Thành Hưng trong Thuật ngữ Báo chí - truyền thông [25, tr.33]
cũng khẳng định: Báo là loại ấn phẩm nhẹ, chuyển tải tin tức, xuất bản liên
tục, đều kỳ. Hiểu theo nghĩa hẹp, báo chỉ báo gồm các loại báo ra hàng ngày,
gọi tắt là nhật báo, và những tờ báo định kỳ theo tuần hoặc trong tuần, phục
vụ đông đảo mọi tầng lớp độc giả, với mục đích thông tin rộng rãi cho toàn xã
hội Do có tuổi lịch sử cao nhất, chiếm vị trí lão làng, báo còn làm thuật ngữ
dùng chung cho các phương tiện truyền thông hiện đại như Phát thanh - gọi
nôm na là báo nói, Truyền hình - gọi nôm na là báo hình và Báo trên mạng
Internet - gọi là báo điện tử.
Thuật ngữ báo chí cũng được giải thích rõ trong Luật báo chí Việt Nam
- tại điều 3 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí: Báo chí nói
trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin
thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình
(chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện

bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên
mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt
Nam, tiếng nước ngoài.
Tóm lại, báo chí là một trong những hiện tượng phức tạp, tuỳ theo góc
độ tiếp cận khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, hiểu báo
chí một cách trực diện nhất, như đã phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng: Theo
nghĩa hẹp, báo chí là những ấn phẩm được xuất bản định kỳ (bao gồm nhật
báo, báo thưa kỳ, bản tin thời sự, bản tin thông tấn) với số lượng lớn nhằm
phục vụ đông đảo các tầng lớp công chúng. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ báo
chí được dùng để chỉ chung các loại hình truyền thông đại chúng hiện đại bao

14
gồm báo in, báo phát thanh (báo nói), báo truyền hình (báo hình) và báo mạng
điện tử. Có một số ý kiến gọi báo mạng điện tử là báo điện tử, theo chúng tôi
là không chính xác. Bởi thuật ngữ báo điện tử bao gồm cả báo phát thanh và
báo truyền hình.
Về khái niệm báo chí và khái niệm truyền thông đại chúng, trên thực tế
những năm gần đây, nhiều người vẫn dùng lẫn lộn hai khái niệm này. Có một
số văn bản còn viết: truyền thông đại chúng (gọi tắt là báo chí). Cách nói này
không thật chính xác bởi lẽ, khái niệm truyền thông đại chúng có nghĩa rộng
hơn khái niệm báo chí rất nhiều. Truyền thông đại chúng bao gồm báo chí và
các kênh truyền thông khác, như sách, điện ảnh, các dịch vụ tin tức, internet,
trạm thu phát sóng vệ tinh, các phương tiện nghe - nhìn, panô-áp phích, tờ
rơi Trong các kênh của truyền thông đại chúng, “do tính chất và đặc trung
vốn có của mình, báo chí chiếm vị trí trung tâm, nền tảng và có vai trò chi
phối, quyết định khuynh hướng, sức mạnh của truyền thông đại chúng nói
chung. Do đó, trong nhiều trường hợp, người ta dùng khái niệm báo chí để chỉ
các phương tiện truyền thông đại chúng; và ngược lại, khi nói truyền thông
đại chúng thì trước hết và chủ yếu cũng nói đến báo chí” [57, tr.41].
Lý luận báo chí

Đời sống thực tiễn có bao nhiêu vấn đề, lĩnh vực hoạt động thì có bấy
nhiêu vấn đề, lĩnh vực được nghiên cứu tổng kết, đúc rút thành lý luận. Đời
sống thực tiễn báo chí vô cùng phong phú và đa dạng, do đó, các vấn đề lý
luận báo chí được tổng kết cũng hết sức đa dạng và phong phú. Chúng bao
gồm tất cả những khía cạnh, cấp độ, bình diện được tổng kết từ thực tiễn vận
hành của mạng lưới báo chí. Lý luận báo chí được tổng kết nhằm mục đích
trở lại phục vụ thực tiễn báo chí là chi phối và chỉ đạo, định hướng hoạt động
thực tiễn báo chí nhằm tăng cường chất lượng hoạt động của mỗi nhà báo,

