Tải bản đầy đủ (.doc) (81 trang)

QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY THÀNH TỰU CŨNG NHƯ KHẮC PHỤC HẠN CHẾ CỦA CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (552.11 KB, 81 trang )

Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank)
- AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area)
- APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific
Economic Cooperation)
- ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations)
- CEPT: chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của AFTA
(Common Effective Preferential Tariff)
- CNXH: Chủ nghĩa xã hội
- CNTB: Chủ nghĩa Tư bản
- CPRGS: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
(Comprehensive Poverty Reduction and Growth Strategy)
- DN: Doanh nghiệp
- EU: Liên minh Châu Âu (European Union)
- FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
- FPI: Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment)
- HDI: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index)
- IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế (International Moneytary Fund)
- MDGs: Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development
Goals)
- NGO: Tổ chức phi chính phủ (Non-Governmental Organization)
- ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
- SEV: Hội đồng Tương trợ Kinh tế (tiếng Nga: Совет экономической
взаимопомощи Sovyet Ekonomičeskoy Vzaimopomošči, SEV (СЭВ, SEW); tiếng
Anh: Council of Mutual Economic Assistance, COMECON hoặc CMEA)
1
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
- TNC: Công ty xuyên quốc gia (Transnational corporation)
- VDG: Mục tiêu phát triển Việt Nam (Vietnam Development Goals)


- VNĐ: Việt Nam Đồng
- WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
- WB: Ngân hàng thế giới (World Bank)
2
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.............................................................................................................1
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................................5
1. Sự cần thiết của đề tài...................................................................................................................5
- Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi Mới với quá trình mở cửa nền kinh tế và tự do hoá dần nền
kinh tế, thủ tiêu dân cơ chế kinh tế cũ từ năm 1986. Những thành quả và sự tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam trong những năm sau Đổi Mới đã đem lại những tiến bộ trong thu nhập của đại bộ
phận nền kinh tế - xã hội nhưng bên cạnh đó còn tồn tại vấn đề mang tính cấp thiết đó là một bộ
phận không nhỏ người dân vẫn phải sống trong điều kiện nghèo đói. ...........................................5
2.Tình hình nghiên cứu.....................................................................................................................5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................................6
4.Đối tượng và phạm vi phạm nghiên cứu.......................................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................................................6
6. Đóng góp của đề tài.......................................................................................................................6
7. Bố cục của đề tài...........................................................................................................................6
CHƯƠNG 1..........................................................................................................................................8
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO.......................................8
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI........................................................................8
1.1.1. Các định nghĩa về nghèo đói...............................................................................................9
1.1.2. Nguyên nhân gây ra nghèo đói.........................................................................................11
1.1.3. Tiêu chí nghèo đói.............................................................................................................22
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ
CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO........................................................25
1.2.1. Tác động đối với kinh tế - xã hội......................................................................................25
1.2.2. Sự cần thiết của công tác xoá đói giảm nghèo.................................................................26

1.3. VẤN ĐỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO......................................................................................27
1.3.1. Định nghĩa xoá đói giảm nghèo........................................................................................27
1.3.2. Mục tiêu Thiên Niên Kỷ và vấn đề xoá đói giảm nghèo.................................................27
CHƯƠNG 2 .......................................................................................................................................30
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT
NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY................................................................................................................30
2.1. TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY......................................31
2.2. NGUYÊN NHÂN.....................................................................................................................37
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan......................................................................................................37
2.2.2. Nguyên nhân khách quan..................................................................................................45
2.3. CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM...............................................47
2.3.1. Những chính sách của Nhà nước trong công tác xoá đói giảm nghèo.............................47
2.3.2. Những thành tựu của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1986 đến
nay...............................................................................................................................................58
2.3.3. Những hạn chế của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ 1986 đến nay......65
CHƯƠNG 3........................................................................................................................................70
QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY THÀNH TỰU CŨNG NHƯ
KHẮC PHỤC HẠN CHẾ CỦA CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM TỚI...........................................................................................................70
3.1. Dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm để nâng cao đời sống cho người nghèo.........70
3
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
3.2. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa
và bảo vệ môi trường ......................................................................................................................71
3.3. Xã hội hóa các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là về nguồn lực hướng tới phát triển
bền vững..........................................................................................................................................72
3.4. Đổi mới công tác tổ chức, bảo đảm tính công khai, minh bạch và làm rõ trách nhiệm trong
việc lập kế hoạch, tạo điều kiện để chính quyền địa phương chủ động, người dân bàn bạc, thảo
luận, nhằm tạo ra sự đồng thuận và hợp tác, quyết tâm vượt nghèo, vươn lên làm giàu của các xã
nghèo, vùng nghèo và chính bản thân người nghèo trong quá trình triển khai chương trình xóa

đói, giảm nghèo ..............................................................................................................................73
3.5. Tiến hành đổi mới nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn và
hướng tới thị trường........................................................................................................................74
3.6. Quán triệt cho người dân và cán bộ nhà nước nhận thức đúng đắn ý nghĩa và tầm quan trọng
của công tác xoá đói giảm nghèo....................................................................................................75
KẾT LUẬN........................................................................................................................................77
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................79
4
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
- Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi Mới với quá trình mở cửa nền kinh tế và tự
do hoá dần nền kinh tế, thủ tiêu dân cơ chế kinh tế cũ từ năm 1986. Những thành
quả và sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm sau Đổi Mới đã đem
lại những tiến bộ trong thu nhập của đại bộ phận nền kinh tế - xã hội nhưng bên
cạnh đó còn tồn tại vấn đề mang tính cấp thiết đó là một bộ phận không nhỏ người
dân vẫn phải sống trong điều kiện nghèo đói.
- Nghèo đói và khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư ngày
càng gia tăng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng bất ổn về chính trị
- kinh tế - xã hội trong tương lai gần nếu không có chính sách đúng đắn và biện
pháp kịp thời.
- Xoá đói giảm nghèo là một công cuộc lâu dài, cần có sự nhìn nhận đánh giá
tổng quát để nhìn nhận rõ những thành tựu để phát huy và những khuyết điểm để
có biện pháp khắc phục.
2.Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng
đói nghèo và đánh giá về công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, như:
*. Giảm đói nghèo ở Việt nam: Những con số nói lên điều gì? - Litchfield, J. và
Justino, P. (2002), PRUS Tài liệu nghiên cứu no. 8. Đại học Sussex, Brighton.
*. Khảo sát về mức sống tại Việt nam1992-93: Thông tin cơ bản, Đói nghèo và

