Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CHXHCNVN- CÓ HÌNH ẢNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 14 trang )

1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CAM LÂM
TRƯỜNG TH TÂN SINH

CUỘC THI “TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”

Họ và tên: ………………………………………………
Giới tinh:………………………………………………….
Ngày, tháng, năm sinh: …………………………………
Dân tộc: …………………………………………………
Địa chỉ : …………………………………………………
Câu 1. Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy
bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày,
tháng, năm nào?
Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có 05 bản Hiến pháp. Cụ
thể là các bản Hiến pháp sau đây:
Câu 2. Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực
từ ngày, tháng, năm nào? So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung
2
1. Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được
Quốc hội thông qua vào ngày 09 tháng 11 năm 1946.
2. Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua vào ngày
31/12/1959.
3. Hiến pháp năm 1980 được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào


ngày 18/12/1980.
4. Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào
ngày 15/4/1992.
Hiến pháp năm 1992 đã được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ
sung một số điều vào ngày 25/12/2001.
5. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 28/ 11 /2013.
Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 2013
năm 2001) có bao nhiêu điều được giữ nguyên? Có bao nhiêu điều được sửa
đổi, bổ sung? Điều sửa đổi, bổ sung nào bạn tâm đắc nhất? Vì sao?
Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.
So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có 07 điều
được giữ nguyên, sửa đổi 101 điều, bổ sung 12 điều.
Điều sửa đổi, bổ sung em tâm đắc nhất là CHƯƠNG V: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN luôn luôn là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Hiến pháp 2013 khẳng định
nhiệm vụ: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.
Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà
nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước
để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.
Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an
ninh.” (Điều 64) Hiến pháp khẳng định vai trò nồng cốt của lực lượng vũ trang
nhân dân là: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc,
Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo
vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng

đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.” (Điều 65) Hiến pháp nhấn mạnh quan
điểm mới: “kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an
ninh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường
khả năng bảo vệ Tổ quốc”
Vì bản thân đang phục vụ trong lực lượng vũ trang, nhận thức được đầy đủ và
rõ nhất về tầm quan trọng trong việc bảo vệ tổ quốc, cần xây dựng và cũng cố vững
chắc nền quốc phòng, an ninh. Phát huy được sức mạnh tổng hợp của đất nước,
không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc.
3
Câu 3. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Nhân dân…”. Bạn hãy nêu và phân tích ngắn gọn các quy định của Hiến pháp
năm 2013 về những cách thức để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.
Hiến pháp năm 2013 đã quy định về những cách thức để Nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước, cụ thể như sau:
- Khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam
gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân,
chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Đây là quy định
mới được bổ sung, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện vai trò làm chủ của Nhân dân
đối với đất nước. Nhân dân giao trách nhiệm lãnh đạo Nhà nước và xã hội cho
Đảng, vì vậy, Đảng phải chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước
Nhân dân về những quyết định của mình.
- Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực
nhà nước bằng dân chủ trực tiếp” được ghi nhận và phát triển thành nguyên tắc
trong Hiến pháp.
Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng
nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp là việc Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí
của mình về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua cá nhân hay tổ chức đại

diện, thay mặt mình; dân chủ đại diện là việc Nhân dân thông qua các cơ quan nhà
nước, các cá nhân được Nhân dân ủy quyền để thực hiện ý chí của Nhân dân.
So với Hiến pháp năm 1992, quy định về việc Nhân dân thực hiện quyền lực
nhà nước trong Hiến pháp năm 2013 đã được thể hiện đa dạng hơn, thông qua
nhiều cơ quan nhà nước khác nhau. Thông qua hình thức thể hiện quyền lực nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp đã khẳng định rõ hơn, sâu sắc hơn về vai trò làm chủ
của Nhân dân.
- Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao
nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nội dung quy định này đã khẳng định Nhân dân là chủ
thể tối cao của quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về Nhân
dân. Nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội để Quốc hội thực
hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
4
Câu 4. Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng
đại đoàn kết dân tộc?
Phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong quá trình xây
dựng, bảo vệ tổ quốc và tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc tại một
số quy định sau:
- Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của
các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;
nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn
hóa tốt đẹp của mình.
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển

toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu
số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất
nước.”
- Tại các Điều: 9, 42, 58, 60, 61 và Điều 75
của Hiến pháp năm 2013 cũng có quy định về
chính sách của nhà nước đối với vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Hội đồng dân tộc
Câu 5. Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi, bổ sung năm 2001) về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân? Điểm mới nào bạn tâm đắc nhất? Vì sao?
Hiến pháp năm 2013 đã quy định bao quát về quyền con người; quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
So với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm
2013 có những điểm mới được sửa đổi, bổ sung về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân sau đây:
5
- Khoản 1 Điều 14 đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,
xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”.
-Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 cũng đã bổ sung nguyên tắc hạn chế
quyền con người, quyền công dân phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 14 quy định: “Quyền
con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong
trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,
đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”. Như vậy, việc hạn chế quyền con
người, quyền công dân không thể tùy tiện mà phải “theo quy định của luật”.