15
mỗi cơ quan báo chí và cả hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng. Có
thể kể ra đây những vấn đề của lý luận báo chí được tổng kết lâu nay như sau:
Trước hết và chiếm vị trí trung tâm là khái niệm Báo chí – đã làm rõ ở
trên.
Những vấn đề lý luận cơ bản của báo chí bao gồm: Nguyên tắc hoạt
động; đặc trưng; chức năng; luật pháp báo chí; tự do báo chí; đạo đức báo
chí; nhà báo - đạo đức và trách nhiệm xã hội; công chúng báo chí; đối tượng
và cơ chế tác động của báo chí; hiệu lực và hiệu quả báo chí; thể loại tác
phẩm báo chí; phong cách sáng tạo;
Lý luận báo chí bao gồm cả những kinh nghiệm lao động sáng tạo tác
phẩm được rút ra từ thực tế hành nghề tác nghiệp, bao gồm các kỹ năng khai
thác tài liệu, xử lý thông tin, chọn lựa chi tiết, sự kiện, vận dụng hình thức thể
loại, cách thức sử dụng ngôn ngữ, lao động phóng sự, lao động đặt tít
Các kết quả nghiên cứu về kênh chuyển tải của các loại hình báo chí,
vai trò, tác dụng, năng lực tổ chức khai thác các kênh truyền dẫn, khả năng
phối hợp, cạnh tranh giữa chúng cũng như việc nghiên cứu về các giải pháp
công nghệ và kỹ thuật truyền thông, cũng là một mảng kiến thức đáng chú ý
của lý luận báo chí hiện đại.
Ở một khía cạnh khác, lý luận báo chí còn thể hiện ở việc tổng kết các
phương thức tổ chức thiết kế hệ thống báo chí của mỗi nền báo chí khác nhau.

Chúng ta có lý luận báo chí của Liên Xô, của Anh, của Mỹ, của Trung Quốc
Mỗi nhà nước, mỗi chế độ chính trị và văn hóa khác nhau sẽ có những nền lý
luận báo chí mang đậm dấu ấn của mình trên cơ sở những điểm chung của
khoa học lý luận báo chí. Như vậy, khi nói đến Lý luận báo chí Mỹ hay Lý
luận báo chí Việt Nam, chúng ta hiểu rằng, đó là tình hình lý luận báo chí hay
là kết quả tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và sự giao lưu chia sẻ, những khuynh
hướng nghiên cứu báo chí ở Mỹ hay ở Việt Nam trong giai đoạn cụ thể, chứ

16
không phải hiểu đó là một ngành khoa học hay một bộ môn khoa học riêng
của Mỹ, kiểu Mỹ hay riêng của Việt Nam, kiểu Việt Nam. Ví dụ ở nước ta
thời bao cấp, báo chí được quan niệm đơn thuần là công cụ tuyên truyền, do
đó, lý luận báo chí của ta tuyệt đối hoá chức năng tuyên truyền của báo chí.
Bước sang thời kinh tế thị trường, chức năng thông tin được nhìn nhận, được
tổng kết
Trên đây là bức tranh tổng quan về những vấn đề của Lý luận báo chí
cho đến ngày nay. Thực tiễn đời sống báo chí vô cùng sôi động và đang thay
đổi từng ngày, “bức tranh” lý luận báo chí vì thế sẽ tiếp tục được thay đổi, bổ
sung và hoàn thiện. Việc thống kê những vấn đề lý luận báo chí như trên giúp
chúng ta có thể hình dung bước đầu về hình hài của lĩnh vực lý luận báo chí;
đồng thời, làm cơ sở cho việc phân chia thành các nhóm vấn đề lý luận báo
chí được trình bày ở phần sau.
1.2. Vai trò của lý luận báo chí đối với hoạt động thực tiễn báo chí
1.2.1. Vai trò lý luận đối với hoạt động thực tiễn nói chung
Theo triết học Duy vật biện chứng, lý luận khoa học là hệ thống những
tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn và cả những mối liên
hệ bản chất mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách
quan và được biểu đạt bằng hệ thống các nguyên lý, phạm trù, khái niệm có
tính quy luật.
Trong mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, thực tiễn đóng vai trò

quyết định. Thể hiện ở chỗ, thực tiễn quyết định cả về nội dung, nhiệm vụ,
khuynh hướng phát triển của lý luận. Hay nói cách khác, thực tiễn thế nào thì
lý luận thế ấy, thực tiễn thay đổi thì sớm muộn gì lý luận cũng thay đổi bởi vì
thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, là động lực, là mục đích của nhận thức. Ngược
lại, lý luận có vai trò to lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp
phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người.