sự Phân chia các nguồn nhân lực. - Ngân hàng thế giới (World bank, 12/ 1994, cập
nhật năm 2000
*. Khảo sát về mức sống tại Việt nam 1997-98: Thông tin cơ bản, Đói nghèo và
Sự phân chia các nguồn nhân lực. - Ngân hàng thế giới (World bank, 4/ 2001)
*. Các vấn đề được lựa chọn của Việt nam, Báo cáo của cán bộ khu vực số
99/55, Quỹ Tiền tệ quốc tế (1999) Washington D.C.
*.Toàn cầu hoá và tình trạng đói nghèo ở Việt nam. - Bản tổng kết 10 tài liệu về
Chương trình nghiên cứu Toàn cầu hoá và tình trạng đói nghèo của Cơ quan Phát
triển Quốc tế của Vương quốc Anh (DFID), do John Thoburn and Richard Jones
thực hiện.
5
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
*. Báo cáo của UNDP về tốc độ xoá đói giảm nghèo của Việt Nam và các thành
tựu trong mục tiêu Thiên Niên Kỷ (MDG) (tháng 9 năm 2003)
*. Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta - thành tựu, thách thức và giải pháp – Phạm
Gia Khiêm - Tạp chí Cộng sản (số 2+3 – 2006).
*. Khảo sát mức sống ở Việt Nam 1997-98 – phân tích, Hà Nội 1999/VN Vũ
Tuấn Anh, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
Các công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề đói nghèo
ở Việt Nam và các thành tựu cũng như hạn chế của Chính Phủ. Nhưng chưa có
công trình nào đi sâu phân tích, tổng kết, nghiên cứu về thực trạng của công cuộc
xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1986 - bắt đầu thời kỳ Đổi Mới, mở cửa
nền kinh tế. Do đó, đề tài này sẽ đi sâu phân tích thực trạng công cuộc xoá đói giảm
nghèo của Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận chung, đề tài đánh giá thực trạng công cuộc xoá đói
giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1986, đưa ra một cái nhìn tổng quan để từ đó gợi
mở một số giải pháp nhằm củng cố và phát huy những thành tựu đã đạt được, đồng
thời khắc phục những tồn tại và thiếu sót trong hơn 20 năm qua.
4.Đối tượng và phạm vi phạm nghiên cứu

- Đối tượng: công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm
1986 trở lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ yếu: phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy
vật lịch sử.
- Các phương pháp khác: logic, thống kê, nghiên cứu tài liệu, so sánh
6. Đóng góp của đề tài
- Đánh giá, phân tích thực trạng công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt nam
- Gợi mở một số giải pháp nhằm phát huy các thành tựu cũng như khắc phục
các hạn chế của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam.
7. Bố cục của đề tài
Đề tài có cấu trúc gồm ba chương:
6
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Chương 1: Lý luận chung về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo
Chương 2: Thực trạng công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm
1986 đến nay
Chương 3: Quan điểm định hướng và gợi mở giải pháp phát huy thành tựu
cũng như khắc phục hạn chế của công tác xoá đói giảm nghèo của Việt Nam trong
những năm tới
7
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI
Tình trạng nghèo đói hiện nay đang trở thành một vấn đề hết sức nóng bỏng
đối với các quốc gia bởi lẽ, quá trình toàn cầu hoá và tác động của thương mại quốc
tế không những vừa đem lại những lợi ích kinh tế cho một bộ phận dân chúng
nhưng mặt khác nó cũng làm gia tăng khoảng cách chênh lệch trong thu nhập giữa

các nhóm lợi ích trong xã hội. Tình trạng đói nghèo cao luôn là nguyên nhân gây
bất ổn về kinh tế - xã hội - chính trị của một quốc gia, làm cản trở quá trình phát
triển của nền kinh tế các quốc gia, xét trên khía cạnh dài hạn và hậu quả để lại thì
lâu dài và mức độ tổn thất của nền kinh tế quốc gia sẽ gia tăng theo thời gian nếu
vấn đề nghèo đói không được giải quyết sớm và có chính sách dài hạn và hợp lý
trong công tác xoá đói giảm nghèo.
Nghèo đói không phải là một vấn đề gì mới mẻ với mọi quốc gia. Giải quyết
nạn nghèo đói trở thành vấn đề xuyên suốt trong các chương trình hành động của
các chính phủ. Nghèo đói gây cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội, và kìm
hãm nguồn lực của quốc gia khi sức sản xuất không có đủ điều kiện để phát triển,
và các quỹ phúc lợi của xã hội phải chia sẻ để hỗ trợ cho những khu vực có mức
thu nhập thuộc loại nghèo. Nghèo đói dai dẳng, rộng khắp khiến sức mua của xã
hội và tổng cầu bị giới hạn, đường giới hạn khả năng sản xuất bị thu hẹp, khó có
khả năng mở rộng do các nguồn lực bị bó buộc trong vòng luẩn quẩn của nghèo đói
mà không thể tận dụng hết.
Nạn nghèo đói thường tập trung ở những vùng sâu vùng xa, hay các vùng
nông thôn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, giao thông khó khăn, trình độ dân trí còn
thấp, và người dân luôn thiếu vốn để đầu tư mở rộng sản xuất. Đói nghèo đi liền
với tình trạng là mức sống thấp, thậm chí cực khổ; môi trường sống xuống cấp; tài
nguyên xung quanh môi trường sống bị tàn phá để kiếm nguồn tư liệu sinh hoạt và
sản xuất phục vụ cho kế sinh nhai của họ (vì nhu cầu thiết thân nhất của những
người thuộc diện nghèo đói là lương thực) do phương thức sản xuẩt chủ yếu là giản
đơn và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Cũng do phương thức sản xuất phụ thuộc
quá lớn vào thiên nhiên nên những người thuộc diện đói nghèo là những người dễ
bị tổn thương nhất trước các biến động của thời tiết và môi trường.
Trên Thế Giới, sau nhiều năm phát triển kinh tế, chỉ có một số it các quốc gia
đạt được mức phát triển cao về thu nhập và mức sống, tuy không phải là không có
8
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
sự bất bình đẳng về thu nhập, nhưng nhìn chung, mức sống của người dân của

những quốc gia thuộc hàng phát triển nhất Thế Giới cũng là rất cao so với thu nhập
của đại bộ phận dân cư còn lại của Thế Giới, mà đa số này năm ở các quốc gia
đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chính vì đa số dân cư của các quốc gia này
là thuộc dạng nghèo đói nên các chính phủ ở các nước này đã đề ra các chương
trình thực hiện nhằm cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, nhất là những
người dân thuộc diện nghèo khổ nhất, tái phân phối lại thu nhập quốc dân theo
hướng công bằng hơn giữa các nhóm dân cư. Muốn đạt được mục tiêu đó, trước
hết, chúng ta cần tìm hiểu bản chất của nghèo đói.
1.1.1. Các định nghĩa về nghèo đói
Nghèo đói là một phạm trù chỉ tình trạng, người dân đang ở trong một hoàn
cảnh mà trong hoàn cảnh đó, họ không được đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sống tối
thiểu và họ có nhu cầu về các yếu tố cần thiết tối thiểu để duy trì sự sống và tồn tại
nhưng không được đáp ứng hoặc sự đáp ứng là không đủ so với nhu cầu tối thiểu
đó.
Phạm trù nghèo đói gồm 2 phần chính là: nghèo và đói.
1.1.1.1. Định nghĩa chung về nghèo
Nghèo - diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với
các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định.
- Các định nghĩa khác về Nghèo:
+ Nghèo tuyệt đối
Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những
người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu
thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng so
với các thành phần còn lại trong xã hội.
Sự nghèo tuyệt đối để chỉ một cá nhân hay một hộ gia đình có mức thu nhập
dưới mức thu nhập để đảm bảo được những nhu cầu cần thiết của cuộc sống và
không có đủ tiền để chu cấp cho những hàng hoá và dịch vụ thiết yếu như: ăn, mặc,
ở ..v.v..
9
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế

Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày/người theo sức mua
tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như
là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó, các giá trị
ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác
định, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước
Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. (Chương trình Phát
triển Liên Hiệp Quốc 1997).
+ Nghèo tương đối
Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các
tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội
nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối đo lường quy mô, theo đó một hộ gia đình được coi là
nghèo nếu nguồn tài chính của họ thấp hơn một ngưỡng thu nhập được xác định là
chuẩn nghèo của xã hội đó.
Chuẩn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã
hội. Một ngưỡng hay được dùng để đo lường nghèo tương đối trong chính trị và
công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình đầu người trong một nền kinh
tế (Từ năm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người
được coi là nghèo khi có ít hơn 60% giá trị trung bình của thu nhập ròng tương
đương). Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho
biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người do khi thu nhập đồng loạt tăng
hoặc giảm thì tỷ lệ người nghèo vẫn không đổi mặc dù thu nhập của họ có thay đổi.
Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng vẫn có ít hơn
50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế những người
đó vẫn còn là nghèo tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì
sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong
một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo có
thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có
thay đổi. Vì vậy, trong ngưỡng nghèo tương đối có pha trộn cả vấn đề phân phối
thu nhập. Vì trên thực tế, không có sự phân định rõ ràng giữa nghèo và giàu nên

ngưỡng nguy cơ nghèo cũng hay được dùng thay cho ngưỡng nghèo tương đối.
+ Định nghĩa theo tình trạng sống: Định nghĩa Nghèo theo tình trạng sống
lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập, khi định nghĩa "nghèo con người",
thí dụ như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả
năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác. Chương
10
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người (tiếng
Anh: human development index–HDI). Các chỉ thị cho HDI bao gồm tuổi thọ dự
tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức mua thực trên đầu người
và nhiều chỉ thị khác. Trong "Báo cáo phát triển thế giới 2000" Ngân hàng Thế giới
đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố
chủ quan như phẩm chất và tự trọng.
1.1.1.2. Định nghĩa về Đói
Đói là trạng thái con người không được đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tối
thiểu để cung cấp năng lượng duy trì sự sống cho cơ thể. Người bị đói có nhu cầu
và khao khát được ăn.
1.1.2. Nguyên nhân gây ra nghèo đói
1.1.2.1. Kinh tế
+ Phân phối thu nhập không công bằng
Sự phân phối thu nhập không công bằng là do các nguyên nhân như: cơ hội
tiếp cận các nguồn lực sản xuất, khả năng được sử dụng các nguồn lực sản xuất vào
mục đích kinh tế giữa các nhóm dân cư là khác nhau, cũng như quá trình tích luỹ
các nguồn lực đó trong xã hội, và hệ quả của quá trình cạnh tranh trong kinh tế thị
trường dẫn tới một tình trạng là một lượng lớn nguồn lực trong xã hội được phân
bổ (hoặc chuyển giao) vào tay một bộ phận dân cư có lợi thế nhờ quy mô, trong khi
bộ phận lớn dân cư còn lại không có hoặc phải chuyển giao các nguồn lực do thất
bại trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế trước đây. Do sự phân bổ các
nguồn lực để sản xuất không công bằng đó mà người nghèo không có hay thiếu
nguồn lực sản xuất dẫn tới thu nhập của họ là không cao hoặc quá thấp so với mức

thu nhập chung của toàn xã hội. Một nhóm dân cư trong xã hội bị bần cùng hoá và
trở nên nghèo đói. Đó chính là vấn đề công bằng xã hội bị mất cân đối.
Để khảo sát vấn đề công bằng xã hội, người ta sử dụng các thước đo sau:
• Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư
• Đường cong Lorentz
• Hệ số Gini
• Chỉ số nghèo khổ
11
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
*) Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư: tính phân
phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một thời gian
nhất định, không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập và môi trường sống của
dân cư, mà chia đều thu nhập cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là
người ta chia dân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp
theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập. Qua đó, có thể thấy mức độ công bằng xã
hội thông qua việc so sánh nhóm giàu nhát và nhóm nghèo nhất.
Hình 1.1. Thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% hộ có chi tiêu
thấp nhất Việt Nam (1994 – 2002)
*) Đường cong Lorentz: mô tả chênh lệch trong phân phối thu nhập, được
biểu thị bằng một hình vuông mà cạnh đáy biểu thị phần trăm cộng đồn số người
được nhận thu nhập và cạnh bên biểu thị phần trăm cộng dồn tổng thu nhập được
phân phối. Đường chéo của hình này biểu thị mức dộ bình đẳng tuyệt dối trong
phân phối thu nhập, vì mọi điểm nằm trên đường chéo phản ánh các mức phân bổ
đồng đều giữa phần trăm dân số cộng dồn và phần trăm tổng thu nhập cộng dồn.
Đường cong Lorenz càng gần đường bình đẳng tuyệt đối, phân phối càng công
bằng.
12
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 1.2. Hệ số Gini và đường cong Lorentz
*) Hệ số Gini cũng là thước đo phổ biến để xác định mức bất bình đẳng

trong phân phối thu nhập, hệ số Gini được đưa ra nhằm lượng hoá đường cong
Lorenz. Nó được tính bằng cách chia diện tích nằm giữa đường chéo và đường
cong Lorenz với toàn bộ diện tích nằm dưới đường chéo, có nghĩa là G = A/(A+B).
Hệ số G càng cao, mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn. Dựa vào
những số liệu thu thập được, ngân hàng thế giới WB nhận thấy rằng , mức biến
động của hệ số G đối với những nước có thu nhập thấp: từ 0.3-0.5, thu nhập trung
bình 0.4-0.6, thu nhập cao 0.2-0.4. Từ đó WB đưa ra nhận xét, hệ số G tốt nhất
thường xoay quanh 0.3
*) Chỉ số nghèo khổ: tỉ lệ phần trăm giữa số dân sống dưới mức tối thiểu với
tổng số dân. Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo, ví dụ
như đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong
thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005 (Chuẩn đói nghèo trước đây theo mức thu
nhập bình quân người /tháng theo khu vực miền núi, nông thôn, thành thị: trước
năm 2000 là 45.000 đồng, 70 000 đồng và 100 000 đồng; sau năm 2000 là 80000 -
100 000 – 150 000 đồng. Theo chuẩn đói nghèo mới có hai mức: thu nhập bình
quân tháng 200 000 đồng ở nông thôn và 260 000 đồng ở thành thị), hiện nay vẫn
còn tồn tại nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về đói nghèo.
13
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
+ Nợ Quốc gia (Nợ Chính phủ) quá lớn
Nợ Quốc gia, còn gọi là “Nợ công” hoặc “Nợ Chính phủ”, là tổng giá trị các
khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay. Việc
đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ
chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung
quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu
phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Nợ chính phủ thường được phân loại như sau:
• Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước
ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước).
• Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10 năm)

