Tải bản đầy đủ (.doc) (3 trang)

Anh chị hãy phân tích bài “chiếu cầu hiền” của ngô thì nhậm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (66.22 KB, 3 trang )

Anh chị hãy Phân tích bài “Chiếu cầu hiền” của Ngô
Thì Nhậm
Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), hiệu là Hi Doãn, quê ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh
Oai, tỉnh Hà Đông (cũ), nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm 1775,
từng làm quan dưới triều Lê – Trịnh; sau đi theo Tây Sơn và có nhiều đóng góp nên được
Quang Trung trọng dụng. Nhiều văn kiện giấy tờ quan trọng của nhà Tây Sơn đều do ông
biên soạn. Vâng lệnh vua Quang Trung, ông đã viết bài Chiếu cầu hiền. Đây là một văn
kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên tầng lớp
trí thức Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước; đồng thời phản ánh tầm nhìn xa trông rộng
và tấm lòng vì dân, vì nước của Quang Trung Nguyễn Huệ. Bài Chiếu gồm ba phần:
Phần 1: Từng nghe… đến người hiền vậy: Phận sự (do Trời định) của người hiền tài là
phải đem tài năng phục vụ cho vua, cho nước. Phần 2: Trước đây… đến buổi ban đầu của
trẫm hay sao ? Phê phán nhẹ nhàng các cách ứng xử có phắn tiêu cực của một số sĩ phu
Bắc Hà và nêu lên nhu cầu sử dụng hiền tài rất cấp thiết của triều đình Tây Sơn. Phần 3:
Chiếu này… đến đều biết. Con đường rộng mở để người hiền tài cống hiến cho đất nước.
Trước tình hình chúa Trịnh ngày càng lộng quyền lấn át vua Lê, Nguyễn Huệ đã thần
tốc kéo quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” (1786); thừa thắng đánh tan hai mươi vạn giặc
Thanh, dẹp yên thù trong giặc ngoài, thống nhất đất nước, lập ra triều đại Tây Sơn. Trong
giới sĩ phu Bắc Hà có nhiều nhà Nho sáng suốt đã ủng hộ Tây Sơn. Tuy vậy, một số
người do quan niệm đạo đức bảo thủ, không nhận thấy chính nghĩa và sứ mệnh lịch sử to
lớn của phong trào Tây Sơn nên đã có thái độ bất hợp tác, thậm chí chống lại. Một nhiệm
vụ chiến lược đối với vua Quang Trung là phải thuyết phục tầng lớp trí thức Bắc Hà hiểu
đúng vai trò và những dự kiến xây dựng đất nước của triều đình Tây Sơn, để từ đó tự
nguyện cộng tác, đem tài đức phục vụ cho triều đại mới. Mở đầu bài Chiếu, tác giả chi ra
quy luật xuất xử của các bậc hiền tài: Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì
như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ
giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời
dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy. Tác giả khẳng định, người hiền
(người có đức có tài) phải phục vụ đắc lực cho nhà vua (thiên tử). Nếu không làm như
vậy là trái với ý trời. Quy luật của thiên nhiên là sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần (tức
sao Bắc Đẩu). Hiền tài là tinh hoa của trời đất nên lẽ đương nhiên là tài đức của họ phải


