Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại một số cơ sở y tế ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.17 MB, 79 trang )




ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG


NGÔ VĂN ĐẠT

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ Ở QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG




KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP





Đà Nẵng – Năm 2015



ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG



NGÔ VĂN ĐẠT


ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ Ở QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG



Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường


Người hướng dẫn: TS. Trương Lê Bích Trâm







Đà Nẵng – Năm 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả, số liệu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Ngô Văn Đạt


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới
TS. Trương Lê Bích Trâm đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em thực hiện đề tài
trong suốt thời gian qua.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Sinh –
Môi Trường, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tận tình giúp đỡ
tạo điều kiện cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học.
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các bạn lớp 11CTM đã động viên,
khích lệ, giúp đỡ để em có thể hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1

1.

Tính cấp thiết của đề tài 1

2.

Mục tiêu đề tài 2

3.


Ý nghĩa của đề tài 2

3.1.

Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

3.2.

Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1.

TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ QUẢN LÝ, XỬ LÝ CHẤT THẢI Y
TẾ 3

1.1.1.

Định nghĩa 3

1.1.2.

Nguồn gốc phát sinh, thành phần, tính chất và phân loại CTRYT 3

1.1.7.

Một số phương pháp xử lý CTRYT 9

1.1.8.


Hiện trạng quản lý CTRYT tại Việt Nam và trên thế giới 10

1.2.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 16

1.2.1.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 16

1.2.2.

Tình hình phát triển ngành y tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ 18

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1.

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 20

2.1.1

Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2

Phạm vi nghiên cứu 20


2.2.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 20

2.3.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.3.1.

Phương pháp hồi cứu số liệu 20

2.3.2.

Phương pháp điều tra thực địa 20

2.3.3.

Phương pháp xác định thành phần chất thải rắn tại hiện trường 21

2.3.4.

Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia 22

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23

3.1.

TÌNH HÌNH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI QUẬN CẨM LỆ 23


3.2.

QUY MÔ CÁC CƠ SỞ Y TẾ ĐƯỢC KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 23

3.2.1.

Quy mô Bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ 23

3.2.2.

Quy mô các trạm y tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 24



3.3.

ĐIỀU TRA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
CẨM LỆ VÀ CÁC TRẠM Y TẾ PHƯỜNG 25

3.3.1.

Chất thải rắn phát sinh tại các cơ sở y tế khảo sát 26

3.3.2.

Hệ thống quản lý hành chính đối với CTRYT 34

3.3.3.


Hệ thống quản lý kỹ thuật đối với CTRYT 36

3.4.

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI CÁC CƠ SỞ ĐƯỢC KHẢO
SÁT SO VỚI QUY ĐỊNH CỦA BỘ Y TẾ 47

3.5.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT 51

3.5.1.

Đề xuất biện pháp nâng cao công tác quản lý hành chính CTRYT 51

3.5.2.

Đề xuất nâng cao hệ thống quản lý kỹ thuật CTRYT 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

1.

KẾT LUẬN 63

2.

KIẾN NGHỊ 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65


PHỤ LỤC 67















DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BYT Bộ Y tế
CTR Chất thải rắn
CTRYT Chất thải rắn y tế
CTTT Chất thải thông thường
MTĐT Môi trường và Đô thị
PVC Polyvinylclorua
QĐ Quy định
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TYT Trạm y tế
UBND Ủy ban nhân dân












DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang

1.1.
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế 4
3.1.
Phân loại và nguồn phát sinh chất thải 27
3.2.
Khối lượng chất thải y tế phát sinh tại bệnh viện đa khoa
Cẩm Lệ
28
3.3.
Khối lượng chất thải phát sinh trung bình (kg/ngày đêm)
tại các cơ sở y tế năm 2014
29
3.4.
Khối lượng chất thải phát sinh tại các phòng khoa tại bệnh
viện đa khoa Cẩm Lệ trong năm 2014
31
3.5.
So sánh tỷ lệ % khối lượng chất thải y tế phát sinh tại 6

trạm y tế phường trên địa bàn quận Cẩm Lệ được khảo sát
theo thành phần
32
3.6.
Số lượng và loại thùng rác được bố trí tại các phòng, khoa
trong bệnh viện
37
3.7.
Đánh giá công tác quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế 48
3.8.
Một số phương pháp khử trùng bằng nhiệt cho các thiết bị,
dụng cụ tái sử dụng
59