và nợ dài hạn (trên 10 năm).
Một Quốc gia chịu một khoản nợ tức là Quốc gia đó vay tiền để tài trợ cho thâm
hụt ngân sách đang gia tăng, bắng cách phát hành trái phiếu hoặc vay trực tiếp từ
các ngân hàng thương mại, hoặc các tổ chức tín dụng Quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc
tế (tiếng Anh: International Monetary Fund, IMF), Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh:
World Bank, WB), .v.v..; các biện pháp nhằm điều chỉnh thâm hụt ngân sách của
Chính phủ (như tăng thuế và in tiền) khiến hậu quả là lạm phát tăng tốc, giá cả gia
tăng, thu nhập thực tế của mỗi người dân sẽ bị giảm đi một phần. Mức độ nợ Quốc
gia cao (hoặc vượt quá khả năng chi trả của Quốc gia đó) dẫn tới tình trạng là mỗi
người dân sẽ phải gánh trên mình một khoản nợ tính theo đầu người là rất cao, nếu
vượt quá khả năng thu nhập thực tế của người dân thì khả năng chi trả nợ của Quốc
gia là bất khả thi, dẫn tới tình trạng xấu nhất là sự phá sản khủng hoảng kinh tế - xã
hội của toàn bộ nền kinh tế đó. Hậu quả của Nợ Chính phủ tới nền kinh tế - xã hội
đó là:
Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường
xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.
Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì
sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu
chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã
chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu
tư.
Để thu hút người dân mua trái phiếu, chính phủ sẽ nâng lãi suất trái phiếu lên
khiến lãi suất thị trường nhìn chung là tăng cao hơn trước. Lãi suất cao khiến đầu
14
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
tư từ khu vực tư nhân bị suy giảm, còn người dân thì tích cực tiết kiệm, dẫn tới suy
giảm chi tiêu và suy giảm sản lượng quốc gia. Lãi suẩt trong nước được nâng cao
hơn so với lãi suất nước ngoài khiến luồng ngoại tệ đổ vào trong nước lớn và tỷ giá
hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, kéo theo đó là xuất khẩu ròng bị
suy giảm. Điều này lãi dẫn tới thâm hụt thương mại quốc gia.

Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một
tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong
nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó nền
kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội. Những khoản trợ cấp hỗ trợ cho
người nghèo bị cắt giảm do các chinh sách thắt lưng buộc bụng trong chi tiêu của
chính phủ. Chính phủ buộc phải cắt giảm bớt các khoản chi tiêu để dành trả nợ.
Nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì cũng sẽ dẫn tới quá trình nghèo đói hoá một
bộ phận dân cư trong Quốc gia, hay mức suy giảm thu nhập bình quân đầu người,
sự phân hoá giữa các nhóm dân cư càng cao. Mức độ nghèo đói hoá diễn ra mạnh
hay yếu tuỳ thuộc vào khả năng chi trả nợ của Quốc gia đó. Những người vốn có
nguồn thu nhập không phải là cao, hay ngấp nghé bên bờ vực nghèo đói thì lại phải
chịu thêm những gánh nặng thuế của Chính phủ hay tác động từ giá cả thị trường
do hệ quả của các chính sách chính phủ và sự suy thoái kinh tế, tất yếu dẫn tới tình
trạng là mức sống của họ bị suy giảm và gia nhập nhóm dân cư có mức sống nghèo
đói. Tỷ lệ người nghèo đói trong quốc gia lại gia tăng thêm.
+ Hoạt động không hiệu quả
Nền kinh tế vĩ mô vận hành không hiệu quả tiềm ẩn nhiều nguy cơ tất yếu
dẫn tới những chu kỳ suy thoái và khủng hoảng kinh tế, thậm chí là mạnh mẽ và
sâu rộng trước các tác động xấu từ thị trường thế giới. Nền kinh tế chưa vươn tới
được mức hiệu quả Pareto, chưa đạt mức toàn dụng nhân lực, cộng thêm những tác
động từ khủng hoảng kinh tế chu kỳ khiến sản lượng thực tế và sản lượng tiềm
năng suy giảm, đường giới hạn khả năng sản xuất của Quốc gia bị thu hẹp. Và khi
đó, hậu quả sẽ là một lượng lớn các công ty theo dòng xoáy của cuộc khủng hoảng
buộc phải tuyên bố phá sản, kéo theo đó là một cơ số lớn người lao động bị mất
việc làm, và thiếu việc lâu dài, kéo theo sự gia tăng trong tỷ lệ thất nghiệp. Bên
cạnh sự suy giảm từ tổng cung là sự suy giảm trong tổng cầu, mức chi tiêu giảm.
Các chính sách an sinh xã hội và xoá đói giảm nghèo bị ảnh hưởng do các nguồn
tài chính viện trợ bị cắt giảm, số người nghèo đói và tái nghèo đói gia tăng.
15
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế

Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ 2008 vừa qua, hậu quả kéo theo
đó là sự suy thoái ở một loạt các nền kinh tế trên Thế giới. Do các sai lầm trong
chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của các chính phủ (chủ yếu là Mỹ), Chính phủ
Mỹ đã lơi lỏng việc kiểm soát những dấu hiệu bất thường của nền kinh tế (bắt đầu
từ thị trường nhà đất và tín dụng), chủ trương để thị trường tự điều tiết, hạn chế sự
tác động từ Nhà nước, khiến mọi việc dần trở nên mất kiểm soát, và đã dẫn tới sự
đổ vỡ dây chuyền của một loạt các công ty và các thiết chế tài chính khổng lồ,
không những lớn nhất nước Mỹ mà còn lớn nhất Thế giới. Khi nền kinh tế Mỹ hoạt
động không hiệu quả, lãi suất tăng tạo nên gánh nặng trả nợ với những người thu
nhập thấp, thất nghiệp gia tăng thì rủi ro cho vay nợ dưới chuẩn, bị ảnh hưởng
nhanh nhất. Không trả được nợ, hàng loạt người mua nhà bị xiết nợ và phát mại tài
sản (như Cleveland (Ohio), thành phố đầu tiên châm ngòi cho cuộc khủng hoảng
lan rộng ra toàn nước Mỹ và thế giới, theo số liệu thống kê, khoảng 1/10 số nhà tại
Cleveland bị thu hồi để phát mại). Những người nhập cư thu nhập thấp tại Mỹ
không thể mua nhà. Sau đó, do sự cung vượt cầu, hàng loạt ngôi nhà không bán
được thì giá nhà tại Mỹ lại giảm thảm hại, mức tồi tệ nhất từ cuộc khủng hoảng tài
chính năm 1930. Điều này khiến Mỹ phải cắt giảm lãi suất liên tục nhằm cứu vãn
nền kinh tế. Hậu quả của cuộc khủng hoảng là con số thất nghiệp gia tăng nhanh
chóng, chỉ riêng trong ngành xây dựng đã có từ 1 – 2 triệu người bị mất việc làm.
Qua đó, chúng ta có thể thấy hậu quả của sự hoạt động kém hiệu quả của nền kinh
tế và những thất bại trong chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ tác động tiêu cực
đến đời sống người dân như thế nào.
Các nước đang phát triển, thường thì đói nghèo biểu hiện rõ nguyên nhân do
nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả gây nên. Hầu hết đó đều là các nền kinh tế mới
chuyển đổi từ các mô hình kinh tế cũ, cơ sở vật chất còn lạc hậu, thiếu các nguồn
lực và đặc biệt là trình độ tổ chức quản lý nền kinh tế còn thấp kém, sử dụng lãng
phí các tư liệu sản xuất. Công nghệ hầu hết là mua lại từ các nước phát triển và lạc
hậu hơn hàng chục năm so với công nghệ các nước đó, sử dụng nhiều lao động và
tiêu hao nhiều nguyên liệu, khiến năng suất lao động của người lao động thấp, thời
gian hao phí lao động xã hội cần thiết cao, dẫn tới giá trị của hàng hoá cao hơn giá