17
Lý luận có vai trò trong việc xác định mục tiêu, phương hướng cho
hoạt động thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn hiệu quả hơn. Bàn về lý
luận, Các Mác từng nói: “Cố nhiên là vũ khí của sự phê phán không thể thay
thế được sự phê phán bằng vũ khí; lực lượng vật chất chỉ có thể được đánh đổ
bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất
khi nó thâm nhập vào quần chúng”
1
. Như vậy, khi lý luận thâm nhập vào hoạt
động thực tiễn của con người nó cũng sẽ biến thành lực lượng vật chất. Sức
mạnh của nó tăng lên gấp bội. V.I.Lênin cũng khẳng định: “Không có lý luận
cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”.
Lý luận có thể dự kiến được sự vận động và phát triển của sự vật trong
tương lai, từ đó vạch ra phương hướng đi cho thực tiễn, chỉ rõ những phương
pháp hành động có hiệu quả nhất để đạt mục đích của thực tiễn. Nhờ có lý
luận khoa học mà hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế
tình trạng mò mẫm, tự phát. Đánh giá vai trò và ý nghĩa lớn lao của lý luận
đối với thực tiễn, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Lý luận như cái kim chỉ nam, nó
chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì
lúng túng như nhắm mặt mà đi"
2
. "Làm mà không có lý luận thì không khác
gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp"

3
. Làm mò mẫm
chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, coi khinh lý luận
không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa mà còn dẫn tới bệnh giáo điều.
Đó là việc không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực
tiễn mới nảy sinh, hoặc do không hiểu nên dù có vận dụng cũng không sát
thực tế, không phù hợp với thực tiễn.
Tất nhiên, lý luận phải bắt nguồn từ thực tiễn, được kiểm nghiệm trong
thực tiễn, phục vụ thực tiễn. Lý luận nảy sinh trên nền tảng thực tiễn, là kết


1
Các Mác và P.Ăngghen, Tuyển tập, t1, NXB Sự thật, H, 1980, tr.25
2
Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG 1995, tập 5, tr. 234 – 235
3
Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB CTQG 1995, tập 6, tr. 47

18
quả của sự đúc rút, khái quát thực tiễn. Chính vì thế, việc nghiên cứu và tổng
kết thực tiễn là một yêu cầu không thể thiếu của công tác lý luận. “Lý luận cốt
để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc
thực tế là lý luận suông”. Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ
thực tiễn, nếu không, cũng mắc bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý
nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn, đóng vai
trò soi đường, dẫn dắt chỉ đạo thực tiễn.
Thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải được điều chỉnh, đổi mới. Thực
tiễn đời sống xã hội thay đổi không ngừng, vì vậy, các nguyên lý lý luận có
thể đúng ở một thời điểm nhất định nhưng ở những thời điểm khác lại không
phù hợp. Cho nên không thể coi mọi nguyên lý lý luận đều có thể vận dụng

như nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Cả thực tiễn và lý luận đều đòi
hỏi một sự sáng tạo của con người trong quá trình vận dụng nguyên lý lý
luận; không được phép rập khuôn, máy móc, giáo điều trong quá trình vận
dụng lý luận. Nếu rơi vào những khuyết điểm này sẽ hoàn toàn phản khoa
học.
Tóm lại, lý luận có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống thực tiễn.
Đó là những nguyên lý được đúc kết một cách khoa học, có ý nghĩa phổ biến,
có tác dụng giúp con người nhận thức bản chất, khắc phục những nhận thức
cảm tính, trực quan bề ngoài, làm cơ sở để xác định phương hướng đúng đắn
trong hoạt động thực tiễn, mở đường đi tới tương lai Tất nhiên, lý luận phải
bắt nguồn từ thực tiễn, được kiểm nghiệm trong thực tiễn, phục vụ thực tiễn.
Thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải được điều chỉnh, đổi mới.
1.2.2. Vai trò của lý luận báo chí đối với hoạt động thực tiễn báo chí
Cũng như các lĩnh vực văn học nghệ thuật thực tiễn sáng tác bao giờ
cũng đi trước. Trên cơ sở thực tiễn ấy, đến một độ chín muồi nào đó, hoạt
động nghiên cứu lý luận mới ra đời. Báo chí không nằm ngoài quy luật đó.

19
Khi báo chí phát triển, tất yếu sẽ hình thành và phát triển lý luận và khoa học
về báo chí.
Lý luận báo chí ra đời, hình thành và phát triển do nhu cầu chỉ đạo,
định hướng hoạt động báo chí. Đây cũng chính là vai trò quan trọng của lý
luận báo chí đối với hoạt động thực tiễn nghề nghiệp. Một hệ thống lý luận
được đúc rút, tổng kết kịp thời, khoa học luôn có tác dụng chỉ đạo, định
hướng, làm cơ sở cho thực tiễn báo chí phát triển đúng hướng, cân đối và bền
vững.
Với tư cách là một khoa học, lý luận báo chí thường chìm ẩn và lặng lẽ.
Và như người dẫn đường kiệm lời, lý luận báo chí dẫn dắt hoạt động thực tiễn
vượt qua những lúng túng, những thách thức để tiến đến những giá trị của con
người, của thời đại. Mặt khác, vai trò đột phá, mở đường của lý luận báo chí