DANH MỤC HÌNH ẢNH
Số hiệu Tên hình Trang

1.1.
Bản đồ quận Cẩm Lệ 17
3.1.
Bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ 24
3.2.
Quy trình quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế được khảo sát trên
địa bàn quận Cẩm Lệ
26
3.3.
Biểu đồ khối lượng CTRYT phát sinh trung bình trong ngày tại

các cơ sở y tế được khảo sát (Kg/ngày) trong năm 2014)
30
3.4.
Biểu đồ tỉ lệ khối lượng thành phần chất thải y tế tại các TYT
phường
33
3.5.
Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý hành chính đối với CTRYT tại
Bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ
34
3.6.
Phương tiện phục vụ công tác phân loại chất thải tại các trạm y
tế phường trên địa bàn quận Cẩm Lệ
38
3.7.
Phân loại chất thải phát sinh trực tiếp trong quá trình khám chữa
bệnh
39
3.8.
Nhà chứa rác thải tại bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ 42
3.9.
Lò đốt rác tại bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ 45
3.10.
Các phương pháp xử lý chất thải tại bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ 46
3.11.
Nhân viên Xí nghiệp môi trường thu gom rác tại trạm y tế 47
3.12.
Sơ đồ đề xuất tổ chức quản lý chất thải tại bệnh viện đa khoa
Cẩm Lệ
52

3.13.
Sơ đồ đề xuất tổ chức quản lý chất thải tại các trạm y tế phường
trên địa bàn quận Cẩm Lệ
54


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, các vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe
dọa trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của con người cả trước mắt lẫn lâu dài.
Chính vì thế, việc bảo vệ, hạn chế ô nhiễm môi trường hiện nay rất cấp thiết và
được toàn thế giới quan tâm.
Tại Việt Nam hiện nay, cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội. Đời sống
của người dân đang ngày càng được cải thiện và nâng cao. Do đó, nhu cầu về khám
chữa bệnh ở các cơ sở y tế cũng vì thế mà ngày một tăng theo. Tại các địa phương,
nhiều cơ sở khám chữa bệnh do Nhà nước đầu tư và của tư nhân được xây dựng
mới nhằm đáp ứng, phục vụ việc khám và chăm sóc sức khỏe của người dân hiện
nay.
Bên cạnh những lợi ích to lớn về mặt đảm bảo sức khỏe người dân thì các cơ
sở y tế cũng đã thải ra một khối lượng rác y tế không hề nhỏ, nhất là chất thải rắn y
tế. Lượng chất thải rắn y tế ngày càng phát sinh nhiều hơn do sự gia tăng dân số,
các loại bệnh xuất hiện ngày một nhiều kéo theo nhu cầu khám chữa bệnh của
người dân. Ngoài ra, với xu hướng sử dụng các dụng cụ y tế chỉ dùng một lần càng
khiến cho lượng chất thải y tế tăng cao. Nhiều loại rác thải y tế khá độc hại đối với
môi trường cũng như con người khi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chúng.
Chính vì vậy, việc xử lí chất thải y tế tại các cơ sở y tế là vấn đề rất đáng
được quan tâm. Vì các chất thải rắn y tế là những loại chất thải cực kì nguy hiểm
nên công tác quản lý, xử lý rất phức tạp và khó khăn. Nếu không được quản lý và

xử lý tốt thì đây sẽ là nguồn gây ô nhiễm vô cùng độc hại. Có khả năng lây truyền
dịch bệnh cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Đồng thời có thể gây ô
nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng.
Tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng có rất nhiều bệnh viện, trạm y tế và
phòng khám quy mô lớn nhỏ khác nhau đã và đang được xây dựng; hoạt động. Với
số lượng cơ sở khám chữa bệnh như vậy thì lượng chất thải rắn y tế thải ra là không
hề nhỏ. Chính vì thế, công tác quản lý nguồn chất thải nguy hại này cần được quan
tâm, chú trọng đúng mức. Nhằm nắm bắt một cách tổng quát về hiện trạng của chất