trị hàng hoá của các nước phát triển có sử dụng các công nghệ tiết kiệm nhiên liệu
và thời gian lao động, nên sức cạnh tranh của hàng hoá các nước đang nghèo là rất
yếu. Các định chế thị trường chưa hoàn thiện, các doanh nghiệp của các nước đang
phát triển hầu hết thiếu kinh nghiệm làm ăn với các đối tác nước ngoài. Chính sách
về lương bổng không khuyến khích được người lao động nhiệt tình hơn với công
việc. Tình trạng thất thoát và lãng phí tài sản, tư liệu sản xuất trong nền kinh tế các
nước nghèo vẫn còn là tình trạng phổ biến. Ở nhiều vùng nông thôn, vẫn còn duy
trì lối sản xuất truyền thống năng suất thấp, sự tham gia của các tiến bộ khoa học
công nghệ và thị trường dịch vụ nông nghiệp hầu như là không có. Cơ cấu kinh tế
16
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
đặc trưng của các nước nghèo là tỷ trọng nông nghiệp lớn, công nghiệp phát triển
không có chiều sâu, manh mún, nhỏ lẻ. Nó tạo nên vòng luẩn quẩn kìm hãm sự
phát triển của nền kinh tế và sự nâng cao mức sống của người dân.
+ Thiếu hụt các nguồn lực
Các nguồn lực bao gồm các nguồn lực về vốn, con người, tài nguyên và khoa
học kỹ thuật. Các nguồn lực là một điều kiện cần cho sự phát triển kinh tế của một
quốc gia. Sự thiếu hụt các nguồn lực cũng gây khó khăn trong bước phát triển dài
han của nền kinh tế với nhu cầu đầu vào càng ngày càng gia tăng. Sự trì trệ trong
nền kinh tế do thiếu hụt các nguồn lực khiến nền kinh tế rơi vào vòng luẩn quẩn
của nghèo đói.
* Nguồn vốn, hay tư bản, là một trong bốn yếu tố sản xuất. Nó có thể là
những thứ như: tiền bạc, máy móc, công cụ lao động, nhà cửa, bản quyền, bí quyết,
v.v.. nhưng không bao gồm đất đai và người lao động. Vốn ở dạng hàng hóa có
được nhờ mua bằng tiền (hay tư bản vốn). Trong lĩnh vực tài chính và kế toán, khi
đề cập đến tư bản là nói đến nguồn lực tài chính, đặc biệt là để bắt đầu hoặc duy trì
một công việc kinh doanh, đôi khi còn được gọi là Dòng tiền hay Dòng luân
chuyển vốn. Những biểu hiện dễ thấy của vốn là ở dạng vật chất, như công cụ, nhà
xưởng, phương tiện vận chuyển, v.v.. những thứ được sử dụng trong quá trình sản
xuất. Bên cạnh đó thì vốn cũng được biểu hiện dưới góc độ phi vật chất như đầu tư

vào kỹ năng và giáo dục có thể được xem là bồi đắp nguồn vốn/tư bản con người
hoặc vốn hiểu biết, và những đầu tư vào tài sản trí tuệ được con là xây dựng nguồn
vốn trí tuệ. Lý thuyết phát triển nguồn lực con người mô tả vốn con người là thực
thể bao gồm những yếu tố xã hội, nhân rộng và sáng tạo riêng biệt:
• Nguồn vốn xã hội là giá trị của hệ thống những mối quan hệ đáng tin cậy
giữa những cá nhân trong một nền kinh tế.
• Nguồn vốn cá nhân là ưu điểm trong mỗi con người, được bảo vệ bởi xã hội
và đem trao đổi để thu về sự tin cậy hoặc tiền bạc. Những khái niệm gần với
nó là “tài năng”, “sự tháo vát”, “sự lãnh đạo”, “những kiến thức được đào
tạo”, hoặc “những khả năng bẩm sinh”. Đây là nguồn vốn không dễ tạo ra
được bằng cách kết hợp các dạng tư bản vật chất và phi vật chất kể trên.
Nhưng còn những cách phân loại vốn khác được sử dụng trên lý thuyết hoặc áp
dụng trong thực tiễn gồm:
• Vốn tài chính là dạng tiền hoặc quyền lợi, quyền sở hữu. Nó ở dạng tài sản
vốn, đuợc giao dịch trên các thị trường tài chính. Giá trị của tư bản tài chính
17
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
không nằm ở sự tích tụ theo thời gian mà ở niềm tin của thị trường vào khả
năng sinh lợi và những rủi ro đi kèm.
• Vốn thiên nhiên là những đặc điểm sinh thái và được cộng đồng bảo vệ để
duy trì cuộc sống, ví dụ một con sông đưa nước đến các nông trang.
• Vốn cơ sở hạ tầng là hệ thống hỗ trợ do con người tạo ra (ví dụ những chốn
ăn ở, đường xá, trang phục, máy tính cá nhân, v.v..), những vật chất sẵn có
giúp cho việc đâu tư, xây dựng một doanh nghiệp mới cần ít vốn, nguồn lực
hơn. Khác với vốn thiên nhiên, nguồn vốn cơ sở hạ tầng không tự khôi phục
và phát triển, chúng cần được xây dựng, bổ sung.
Vốn tự nhiên và vốn xã hội đều là tư bản/vốn, giống như vốn cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất và chúng là những dạng tư bản tách biệt. Chúng được sử dụng, phát
huy để tạo ra hàng hóa khác và không tiêu dùng hết ngay trong quá trình sản xuất,
hơn thế chúng có thể được tạo ra, làm giàu thêm bởi nỗ lực của con người.