được thể hiện và phát huy ở những thời điểm khó khăn của thực tiễn. Ví dụ
khi xã hội bước vào một giai đoạn mới, tiếp nhận những giá trị mới trong khi
thực tiễn sáng tạo báo chí giẫm chân tại chỗ, chưa đáp ứng được những đòi
hỏi của thời đại, của xã hội Ở các nước phát triển trên thế giới, những vấn
đề lý luận báo chí cũng như kinh nghiệm, phương pháp hoạt động của các
phương tiện truyền thông đại chúng được quan tâm nghiên cứu một cách
thường xuyên. Bởi rằng không riêng gì lĩnh vực báo chí, bất cứ hoạt động có
mục đích nào của con người nếu không dựa trên một phương pháp luận sáng
rõ và một nền lý luận khoa học thì khó lòng đạt được hiệu quả cao.
Lý luận báo chí góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động
báo chí, trước hết là đối với hoạt động của nhà báo. Đối với những người trực
tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí, hơn ai hết, phần đông
trong số họ ý thức được tầm quan trọng của kiến thức lý luận nền tảng chi
phối trong suốt quá trình làm nghề. Không riêng lĩnh vực hoạt động báo chí,
lý luận cần thiết cho mọi hoạt động của con người. Con người khác với các

20
sinh vật khác, trước khi làm một việc gì đều hình dung trong óc công việc sắp
làm, nghĩa là có ý niệm, có lý tưởng, có lý luận về nó. Đặc trưng này còn thể
hiện rõ hơn trong những hoạt động đòi hỏi cao về năng lực tư duy, về sự sáng
tạo mà hoạt động báo chí là một điển hình.
Lâu nay, ở nước ta, tồn tại nhiều ý kiến tranh luận xung quanh việc
làm báo chọn kiến thức chuyên ngành hay năng khiếu bẩm sinh. Và trên thực
tế ở nước ta, người làm báo vẫn thường chỉ dựa vào một thứ năng lực đó là
khả năng viết lách tốt, cử nhân văn khoa đôi khi được đánh giá cao trong lĩnh
vực truyền thông hơn là cử nhân báo chí. Dẫu rằng báo chí là một nghề
nghiệp đặc thù quy tụ lao động từ rất nhiều ngành nghề khác nhau (văn học,
sử học, ngôn ngữ học, triết học, xã hội học, kinh tế, luật ), nhưng rõ ràng,
mỗi nghề nghiệp đều cần phải dựa trên một hệ thống kiến thức chuyên biệt
mà ai muốn vào nghề phải nắm vững qua quy trình giáo dục bài bản. “Nếu

chỉ cần chụp ảnh tốt là có thể thành phóng viên ảnh thì nhà báo khác anh thợ
ảnh ở đâu? Cũng vậy, một MC chương trình giải trí trên truyền hình khác gì
một phóng viên ra hiện trường và trực tiếp tường thuật tin từ đó? Rộng hơn
nữa, nếu viết tốt là có thể thành nhà báo thì nhà báo khác gì những cư dân
mạng mê viết và giao tiếp, lập ra blog riêng để chia sẻ những điều tai nghe
mắt thấy trong đời sống hàng ngày, những quan điểm về đời sống xã
hội…?”
1
. Làm báo nếu chỉ dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm, vào thực hành thì
cũng chẳng khác gì người mù đi đường nhờ vào trí nhớ. Vậy khi đường đi
thay đổi, nhất định họ sẽ có những váp váp, và có giỏi đến mấy thì họ cũng
phải mất rất nhiều thời gian mới lại thành thói quen, thành kinh nghiệm trên
con đường mới; dù có kinh nghiệm dày dặn đến mấy nhưng nếu thiếu những
tri thức khoa học làm cơ sở, khả năng cá nhân không thể được phát huy một