được cống hiến cho dân, cho nước. Từ khi nước ta chia thành Đàng Trong và Đàng Ngoài
thì người Đàng Ngoài (Bắc) cho rằng Đàng Trong (Nam) thuộc triều đại khác. Hơn nữa,
theo quan niệm chính thống của tầng lớp Nho sĩ thì chi những người xuất thân từ dòng
dõi đế vương hoặc quý tộc mới xứng đáng và có khả năng làm vua. Nguyễn Huệ lại xuất
thân từ tầng lớp bình dân, vì thế không ít Nho sĩ Bắc Hà không những không phục mà
còn tỏ vẻ coi thường, cho rằng ông ít hiểu biết về lễ nghi cũng như chữ nghĩa thánh hiền.
Nắm được tâm lí này, nên khi thể hiện tư tưởng cầu hiền của Nguyễn Huệ, Ngô Thi
Nhậm đã dùng nhiều điển tích rút từ các sách kinh điển Nho gia, dùng lời dạy của Khổng
Tử để đặt vấn đề và đưa ra cách ứng xử có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với trí thức Bắc
Hà. Cách diễn đạt đó đã tạo ra ấn tượng sâu sắc, đánh trúng vào tâm lí của tầng lớp trí
thức, cho nên có sức thuyết phục lớn, khiến họ không thể không mang tài đức ra giúp
triều đình Tây Sơn. Khi Quang Trung kéo quân ra Bắc phò Lê diệt Trịnh, tầng lớp sĩ phu
Bắc Hà có nhiều phản ứng khác nhau nhưng phần lớn giống nhau ở chỗ là không nhiệt
tình với triệu đại mới: Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải
ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng
dè không dám lên tiếng. Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết
đuối trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời. Sau khi dẫn lời Khổng
Tử và nêu lên quy luật của đất trời là những người tài đức phải giúp vua dựng nước, tác
giả nói đến tình cảnh của kẻ sĩ lúc bấy giờ: mệt số người tài đức thì đi ở ẩn trong khe núi,
trốn tránh việc đời, bỏ phí tài năng. Những người ra làm quan với triều Tây Sơn thì hoặc
sợ hãi im lặng (kiêng dè không dám lên tiếng), hoặc làm việc cầm chừng (gõ mõ canh
cửa). Một số khác ở ẩn, khác chi như người bị chết đuối trên cạn. Thậm chí một số người
tự tử để giữ lòng trung với vua Lê. Tác giả không nói thẳng mà dùng hình ảnh mang ý
nghĩa tượng trưng lấy trong kinh điển Nho gia. Làm như vậy vừa tế nhị, vừa có tính chất
phê phán nhẹ nhàng, lại tỏ ra người viết có kiến thức sâu rộng, có tài văn chương, khiến
người nghe nể trọng, không những không tự ái mà còn tự cười, tự trách về thái độ ứng xử
chưa thoả đáng của mình. Sau khi chi ra mấy cách ứng xử có phần tiêu cực của một số sĩ
phu Bắc Hà, vua Quang Trung bày tỏ tâm sự của mình và đặt ra những câu hỏi buộc
người nghe phải suy ngẫm rồi tự trả lời: Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm
mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến. Hay trâm ít đức

không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu
chăng? Những người hiền đến lúc này mà vẫn chưa chịu hợp tác với triều đình mới thì
hoặc là coi vua Quang Trung it đức, không xứng để phò tá; hoặc viện cớ tình hình xã hội
đang thời đổ nát cả hai điều ấy đều không đúng với hoàn cảnh hiện tại. Vậy thì chi còn
cách là phải đem tài đức ra phục vụ và phục vụ hết lòng cho triều đại mới. Sự nghiệp đại
định của đất nước đòi hỏi các bậc hiển tài phải cống hiến tài năng, nhiệt huyết. Thái độ
chiêu hiền đãi sĩ của vua Quang Trung là rất chân thành. Nhà vua tỏ rõ sự khiêm tốn,
thực lòng mong muốn có sự cộng tác của các bậc hiền tài để xây dựng một triều đại mới
vững mạnh: Kìa như, trời còn tăm tối, thì đấng quân tử phải trổ tài. Nay đương ở buổi
đầu của nền đại định, công việc vừa mới mở ra. Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều
khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lo toan. Dân còn nhọc mệt chưa lại sức,
mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi. Trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một
ngày hai vạn việc nảy sinh. Nghĩ cho kĩ thì thấy rằng: Một cái cột không thể đỡ nổi một
căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình. Suy đi tính lại trong
vòm trời này, cứ cái ấp mười nhà ắt phải có người trung thành tín nghĩa. Huống nay trên
dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh
nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao ? Lập luận trong đoạn
văn này rất chặt chẽ, có lí có tình. Nhà vua chi rõ tính chất của thời đại và nhu cầu trước
mắt của đất nước, đồng thời cũng thẳng thắn tự nhận những điều bất cập của triều đại
mới do mình đứng đầu như chính sách cai trị còn nhiều thiếu sót, việc biên ải chưa yên,
dân chưa hồi sức sau chiến tranh, đức hoá của vua chứa thấm nhuần,… Trong khi đó,
công việc ngày càng nhiều và trách nhiệm của triều đình ngày càng nặng nề, đòi hỏi phải
có sự trợ giúp của các bậc hiền tài. Hình ảnh: Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà
lớn và mưu lược của một người không thể dựng nghiệp trị bình là nhận xét khách quan,
đúng đắn, thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc và tầm nhìn chiến lược sáng suốt của vua
Quang Trung ồ thời điểm ấy. Kết thúc đoạn văn, tác giả lại dẫn lời Khổng Tử trong sách
Luận ngữ để khẳng định rằng hiện nay nhân tài không những có, mà còn có nhiều. Vậy
tại sao trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người
tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao ? Câu hỏi tha
thiết đó buộc giới sĩ phu Bắc Hà phải suy nghĩ và thay đổi cách ứng xử. Lời nói khiêm