Tại các quốc gia có đa số dân cư thuộc diện đói nghèo, các nguồn vốn vật chất
cũng như phi vật chất đều ở trong tình trạng thiếu hụt hoặc không thể khai thác hết
tiềm năng. Các cơ sở hạ tầng hầu hết ở trong tình trạng xuống cấp do thiếu vốn đầu
tư, mà các cơ sở hạ tầng là điều kiện thiết yếu để phục vụ cho sự phát triển kinh tế,
thu hút đầu tư xã hội, tạo công ăn việc làm. Các chương trình kinh tế quốc dân
thường gặp phải vấn đề về tài chính, nên chỉ có thể hoạt động ở trong khuôn khổ
tiểu dự án hoặc tiểu vùng, cho một số nhóm người nghèo nhất định nên việc tạo
công ăn việc làm và tạo thị trường cho người nghèo có thể tự lực phát triển là rất
lâu dài và khó khăn. Nguồn lực thiết thực nhất với những người nghèo để phát triển
kinh tế là các khoản vay để đầu tư, chủ yếu vào các ngành nghề nông nghiệp và thủ
công nghiệp, mà thời gian thu hồi vốn lại tương đối lâu do đặc trưng của các ngành
nghề này. Nên đồng vốn vay được luân chuyển chậm, khiến nhiều người có nhu
cầu vay vốn để mở rộng sản xuất không vay được vốn.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng thấp, không được đào tạo cơ bản, cũng
là nguyên nhân gây ra đói nghèo. Với trình độ hạn chế sẽ khiến năng suất lao động
thấp, người lao động chỉ có thể tham gia các hoạt động sản xuất giản đơn, đòi hỏi
sức lao động chân tay, trong khi thị trường cung ứng lao động đông phổ thông đảo,
nên thu nhập của họ sẽ rất thấp.
Khoa học kỹ thuật là một hướng đi nhằm cải thiện và nâng cao năng suất lao
động trong nền kinh tế. Nhưng với trình độ giáo dục và tri thức thấp do người dân
các nước có thu nhập thấp không có khản năng tiếp cận với môi trường đào tạo cơ
bản có chất lượng nên yếu tố khoa học kỹ thuật này hầu như không có điều kiện
phát triển. Các kỹ thuật mới đáng lẽ được đem vào ứng dụng trong sản xuất nhưng
18
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
do sự thiếu hụt về kỹ năng và kiến thức của người dân nên rất khó đem vào ứng
dụng phát huy hiệu quả trong sản xuất.
Tài nguyên môi trường là các yếu tố quan trọng trong sản xuất, nhất là đối với
ngành sản xuát chủ yếu của người nghèo là trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhưng
nhiều năm trở lại đây, sự tàn phá của con người do các hình thức canh tác lạc hậu

và ý thức môi trường kém, tình trạng du canh du cư, khai thác cạn kiệt nguồn tài
nguyên để đổi lấy những nguồn thu nhập trong ngắn hạn, khiến hâu quả tiêu cực
gây tác động ngược trở lại mang tính lâu dài là thiên tai và hạn hán xảy ra với
cường độ và tần suất càng nhiều hơn, tàn phá mùa màng và tính mạng con người.
Những người nghèo đói lại càng nghèo đói hơn, tất cả thành quả lao động của họ
không lấy gì là nhiều cũng bị mất mát do thiên tai, mà nguyên nhân chủ yếu vì sự
tàn phá của con người.
+ Chịu tác động từ các biến động xấu của nền kinh tế thế giới
Khi nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thì nó tiềm ẩn
cả những cơ hội lớn và đi kèm là những rủi ro cao. Mỗi biến động của nền kinh tế
Thế giới dù lớn hay nhỏ thì cũng đều gây ra một phản ứng dây chuyền trong các
nền kinh tế trong đó. Cho nên khi khủng hoảng kinh tế Thế giới xảy ra trên diện
rộng, với các mức độ sâu rộng hay cục bộ trong một số lĩnh vực thì nó cũng đều
gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế quốc gia, nhất là khi khủng hoảng kinh tế thế
giới xảy ra trong những mắt xích quan trọng và các lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh
tế Thế giới thì hệ quả xảy tới với nền kinh tế Quốc gia là càng thêm nghiêm trọng,
công ăn việc làm bị cắt giảm, thất nghiệp tăng, đời sống kinh tế - xã hội rơi vào
thời kỳ khó khăn, các nhu cầu vật chất thiết yếu của xã hội không được đáp ứng
đầy đủ. Và xuất hiện các tầng lớp người dân bị nghèo đói hoá.
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), khoảng 40 trong số 107 nước
đang phát triển có nguy cơ bị ảnh hưởng cao do khủng hoảng kinh tế toàn cầu
2008, các nước còn lại có khả năng bị ảnh hưởng trung bình và chỉ có 10% các
nước bị ảnh hưởng nhẹ. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn đe dọa đến việc thực
hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Tăng trưởng kinh tế chậm làm khoảng 46
triệu người không thoát được nghèo (ở mức 1,25 đô la/ngày) và khoảng 53 triệu
người khác sẽ vẫn sống ở mức dưới 2 đô la/ngày. Bên cạnh đó là khoảng 130 – 155
triệu người vừa tái nghèo do cuộc khủng hoảng lương thực và năng lượng. Mà các
nước nghèo lại là những nước chịu thiệt hại nặng nhất, các chính phủ ở các nước
nghèo không thể huy động đủ nguồn tài chính để khắc phục hậu quả
19

Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
1.1.2.2. Chính trị:
+ Thể chế không ổn định
Một nền chính trị ổn định luôn là điều kiện tốt cho sự phát triền kinh tế.
Nhưng vòng xoáy của bất ổn chính trị khiến các Quốc gia trở nên suy yếu và nền
kinh tế đi xuống do môi trường vĩ mô đã không còn ổn định. Nguồn thu nhập xã
hội bị ảnh hưởng xấu từ các biến động xấu từ chính trị, do các cơ hội phát triển bị
bỏ lỡ và nguồn lực quốc gia bị lãng phí.
Các thủ thuật chính trị của các chính trị gia trước các cuộc bầu cử với những
cuộc suy thoái chu kỳ bầu cử, gây tổn hại tới các ngành kinh tế, tác động xấu tới sự
phát triển tự do của thị trường. Những người thu nhập thấp là những người dễ bị
tổn thương nhất.
+ Luật pháp không hoàn thiện và tình trạng tham nhũng
Môi trường luật pháp minh bạch, công bằng và hoàn thiện tạo nên một môi
trường kinh tế cạnh tranh lành mạnh. Nhưng sự không hoàn thiện và thiếu nghiêm
minh của luật pháp không đảm bảo được cho các lợi ích người dân trước những
mặt trái của kinh tế thị trường hay sự xuống cấp của hệ thống kiến trúc thượng tầng
dẫn tới những tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng trong các quan hệ kinh tế. Một số
it được hưởng lợi, đa số bị thiệt hại rơi vào tình cảnh tổn thất lớn do sự còn yếu
kém và không hoàn chỉnh của luật pháp. Luật pháp có thể chứ đựng các giá trị cao
đẹp hướng tới sự công bằng cho các cá nhân nhưng việc thực thi vào đời sống lại
gặp quá nhiều khó khăn, do việc thi hành luật pháp của các cơ quan hành pháp và ý
thức của các công chức cũng như người dân về việc thực thi luật pháp là hạn chế.
Cũng không thể không nhắc tới có những chính phủ ban bố các đạo luật chỉ nhằm
phục vụ lợi ích riêng cho 1 nhóm dân cư mà không quan tâm tới quyền lợi của đại
bộ phận dân cư còn lại, khiến làm gia tăng chỉ số bất bình đẳng trong xã hội, nới
rộng khoảng cách đói nghèo.
Sự nhũng nhiễu của các cơ quan công quyền và tình trạng tham nhũng đang
lây lan rộng tại các nền kinh tế đang phát triển là trở ngại lớn tới sự công bằng và
sự phát triển kinh tế của các cá nhân. Người dân phải dành một khoản lớn thu nhập