2

thải rắn y tế tại quận Cẩm Lệ, từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhắm nâng nâng
cao tính hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn hướng tới phát triển bền vững.
Đó là lý do, tôi chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại
một số cơ sở y tế ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà nẵng”.
2. Mục tiêu đề tài
Mục tiêu chính của luận văn là tìm hiểu hiện trạng công tác quản lý chất thải
rắn y tế tại một số cơ sở y tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ, kết hợp với việc đánh giá
những mặt tích cực và tồn tại trong công tác quản lý hiện tại ở các cơ sở này. Từ đó
đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải
rắn y tế tại địa phương.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài cung cấp dữ liệu điều tra thực tế về hiện trạng quản lý chất thải rắn tại
một số cơ sở y tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ. Trên cơ sở đó phân tích những ưu
nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT. Từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm giải
quyết các vấn đề còn tồn tại.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài được thực hiện góp phần tham mưu cho các nhà quản lý trong việc

quản lý và quy hoạch chất thải rắn y tế một cách tốt hơn, phù hợp với chủ trương
của quận Cẩm Lệ đến năm 2020 “Xây dựng quận Cẩm Lệ - quận Môi trường” .








3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ QUẢN LÝ, XỬ LÝ
CHẤT THẢI Y TẾ.
1.1.1. Định nghĩa
Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam:
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con
người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn
mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an
toàn.
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu
gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế
và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
1.1.2. Nguồn gốc phát sinh, thành phần, tính chất và phân loại
CTRYT
a. Nguồn gốc phát sinh
Chất thải thông thường bao gồm: chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng

bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly); chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn
y tế (chai , lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong
gãy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa
học nguy hại; chất thải phát sinh từ các công việc hành chính (giấy , báo, tài liệu, túi
nilon ); chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoại cảnh).
Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm: chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm
kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống
tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc
nhọn (bông, băng, gạc); chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ
đựng dính bệnh phẩm); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phân cơ thể người,
rau thai, bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất


4

không còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế), chất thải
chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ)
Bảng 1.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế
Loại CTR Nguồn gốc tạo thành
Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính,
các loại bao gói
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của
người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá
trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh
nhận
Chất thải bị nhiễm
bẩn
Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân,

các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại chất trên, các
chất phóng xạ, hóa chất dược từ các khoa khám,
chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm; khoa dược
b. Thành phần, tính chất CTRYT
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang đặc thù so với
các loại CTR khác. Các loại chất thải này nếu không cẩn thận trước khi xả chung
với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Thành phần
CTRYT mang các tính chất đặc trưng của chúng như sau:
 Thành phần vật lý gồm các dạng: bông vãi sợi, giấy, nhựa, thủy tinh, kim
loại,
 Thành phần hóa học gồm: vô cơ ( Hóa chất, thuốc, ); hữu cơ ( Đồ vải, các
bộ phận, thuốc, )
 Thành phần sinh học: Máu, mẫu bệnh phẩm, các bộ phận bị cắt bỏ,
Thành phần CTRYT là thông tin quan trọng để đánh giá khả năng thu hồi
phế liệu lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp
c. Phân loại CTRYT
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, sinh học, hóa học và tính chất nguy hại, chất
thải trong các bệnh viện được Bộ Y tế phân thành 5 nhóm theo quy chế quản lý chất
thải y tế chung trên toàn quốc:
 Chất thải lâm sàng
Chất thải lâm sàn gồm 5 nhóm:


5

Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu bị thấm máu,
thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông, găng tay, bột bó,
đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng
dịch dẫn lưu

Nhóm B: là các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán
dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệt có thể gây ra
các vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm
khuẩn.
Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét
nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiêm, bệnh phẩm sau khi sinh thiết/xét
nghiệm/nuôi cấy, túi đựng máu
Nhóm D: là chất thải dược phẩm, bao gồm:
 Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dược
phẩm không còn nhu cầu sử dụng.
 Thuốc gây độc tế bào.
Nhóm E: là các mô và cơ quan người động vật, bao gồm: tất cả các mô của
cơ thể (dù nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn); các cơ quan, chân tay, rau thai,
bào thai, xác súc vật [3].
 Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ là chất thải có hoạt độ riêng giống như các chất phóng
xạ. Tại các cơ sở y tế chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, hóa
trị liệu và nghiên cứu.
 Chất thải phóng xạ rắn gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chẩn
đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc
sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ
 Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh
trong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất
bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ
 Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khi dùng trong lâm sàng như laze, các
khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ [3]