nhường, chân thành và lập luận có lí có tình cùng chính sách sử dụng hiền tài rộng rãi của
nhà vua khiến các bậc hiền tài không thể không đem tài đức ra giúp triều đại mới: Chiếu
này ban xuống, các bậc quan viên lớn nhỏ, cùng với thứ dân trăm họ, người nào có tài
năng học thuật, mưu hay hơn đời, cho phép được dâng sớ tâu bày sự việc. Lời nói nào có
thể chọn dùng được, thì cất nhắc không kể thứ bậc; chỗ nào không dùng được thì gác lại,
không vì lời nói sơ suất vu khoát mà bắt tội. Còn người có nghề hay nghiệp giỏi, có thể
cống hiến cho đời, thì cho phép các quan văn, quan võ được tiến cử, nhưng vẫn dẫn vào
đợi ra mắt, tuỳ tài lục dụng. Hoặc người nào từ trước đến nay tài năng còn bị che kín,
chưa được người đời biết đến, thì cũng cho phép dâng sớ tự tiến cử, chớ hiềm vì mưu lợi
mà phải bán rao. Đường lối cầu hiền của vua Quang Trung đúng đắn và rộng mở. Trước
hết, tất cả mọi tầng lớp nhân dân từ quan viên lớn nhỏ đến dân chúng trăm họ đều được
phép dâng sớ bày tỏ ý kiến về việc nước, nghĩa là ai cũng có quyền tham gia đóng góp
vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Cách tiến cử cũng đa dạng, gồm hai cách: do các quan
tiến cử hoặc bản thân dâng sớ tự tiến cử. Cuối cùng, nhà vua kêu gọi người có tài đức hãy
cùng triều đình chung vai gánh vác việc nước để cùng nhau hưởng phúc lâu dài: … Trong
khoảng trời đất, hiền tài còn ẩn náu, trước đây thì nên như thế. Nay trời trong sáng, đất
thanh bình, chỉnh là lúc người hiền gặp hội gió mây, những ai có tài đức hãy cùng cố
gắng lên, ghi tên tại triều đình, cùng nhau cung kính, cùng nhau hưởng phúc lành tôn
vinh. Chiếu cầu hiền là một bài văn nghị luận có tính mẫu mực, thể hiện ở sự chặt chẽ và
tính lôgíc của các luận điểm, ở tài thuyết phục khéo léo và thái độ khiêm tốn, chân thành
của người viết. Các điển cố được sử dụng trong bài Chiếu cho thấy nhận thức tinh tế của
người viết về đối tượng cần thuyết phục là tầng lớp trí thức. Người viết tỏ ra có trình độ
hiểu biết sâu rộng, đủ khả năng thuyết phục một đối tượng như thế. Cách diễn đạt của bài
Chiếu tạo ấn tượng tốt về vua Quang Trung – một con người văn võ kiêm toàn; đồng thời
chuyển tải được nội dung một cách hàm súc, trang trọng. Bài Chiếu cầu hiền thể hiện tầm
nhìn chiến lược của vua Quang Trung trong việc nhận thức vể vai trò quan trọng của hiền
tài đối với đất nước. Hiền tài là nguyên khi quốc gia. Cầu hiền gần như là một quy luật tất
yếu đối với các triều đại tiến bộ khi mới ra đời. Ngô Thì Nhậm nắm vững chiến lược cầu
hiền của vua Quang Trung và đã thể hiện một cách xuất sắc tư tưởng chiến lược đó qua
bài Chiếu cầu hiền ngắn gọn nhưng đầy sức thuyết phục.

×