- Điều 15 đã khẳng định và làm rõ nguyên tắc về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo hướng: quyền công dân không
tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác;
công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực
hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân
tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
- Tiếp tục làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; trách nhiệm của Nhà nước
và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người.
- Bổ sung một số quyền mới; thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong
việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. Đó là quyền sống (Điều
19); quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 20); quyền bất khả
xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21); quyền được bảo đảm an sinh xã hội
(Điều 34); quyền kết hôn, ly hôn (Điều 36); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị
văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử
dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác
định dân tộc của mình (Điều 42); quyền được
sống trong môi trường trong lành (Điều 43)
- Tiếp tục kế thừa các nghĩa vụ cơ bản của
công dân trong Hiến pháp năm 1992 như nghĩa
vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44); nghĩa vụ
quân sự (Điều 45); nghĩa vụ tuân theo Hiến
pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những
quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46). Về nghĩa
vụ nộp thuế, Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi về
6
chủ thể là mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định (Điều 47) mà không quy
định chỉ công dân có nghĩa vụ nộp thuế như Hiến pháp năm 1992.
Câu 6. Những điểm mới, quan trọng về vị trí, chức năng của Quốc hội,

Chính phủ, Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013. Phân tích điểm mới
về mối quan hệ giữa các cơ quan đó trong thực hiện quyền lực Nhà nước?
1. Những điểm mới, quan trọng về vị trí, chức năng của Quốc hội, Chính phủ,
Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013:
- Về vị trí, chức năng của Quốc hội (Chương V):
Trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Điều 83 của Hiến pháp năm 1992, Điều 69 Hiến
pháp năm 2013 đã khẳng định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân
dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.”.
Khoản 3 Điều 70 quy định Quốc hội có quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu,
chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quy định này
có tính khả thi và phù hợp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm, quyền quyết định
của Quốc hội.
Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định mức giới hạn an toàn
nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ (quy định tại Khoản 4 Điều 70).
Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Khoản 7 Điều 70) để
phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình Tòa án nhân dân, làm rõ hơn vai trò của
Quốc hội trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đồng thời nâng
cao vị thế của Thẩm phán theo tinh thần cải cách tư pháp.
Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc giám sát, quy định tổ chức và
hoạt động, quyết định nhân sự đối với Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà
nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập (quy định tại các Khoản 2, 6, 7 và 9
Điều 70).
Bổ sung quy định về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (Khoản 8 Điều 70).
Quy định rõ và hợp lý hơn các loại điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê

chuẩn hoặc bãi bỏ của Quốc hội (Khoản 14 Điều 70). Đó là những điều ước quốc tế
liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của
7
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan
trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội.
Hiến định thẩm quyền của Quốc hội trong việc thành lập Ủy ban lâm thời khi
cần thiết để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định
(Điều 78).
Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung quy định giao Quốc hội quyết định việc thành
lập, giải thể Ủy ban của Quốc hội (Điều 76).
Về Ủy ban thường vụ Quốc hội: Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ hơn
thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội với tư cách là cơ quan thường trực của
Quốc hội (Điều 73); chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và
các Ủy ban của Quốc hội (Khoản 5 Điều 74). Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban
thường vụ Quốc hội trong việc quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh
địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Khoản 8
Điều 74); bổ sung thẩm quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ
tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch
Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước (Khoản 6 Điều 74); bổ sung
thẩm quyền phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền
của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 12 Điều 74).
Về Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội: Từ tính chất hoạt động của
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, cũng như yêu cầu của công tác cán bộ ở
nước ta, Hiến pháp quy định theo hướng Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng dân tộc,
Chủ nhiệm Ủy ban; còn Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Ủy viên Hội đồng dân tộc
và Phó Chủ nhiệm Uỷ ban, Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê
chuẩn (Điều 75, Điều 76). Hiến pháp quy định rõ hơn về quyền yêu cầu cung cấp
thông tin và bổ sung quyền yêu cầu giải trình của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của