6


 Chất thải hóa học
Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng và khí. Chất thải hóa học
trong các cơ sở y tế được phân thành 2 loại:
 Chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, a xít béo, một số muối vô
cơ và hữu cơ.
 Chất thải hóa học nguy hại bao gồm:
 Formaldehyde: được sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, lớp
xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác.
 Các hóa chất quang hóa học: có trong các dung dịch dùng cố định và
tráng phim
 Các dung môi. Các dung môi dùng trong cơ sở y tế bao gồm: các hợp
chất halogen như methylene chloride, chlorofom, freons, trichloro
ethylene, các thuốc mê bốc hơi như halothnne, các hợp chất không có
halogen như xylene, acetone, isopropanol, toluen, ethyl acetate và
acetonitrile.
 Oxit ethylene- oxit ethylene được sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế,
phòng phẫu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị diệt
khuẩn.
 Các chất hóa học hỗn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn
như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh [3]
 Các bình chứa khí có áp suất
- Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng oxy,
CO
2
, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ
gây cháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng [3].
 Chất thải sinh hoạt
 Chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, phát sinh từ các buồng bệnh,
phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà
ăn bao gồm: giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng cát tông, túi nilon,



7

túi đựng phim, vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh, hoa
và rác quét dọn từ các sàn nhà.
 Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [3]
d. Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng CTRYT phát sinh
Lượng CTRYT phát sinh ra tăng hay giảm, nhiều hay ít không chỉ khác
nhau giữa các nước phát triển hay không phát triển. Điều kiện tự nhiên, kinh tế của
khu vực mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như:
 Loại, quy mô và phạm vi khám chữa bệnh của cơ sở y tế.
 Quy định, quy chế của cơ sở y tế đó trong việc quản lý, xử lý chất thải.
 Tình hình dịch bệnh, diễn biến của thiên tai tại khu vực.
 Lượng bệnh nhân khám chữa bệnh và số lượng người được phép ra vào bệnh
viện
 Cách thức, ý thức làm việc của nhân viên tại cơ sở y tế.
e. Tác hại của CTRYT
 Ảnh hưởng đến môi trường đất
Việc chôn lấp rác thải y tế, nhất là bao nilon tiêu hủy không an toàn chất thải
nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệ thống xử lý nước thải rất có vấn đề khi chất
ô nhiễm từ bãi rác có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối
cùng là tác động tới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn [15].
 Ảnh hưởng đến môi trường nước
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do cá chất độc hại có trong chất thải bệnh
viện. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh. Chúng có thể chứa kim loại nặng,
phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quan. Một số
dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồn nước
cấp [15].
 Ảnh hưởng đến môi trường không khí

Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được
thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khi
rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen. Việc đốt chất thải y tế đựng


8

trong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit,
thường là HCl và SO
2

Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl, Br, I, ) ở nhiệt độ thấp,
thường tạo ra axit, như hydrochloride (HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành
dioxins, một loại chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim loại nặng,
như thủy ngân, có thể phát thải theo khí lò đốt
Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏe
con người trong dài hạn [15].
 Ảnh hưởng đến con người và cảnh quan đô thị:
 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người:
Do thành phần và tính chất của các chất thải rắn Y tế rất phức tạp nên việc
lây nhiễm các loại bệnh là không thể tránh khỏi nếu không có các biện pháp quản lý
đúng đắn và hợp lý thì khả năng lây nhiễm sẽ rất cao. Trong rác thải bệnh viện
những chất nguy hiểm có nguy cơ lây nhiễm, truyền bệnh và độc hại, Ở nước ta
do có khí hậu nóng ẩm nên khả năng phát sinh ra những ổ dịch bệnh lại càng cực kì
nguy hiểm hơn. Ví dụ như bệnh tả, kiết lị, sốt xuất huyết,…
Những nhóm người: bác sĩ, nha sĩ, điều dưỡng, các nhà trị liệu, y tá, hộ lý,
nhân viên xét nghiệm, cán bộ kĩ thuật (ví dụ như nhân viên Xquang,…), nhân viên
thu gom chất thải ( trong bệnh viện, các cơ sở Y tế, nhân viên vận chuyển, nhân
viên xử lý ở khâu cuối,…), những người bới rác, nhân viên môi trường,
Do những nhóm người này thường xuyên tiếp xúc với các dụng cụ y tế, các