1
Nguyễn Đức An - Bỏ rơi hệ thống tri thức chuyên ngành, Tuanvietnam.net -
03/11/2007 06:35 (GMT + 7)

21
cách đầy đủ, toàn diện trong nghề báo, đấy là chưa kể đến những tình huống
do thiếu hiểu biết nên làm ẩu, làm liều.
Có nền tảng lý luận chuyên ngành vững chắc đồng hành trong quá trình
tác nghiệp, nhà báo có khả năng nắm bắt thực tiễn, xử lý tình huống nhanh, dễ
dàng thích ứng với mọi thay đổi của cuộc sống, tự tin, độc lập sáng tạo với tư
thế của người làm báo chuyên nghiệp. Một nền báo chí với nhiều chủ thể làm
báo chuyên nghiệp (người quản lý báo chí chuyên nghiệp, người lao động
sáng tạo tác phẩm chuyên nghiệp, đội ngũ những người biên tập chuyên
nghiệp và đội ngũ những người vận hàng kỹ thuật truyền tải thông tin chuyên

nghiệp) nhất định là một nền báo chí phát triển. Từ đó có thể khẳng định, lý
luận báo chí có vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp của
hoạt động báo chí.
Vai trò quan trọng của lý luận báo chí đối với thực tiễn báo chí chỉ
được thực hiện khi lý luận ấy xuất phát từ thực tiễn báo chí sôi động mỗi
ngày, được kiểm nghiệm trong thực tiễn và áp dụng giải quyết những vấn đề
do thực tiễn báo chí đặt ra. Trong điều kiện thực tiễn báo chí phát triển quá
nhanh chóng hiện nay, lý luận báo chí phải liên tục được nhìn nhận, bổ sung,
tổng kết kịp thời, thậm chí lý luận phải đi trước chứ không phải chạy theo
thực tiễn. Lý luận ngày hôm qua dù đúng đắn, cao xa đến mấy cũng lạc hậu
với hôm nay, nhất là trong thời đại mới. Sự lạc hậu trong lý luận là nguyên
nhân dẫn đến thất bại trong thực tiễn.
Ở Việt Nam, nghiên cứu lý luận báo chí là một lĩnh vực còn khá mới
mẻ và muộn màng. Nhìn chung là lý luận báo chí của ta chưa theo kịp với
thực tiễn, do đó, vai trò dẫn đường đối với thực tiễn báo chí chưa được ghi
nhận đúng mức. Dù vậy, lý luận báo chí của ta bước đầu đã tạo dựng được
diện mạo của mình dù rất khiêm tốn trong dòng chảy lịch sử báo chí nước
nhà. Khoảng chục năm trở lại đây, các kết quả nghiên cứu lý luận báo chí trên

22
các khía cạnh, bình diện liên tục được công bố là một cố gắng đáng ghi nhận.
Hoạt động của những người nghiên cứu lý luận báo chí không chỉ có vai trò to
lớn đối với thực tiễn nghề nghiệp mà còn dần khẳng định được vị trí của một
lĩnh vực khoa học trong đời sống xã hội Việt Nam.
1.3. Bước đầu tìm hiểu lĩnh vực “lý luận báo chí”
So với báo chí thế giới thì báo chí Việt Nam xuất hiện muộn. Và càng
muộn hơn nữa là sự hình thành và phát triển khoa học lý luận báo chí. Kể từ
khi tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên - tờ Gia Định báo ra đời năm 1865 –
cho đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975, báo chí đã trở thành
một hoạt động tinh thần đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội. Nhưng

trong hơn trăm năm đó, thành tựu nghiên cứu lý luận báo chí Việt Nam chưa
có gì đáng kể ngoài một số công trình về lịch sử báo chí.
Sau 1975, chúng ta xây dựng một nền báo chí thống nhất theo quan
điểm chính thống. Và nền báo chí Việt Nam chỉ thực sự khởi sắc từ khi đất
nước thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng năm 1986. Song
hành với thực tiễn báo chí trong những năm tháng đổi mới, hoạt động nghiên
cứu lý luận báo chí cũng được đặt ra bức thiết hơn. Đặc biệt, có thể khẳng
định rằng, chưa bao giờ, ở Việt Nam, việc nghiên cứu tổng kết lý luận báo chí
được quan tâm rộng rãi như những năm gần đây. Vai trò ngày càng quan
trọng của báo chí trong đời sống xã hội và những biến đổi nhanh chóng, toàn
diện của nền kinh tế đất nước cùng với quá trình giao lưu hợp tác quốc tế sâu
rộng là những điều kiện chính thúc đẩy việc phát triển nghiên cứu lý luận báo
chí. Bên cạnh đó, đội ngũ nghiên cứu lý luận báo chí ngày càng được bổ sung
bởi những người đã qua học tập và nghiên cứu báo chí ở các nước Úc, Anh,
Mỹ Hơn nữa, trước thực tiễn phát triển qua nhanh chóng, lý luận phải được
liên tục cập nhật, làm mới để có thể phát huy được tính năng động và hiệu
quả; sự hợp tác quốc tế sâu rộng trên các lĩnh vực trong đó có báo chí, các

×