Quốc hội (Điều 77).
Về Đại biểu Quốc hội: Hiến pháp bổ sung quy định đại biểu Quốc hội có
quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội
(Khoản 1 Điều 82).
- Về vị trí, chức năng của Chính phủ (Chương VII):
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp đã khẳng định Chính
phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng
định vị trí của Chính phủ trong tổ chức bộ máy nhà nước.
8
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ: Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung,
điều chỉnh những nhiệm vụ, quyền hạn sau: Bổ sung thẩm quyền đề xuất, xây dựng
chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định
theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 96 của Hiến
pháp năm 2013 (Khoản 2 Điều 96). Hiến pháp đã phân định rõ thẩm quyền của
Chính phủ trong việc tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước
theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc
chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế
trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại Khoản 14 Điều 70 của Hiến pháp (Khoản 7
Điều 96).
Về Thủ tướng Chính phủ: Hiến pháp sắp xếp, cơ cấu lại nhiệm vụ, quyền hạn
của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm tương thích với nhiệm vụ, quyền hạn của Chính
phủ; làm rõ hơn thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc định hướng, điều
hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ
thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất
và thông suốt của nền hành chính quốc gia; bổ sung thẩm quyền quyết định và chỉ
đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Khoản 5 Điều 98).
Về Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ: Hiến pháp làm rõ hơn mối quan
hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ.

Hiến pháp quy định “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm
cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực
được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách
nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ” (Khoản 4 Điều 95) nhằm tăng cường
trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Hiến pháp bổ sung quy
định “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề
quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý” (Khoản 2 Điều 99).
- Về vị trí, chức năng của Tòa án nhân dân (Chương VIII):
Hiến pháp năm 2013 bổ sung quy định Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư
pháp (Điều 102). Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Khoản 3 Điều 102).
Sửa đổi quy định về hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân (Khoản 2 Điều 102)
cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp theo hướng không xác định cấp Tòa
9
án cụ thể trong Hiến pháp mà để luật định, làm cơ sở hiến định cho việc tiếp tục đổi
mới hoạt động tư pháp, phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.
Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án, theo yêu cầu cải cách tư
pháp, Hiến pháp đã sắp xếp và bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được
bảo đảm và chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm; nghiêm cấm cơ quan,
tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm (Khoản 2, 5
và 6 Điều 103).
2. Phân tích điểm mới về mối quan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ và Tòa án
nhân dân trong thực hiện quyền lực Nhà nước:
- Kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 thể
hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đồng thời bổ sung và phát triển nguyên tắc
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

(Khoản 3 Điều 2) theo tinh thần của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Đây là điểm mới quan
trọng của Hiến pháp so với các bản Hiến pháp trước đây vì lần đầu tiên trong lịch
sử lập hiến, nguyên tắc “kiểm soát quyền lực” được ghi nhận trong Hiến pháp.
Kiểm soát quyền lực là nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền để các cơ quan lập
pháp, hành pháp, tư pháp thực thi có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mình theo Hiến pháp và pháp luật, tránh việc lợi dụng, lạm dụng quyền
lực. Nguyên tác “kiểm soát quyền lực” đã được thể hiện trong các Chương V, VI,
VII, VIII và IX của Hiến pháp và tạo cơ sở hiến định cho việc tiếp tục thể chế hóa
trong các quy định của các luật có liên quan.
- Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất vì xét về
bản chất thì nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.
Từ nguyên tắc “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (Khoản 1
Điều 2), có thể nhận thấy: quyền lập hiến, quyền lập pháp của Quốc hội chính là
việc Quốc hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân vì lợi ích chung của
quốc gia; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp là việc Chính phủ tổ chức thực
hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân vì lợi ích chung của quốc gia; Tòa án nhân
dân thực hiện quyền tư pháp, xét xử chính là việc Tòa án nhân dân thực hiện các
quyền, nhiệm vụ được Nhân dân giao.
10
- Việc phân công giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013. Điều
69 Hiến pháp khẳng định Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp (Hiến
pháp năm 2013 không quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và
lập pháp như Hiến pháp năm 1992), Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (Điều
94), Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102).
- Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác

của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp” (Khoản 2
Điều 119).
Câu 7. Cấp chính quyền địa phương quy định trong Hiến pháp năm 2013
gồm những cơ quan nào? Bạn hãy nêu nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của chính quyền địa phương đối với Nhân dân.
1. Khoản 2 Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Cấp chính quyền địa
phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với
đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật
định”.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương (Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) đối với Nhân dân được Hiến pháp năm 2013
quy định như sau:
- Điều 113 quy định:
“1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương
bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp
trên.
2. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định;
giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện
nghị quyết của Hội đồng nhân dân.”.
- Điều 114 quy định:
“1. Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính
nhà nước cấp trên.
11
2. Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các
nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.”.
Câu 8. Hiến pháp năm 2013 quy định như thế nào về trách nhiệm của đại

biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đối với cử tri và Nhân dân?
- Điều 79 Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
đối với cử tri và Nhân dân như sau:
“1. Đại biểu Quốc
hội là người đại diện cho
ý chí, nguyện vọng của
Nhân dân ở đơn vị bầu
cử ra mình và của Nhân
dân cả nước.
2. Đại biểu Quốc
hội liên hệ chặt chẽ với
cử tri, chịu sự giám sát
của cử tri; thu thập và
phản ánh trung thực ý
kiến, nguyện vọng của cử
tri với Quốc hội, các cơ
quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt
động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo
dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng dẫn, giúp đỡ việc thực hiện
quyền khiếu nại, tố cáo.
3. Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và
pháp luật.”.
- Khoản 1 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm của đại biểu
Hội đồng nhân dân đối với cử tri và Nhân dân như sau: “Đại biểu Hội đồng nhân
dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương; liên hệ
chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo
với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu,
kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu
Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp
luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên Nhân

dân tham gia quản lý nhà nước.”.
12
Câu 9. “… Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp
này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (trích
Lời nói đầu Hiến pháp năm 2013). Theo bạn, Nhà nước và mỗi người dân có
trách nhiệm làm gì và làm như thế nào để thi hành và bảo vệ Hiến pháp?
Để bảo đảm hiệu lực thi hành của Hiến pháp, cả quốc hội và người dân cần
phải có nghĩa vụ riêng và chung. Vì bảo vệ Hiến pháp là đồng nghĩa với bảo vệ
quyền lợi của chính bản thân và xã hội ta. Đầu tiên, chúng ta cần phải tìm hiểu về
hiến pháp.
Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và
thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Nhiều
hiến pháp cũng bảo đảm các quyền nhất định của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật
cơ bản nhất của một nhà nước,nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số
nhân dân tồn tại ở trong hoặc ngoài nhà nước đó, nhưng vẫn là nhân dân thuộc nhà
nước đó. Chính vì tầm quan trọng to lớn của hiến pháp mà cả nhà nước lẫn người
dân đều phải bảo vệ.
Đối với Quốc hội, Quốc hội đã thực thi một số biện pháp như ban hành Nghị
quyết số 64/2013/QH13 quy định một số điểm thi hành Hiến pháp, trong đó đã xác
định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức thi hành Hiến
pháp; kịp thời triển khai các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp.
Tuy nhiên, Quốc hội cần sớm ban hành Luật về tổ chức chính quyền địa phương,
Luật Trưng cầu ý dân, các văn bản quy định về Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán Nhà nước… để đảm bảo nhân dân thực hiện hiến pháp một các có hiệu quả từ
cấp thấp trở lên. Chính phủ xây dựng và thi hành các chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo các văn bản được ban hành
kịp thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các văn bản không còn phù hợp với Hiến pháp.
Các văn bản được ban hành phải đảm bảo phù hợp với quy định của Hiến pháp
năm 2013, đảm bảo tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả, khả thi, ví dụ như:
+ Tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Hiến pháp tại cơ quan, tổ chức và

địa phương, nâng cao nhận thức về Hiến pháp và ý thức chấp hành Hiến pháp của
người dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp.
+Phải quán triệt trong toàn hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về nội
dung, tinh thần của Hiến pháp, để mỗi người hiểu được tinh thần và những quy
định của Hiến pháp, trên cơ sở đó nâng cao nhận thức, niềm tin của người dân đối
với Hiến pháp.
13
+ Nâng cao hơn nữa chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức Nhà nước; thanh lọc bộ máy nhà nước để tránh những tình trạng tham ô,
tham nhũng, gây ảnh hưởng đến bộ máy nhà nước
+ Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm Hiến pháp và
pháp luật.
+Nhà nước không được tham gia ký kết các điều ước quốc tế có nội dung
mâu thuẫn, đối lập với các quy định của hiến pháp
Tuy nhiên, điều cần thiết hơn hết để đảm bảo thi hành và bảo vệ hiến pháp,
đó chính là ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân nước CHXHCNVN
chúng ta. Chúng ta cần phải:
+ Tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật;
+ Tham gia quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước thông qua
Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước;
+ Tham gia thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định, lựa chọn người
xứng đáng đại diện cho mình tham gia
vào bộ máy nhà nước;
+ Tham gia góp ý các văn bản pháp
luật và các vấn đề khi được Nhà nước tổ
chức lấy ý kiến, tham gia khi được tổ
chức trưng cầu ý dân;
+ Đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ
lẫn nhau, lao động cần cù, sáng tạo góp
phần vào công cuộc phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước
+ Có tinh thần vượt khó, ý thức và
trách nhiệm bảo vệ đất nước nói riêng
và bảo vệ hoà bình thế giới nói chung.
Là một người giáo viên, để đảm bảo thi hành và bảo vệ hiến pháp, tôi sẽ cố
gắng học tập và rèn luyện đạo đức, noi gương những anh hùng đi trước để bảo vệ
nước nhà. Ngoài ra,còn phải tuyên truyền cho mọi người những lợi ích và tầm quan
trọng của hiến pháp để mọi người hiếu được và thực thi tốt.
14

×