chất thải nhiễm khuẩn, chất thải dược phẩm, chất thải phóng xạ phát sinh từ các
hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu, ….nên họ có nguy cơ mắc các
bệnh về viêm nhiễm đường ruột, các bệnh viêm nhiễm về đường hô hấp, viêm
nhiễm qua truyền máu, viêm nhiễm da do bị xước, đứt tay chân hay bị tổn thương,
ảnh hưởng phóng xa,…là cao nhất.
Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho
cơ thể do các vật sắc nhọn ( như kim tiêm). Các vật sắc nhọn này không chỉ gây nên
những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị
nhiễm các tác nhân gây bệnh. Như vậy, những vật sắc nhọn ở đây được coi là chất


9

thải nguy hiểm vì nó gây tổn thương kép ( vừa gây tổn thương, vừa gây bệnh truyền
nhiễm như HIV, viêm gan B, ). Hơn nữa, trong chất thải y tế lại chứa đựng các tác
nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B.
Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể qua các vết trầy xước, vết
đâm xuyên, qua niêm mạc, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa (do
nuốt hoặc ăn phải). Nước thải bệnh viện còn là nơi “cung cấp” các vi khuẩn gây
bệnh, nhất là nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm cũng
như trong các khoa lây nhiễm thông qua đường tiêu hóa. Đặc biệt nguy hiểm khi
nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đễn dịch bệnh cho người và
động vật qua nguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn
uống, [15].
 Ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị
Công chúng và cộng đồng xung quanh bệnh viện rất nhạy cảm với những
tác động thị giác cua chất thải giãi phẫu, trong khi đó, việc vận hành kém lò đốt có
thể dẫn đến xả ra khí thải gây khó chịu cho nhà dân xung quanh. Những bãi rác y tế
lộ thiên không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến cảnh
quan khu vực xung quanh [15].

1.1.7. Một số phương pháp xử lý CTRYT
Hiện nay, việc xử lý CTRYT thường bằng những phương pháp sau:
 Xử lý bằng phương pháp thiêu đốt ở nhiệt độ cao:
Thiêu đốt ở nhiệt độ cao là phương pháp thành công nhất đảm bảo phá hủy
các đặc tính độc hại của chất thải y tê, giảm thiểu thể tích rác đến 95% và tiêu diệt
hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh ở nhiệt độ (105
0
C – 1100
0
C). Phương pháp này đáp
ứng tất cả các tiêu chí về tiêu hủy an toàn ngoại trừ việc phát thải các khí thải cần
được xử lý [11].
 Xử lý chất thải y tế bằng phương pháp khử trùng:
Theo phương pháp này, các chất thải có khả năng lây nhiễm trước khi thải ra
môi trường như chất thải sinh hoạt thông thường phải đem đi khử trùng. Ở các nước
phát triển, việc khử trùng còn được coi là công đoạn đầu của việc thu gom chất thải
y tế nhằm hạn chế khả năng gây tai nạn của chất thải:


10

- Khử trùng bằng hóa chất: Hóa chất thường dùng là Clo, hypoclorit. Đây là
phương pháp đơn giản và rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là không tiêu diệt
được hết lượng vi khuẩn trong rác nếu thời gian tiếp xúc ngắn. Ngoài ra, một
số vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất xử lý, hoặc clo chỉ là chất
khử trùng hữu hiệu khi không có các chất hữu cơ… Do vậy, hiệu quả của
phương pháp khử trùng không cao.
- Khử trùng bằng nhiệt và áp suất cao: Đây là phương pháp khử trùng hiệu quả
cao nhưng thiết bị để xử lý đắt tiền và đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng
cao [11].