của mình để đối phó với sự tham nhũng mỗi khi cần liên hệ với chính quyền, trong
khi thu nhập của họ cũng không phải là ở mức cao.
20
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
1.1.2.3. Xã hội:
+ Giáo dục kém phát triển
Nguồn nhân lực chất lượng cao giờ đây trở thành một nhu cầu tiên quyết
trong phát triển kinh tế theo hướng hiện đại. Nhưng chất lượng lao động thấp lại trở
thành nguyên nhân dẫn tới vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Chất lượng lao động
thấp khiến cho quá trình làm chủ công nghệ tiên tiến để cải thiện năng suất lao
động xã hội trở nên khó khăn và dài lâu. Năng suất thấp dẫn tới thu nhập thấp là
điều tất yếu.
Đa số người nghèo đều chưa học hết bậc học trung học, thậm chí là mù chữ
do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không đủ tài chính để chi tiêu cho giáo dục. Sản
phẩm của giáo dục mang tính dài hạn mà nhu cầu kiếm kế sinh nhai của người
nghèo lại mang tính ngắn hạn. Về chất lượng giáo dục, những quốc gia nghèo
thường tập trung đầu tư ngân sách đầu tư cho các chương trình kinh tế, công cộng,
mà ít chú ý tới đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục, quan tâm tới việc phổ cập giáo
dục cho toàn dân. Tỷ lệ trẻ em tới trường ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng
xa thấp, cùng với đó là tình trạng trẻ em bỏ học luôn ở mức cao do đời sống khó
khăn. Trẻ em phải tham gia các hoạt động kinh tế của gia đình nên không có thời
gian và kinh phí học tập. Điều kiện cơ sở vật chất và nhân lực đào tạo ở những
vùng khó khăn nhìn chung là thiếu và yếu. Trong kinh tế, điều quyết định là hiệu
quả sản xuất, tức là tri thức, kỹ năng của người lao động. Người kinh doanh giỏi thì
giàu lên, người kinh doanh kém thì thua lỗ và không khắc phục được thì sẽ nghèo
đi. Cái quyết định ở đây lại là trình độ học vấn hay trình độ văn hóa trong hoạt
động kinh tế của từng cá nhân. Thực tế cho thấy rằng, những người được học tập
đến nơi đến chốn, có tri thức thì nói chung ít rơi vào tình trạng đói nghèo, mặc dầu
không phải toàn là người giàu có.
+ Dân số tăng nhanh và bất bình đẳng về giới

Tỷ lệ gia tăng dân số cao luôn là gánh nặng với nên kinh tế, nó khiến mức
thu nhập bình quân của nền kinh tế suy giảm, chi phí xã hội lớn và tăng nhanh, mức
sống thấp, khó có cơ hội vươn lên, gia tăng thu nhập được. Mức tỷ lệ gia tăng dân
số cao một phần là do tập quán sinh hoạt, một phần là do đặc thù kinh tế chủ yếu
của người nghèo là trong lĩnh vực nông nghiệp, cần nhiều sức lao động chân tay.
Bên cạnh đó là tư tưởng trọng nam, khinh nữ, các hộ gia đình tuy nghèo nhưng do
mong muốn sinh con trai nên mức sinh dày càng khiến họ nghèo hơn. Lương thực
và dinh dưỡng luôn là vấn đề lớn nhất và khó khăn nhất với những hộ gia đình
nghèo đông con. Dân số gia tăng nhanh kèm theo phúc lợi xã hội bình quân giảm.
21
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Lực lượng lao động gia tăng trong khi vốn và phương tiện lao động lại có hạn, nên
năng suất lao động không cao mà còn giảm theo quy luật hiệu suất biên giảm dần,
nên thu nhập bình quân đầu người càng giảm. Thời gian cho các hộ gia đình nghèo
thoát nghèo càng lâu dài.
Sự bất bình đẳng về giới khiến một nửa lực lượng lao động bị hạn chế các
khả năng phát triển và sở hữu các tư liệu sản xuất, phân phối thu nhập không công
bằng. Phụ nữ không được tiếp cận với giáo dục, chăm sóc ý tế, dinh dưỡng, .v.v..
khiến chất lượng nguồn nhân lực không có đủ điều kiện phát triển. Các thế hệ sau
này chỉ có thể lao động với năng suất thấp do các hạn chế về thể lực và trí lực.
1.1.3. Tiêu chí nghèo đói
1.1.3.1. Chuẩn nghèo của Thế giới
Để đo lường mức độ nghèo đói trên thế giới và đảm bảo tính so sánh quốc tế
của chỉ tiêu tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo, Ngân hàng Thế giới đưa ra 2 mức
chuẩn là thu nhập dưới 1 đô la Mỹ 1 ngày và thu nhập dưới 2 đô la Mỹ 1 ngày được
chuyển đổi theo sức mua tương đương (PPP - Purchasing Power Parity) của đô la
Mỹ năm 1993, có nghĩa là tương đương với mức 1,08 USD/ngày/người và mức
2,16 USD/ngày/người của năm 2002. Chuẩn nghèo mà Ngân hàng thế giới quy
định, quốc gia có thu nhập bình quân người hàng năm là 735 USD thuộc nhóm các
nước nghèo.

Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức
độ giàu nghèo.
Bảng 1.3. Chuẩn mực nghèo của một số nước Châu Á
Quốc gia Đơn vị tính
Chuẩn nghèo
Thu nhập Chi tiêu
Đông Á
Trung Quốc Nhân dân tệ/năm 625,00
Đông Nam Á
Cam-pu-chia Riên/ngày 1.837,00
Lào Kip/tháng 20.911,00
Phi-lip-pin Pê-sô/năm 11.605,00
Thái Lan Bạt/tháng 882,00
Việt Nam Nghìn đồng/năm 1.790,00
22
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Quốc gia Đơn vị tính
Chuẩn nghèo
Thu nhập Chi tiêu
Nam Á
Ấn Độ
Thành thị Ru-pi Ấn
Độ/tháng
454,11
Nông thôn Ru-pi Ấn
Độ/tháng
327,56
Nê-pan Ru-pi Nê Pan/năm 4.404,00
Pa-ki-xtan Ru-pi Pa-ki-
xtan/tháng

748,56
Xri Lan-ca Ru-pi Xri Lan-
ca/tháng
791,67
Trung Á
A-déc-bai-gian Nghìn Ma-nat/năm 120,00
Ca-dắc-xtan Ten-ghê/tháng 4.007,00
Cư-rơ-gư-xtan Sôm/năm 7.005,63
Thái Bình Dương
Phi-ji Đô la/tuần 83,00
Mic-rô-nê-xi-a Đô la Mỹ/năm 767,58
Xa-moa Ta-la/tuần 37,49
Tôn-ga Pan-ga/năm 8.061,00
Tu-va-lu Đô la ÚC/tuần 84,24
(Nguồn: Chuẩn nghèo và thước đo nghèo ở một số quốc gia, Nguyễn Văn
Phẩm, Vụ hợp tác quốc tế)
Trên cơ sở đó, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã đưa ra chuẩn nghèo của
Châu Á là dưới 1,35 USD/người/ngày. Các con số về tỷ lệ nghèo của một số nước
Châu Á như sau:
Bảng 1.4. Tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo của một số nước Châu Á (%)
Quốc gia Năm Theo chuẩn
Theo chuẩn nghèo quốc tế
1
USD/ngày
2
USD/ngày
Đông Á
Trung Quốc 2001 16,6 46,7
Mông Cổ 1998 35,6 27,0 74,9
Đông Nam Á

23
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Cam-pu-chia 1999 35,9 34,1 37,7
In-đô-nê-xi-a 2002 18,2 7,5 52,4
Lào 1997 38,6 39,0 81,7
Ma-lai-xi-a 1999 7,5 0,2 9,3
Mi-an-ma 1997 22,9
Phi-lip-pin 2000 34,0 15,5 47,5
Thái Lan 2002 9,8 1,9 32,5
Việt Nam 2002 28,9 13,1 58,5
Nam Á
Bang-la-đét 2000 49,8 36,0 82,8
Ấn Độ 1999 26,1 36,0 81,3
Man-đi-vơ 1998 43,0 0,1 2,9
Nê-pan 1996 42,0 39,1 80,9
Pa-ki-xtan 1999 32,6 25,3 77,2
Xri Lan-ca 1995 25,2 6,6 45,4
Trung Á
A-déc-bai-gian 2001 49,6 3,7 33,4
Ca-dắc-xtan 2002 27,9 0,1 8,5
Cư-rơ-gư-xtan 2000 52,0 0,9 27,2
Ta-gi-ki-xtan 2003 56,6 13,9 58,7
Tuốc-mê-ni-xtan 1998 29,9 12,1 44,0
U-dơ-bê-ki-xtan 2000 27,5 17,3 71,7
Thái Bình Dương
Mic-rô-nê-xi-a 1998 27,9 5,2 19,7
Pa-pua Niu Ghi-

1996 37,5 24,6 54,4
Xa-moa 2002 20,3 5,5

Tôn-ga 2001 22,7 4,0 12,6
(Nguồn: Chuẩn nghèo và thước đo nghèo ở một số quốc gia, Nguyễn Văn
Phẩm, Vụ hợp tác quốc tế)
1.1.3.2. Chuẩn nghèo của Việt Nam
- Chuẩn đói nghèo trước đây, năm 2000, Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội đưa ra ngưỡng nghèo, làm căn cứ xác định mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho
giai đoạn 2001 - 2005. Ngưỡng nghèo đó được ấn định cho từng khu vực: nông
thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; nông thôn đồng bằng: 100.000
đồng/người/tháng; thành thị: 150.000 đồng. Tiêu chuẩn được Tổng cục Thống kê
24
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
sử dụng trong các cuộc điều tra mức sống dân cư là mức tiêu thụ 2.100 ca-
lo/ngày/người giống như một số quốc gia khu vực.
- Theo chuẩn đói nghèo mới, Chính phủ ban hành năm 2005 có hai mức: thu
nhập bình quân tháng 200 000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm) ở
nông thôn và 260 000 đồng/người/tháng (dưới 3,12 triệu đồng/người/năm) ở thành
thị. Mức chuẩn nghèo mới cao hơn mức cũ 2 lần, kéo theo số hộ được xếp vào diện
nghèo cũng tăng lên 3 lần.
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
- XÃ HỘI VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.2.1. Tác động đối với kinh tế - xã hội
Đói nghèo và bất bình đẳng đã và đang gây ra những hậu quả tiêu cực trong
nhiều lĩnh vực, trong đó có lao động, an toàn việc làm và lương. Việc không quan
tâm xoá đói giảm nghèo và giảm thiểu bất bình đẳng trong khi vẫn đặt mục tiêu
phát triển kinh tế là không khả thi mà lại đem tới nhiều hệ quả xấu cho xã hội và
kinh tế do sự phát triển kinh tế chỉ đem lại việc tài sản xã hội được tích tụ trong tay
một số người, còn người nghèo thì lại càng nghèo thêm, khoảng cách giàu nghèo
càng gia tăng. Những người thu nhập thấp buộc phải bán sức lao động với mức
lương rẻ mạt và điều kiện lao động rất thiếu thốn. Mặc dù có những bước tiến lớn
trong việc gặt hái các thành tựu về kinh tế thì chừng nào còn sự bất cân đối trong

thu nhập thì nó còn tạo nên mâu thuẫn trong xã hội và tích luỹ dần, dẫn tới những
bất ổn về chính trị và xã hội, ảnh hưởng tới phát triển kinh tế. Khi sự bất ổn diễn ra
đến mức mất kiểm soát, nó sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn, sự vô chính phủ, trì trệ
kinh tế, và điều đáng nói là nỗ lực xoá đói giảm nghèo sẽ bị thử thách về thời gian
lâu dài và các thành quả trước đó cũng sẽ mất mát.
Kinh tế và xã hội là hai vấn đề cùng tương tác qua lại lẫn nhau, và quy định
lẫn nhai. Có thể nói, sự ổn định của một trong hai vấn đề này cũng liên hệ tới sự ổn
định của vấn đề còn lại. Kinh tế có phát triển, thu nhập của người dân được tăng
lên, phân phối thu nhập công bằng mới tạo điều kiện vật chất cho xã hội phát triển.
Ngược lại, xã hội có ổn định, hài hoà, mới tạo điều kiện cho nền kinh tế hoạt động
hiệu quả, lâu dài, phát huy được mọi nguồn lực xã hội để phát triển. Vấn đề đói
nghèo gây tác động tổn hại tới cả hai mặt kinh tế và xã hội. Mức độ nghèo đói
trong xã hội quá cao, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập xã hội càng lớn thì
càng thúc đẩy mâu thuẫn và sự đối kháng giữa các tầng lớp trong xã hội. Điều đó
tất yếu thường dẫn tới sự xuất hiện của các cuộc đấu tranh xã hội của các tầng lớp
thu nhập thấp và tận cùng xã hội, thậm chí dẫn tới bạo loạn phạm vi rộng. Nền kinh
25

×