 Xử lý bằng phương pháp chôn lấp:
Chất thải sau khi được chuyển đến bãi chôn lấp thành từng ô có lớp phủ, lớp
lót trên và dưới ô chôn lấp để ngăn ngừa chất thải phát tán theo gió hoặc ngấm vào
lòng đất [11].
 Xử lý bằng phương pháp đóng rắn:
Quá trình đóng rắn chất thải cùng với chất cố định xi măng, vôi. Thông
thường người ta trộn hỗn hợp rác y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng 15%, nước
5%. Hỗn hợp này được nén thành khối, trong một số trường hợp nó được dùng làm
vật liệu xây dựng. Trong thực hành tại bệnh viện, đối với một số chất thải y tế có
dạng sắc nhọn như kim tiêm, lưỡi dao mổ, kim khâu… Người ta cũng thường áp
dụng phương pháp thu gom và nhốt chờ xử lý
Những loại chất thải y tế khác nhau sẽ có những cách xử lý khác nhau cho
phù hợp, nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe và vệ sinh môi trường [11].
1.1.8. Hiện trạng quản lý CTRYT tại Việt Nam và trên thế giới
a. Trên thế giới
Chất thải y tế là vấn đề đã được các nước trên thế giới quan tâm từ lâu. Các
phương pháp, công cụ kỹ thuật đã được nghiên cứu, cải tiến và ngày càng hoàn
thiện để áp dụng cho việc quản lý, xử lý chất thải y tế như.Có thể kể ra một số các
công nghệ xử lý rác thải y tế không đốt bao gồm: Quy trình nhiệt - khử khuẩn bằng
nhiệt ướt như nồi hấp hay hệ thống hấp ướt tiên tiến, khử khuẩn bằng nhiệt khô,
công nghệ vi sóng, plasma ; Quy trình bức xạ - tia cực tím, cobalt; Quy trình sinh


11

học - xử lý bằng enzym [4]. Ngoài các phương pháp xử lý chất thải, nhiều chính
sách quy định, luật đã được ban hành ở các quốc gia khác nhau nhằm quản lý, kiểm
soát chặt chẽ loại chất thải này. Trên cộng đồng quốc tế, các hiệp ước, nguyên tắc,
pháp luật quy định về chất thải nguy hại, trong đó có chất thải y tế đã được công
nhận và được đông đảo các quốc gia ký kết thực hiện.

Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế.
Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các
quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện
vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt [5].
Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất
thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và
giữ cho môi trường trong sạch [12].
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được
tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt. Tránh tình trạng chất thải bị lưu
giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường [22].
Việc xử lý chất thải y tế tại các nước có thể khác nhau về các phương pháp
xử lý; trình độ kỹ thuật; các luật, chính sách, các quy định do nước đó ban hành để
phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước.
 Các nước phát triển
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện,
cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập
hệ thống xử lý loại phế thải y tế. Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại
phế thải từ 1000
0
C đến trên 4000
o
C. Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn
đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí. Các
phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạt bụi li ti và các hóa
chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axit clohidric, đioxin/furan, và
một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen, cadmi. Do đó, tại Hoa kỳ vào
năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lò đốt và yêu cầu khí thải phải
được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy theo loại phế thải.



12

Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các
quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc
hại phát sinh thải vào không khí, do đó các nhà khoa học hiện đang áp dụng một
phương pháp mới. Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và
áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải.
Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máy
nghiền nát. Phế thải đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng hơi có
nhiệt độ 138
o
C và áp suất 3,8 bar. Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện
tối ưu cho hơi nước bão hòa. Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút. Sau cùng
phế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt
được tiêu chuẩn tiệt trùng. Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối
lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không
tạo ra khí thải vào không khí [22].
 Tại các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn còn
rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện. Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại
đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi
trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện. Đặc biệt ở
Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và
Quản lý”. Trong bộ luật này có ghi rõ rang phương pháp tiếp nhận phế thải, phân
loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó, vấn đề phế thải y tế
độc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều [22].
b. Tại Việt Nam
 Tình hình quản lý CTRYT trên toàn quốc
Theo nghiên cứu, trong năm 2009 -2010, tổng lượng CTRYT trong toàn

quốc khoảng 100 – 140 tấn/ngày, trong đó có 16 – 30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại.
Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính
trung bình là 0,14 – 0,2 kg/giường/ngày. Lượng CTRYT phát sinh trong ngày khác
nhau giữa các bệnh viện, tùy thuộc vào số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay


13

đa khoa, thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, lượng vật tư tiêu
hao, [1].
Lượng CTRYT phát sinh chủ yếu tại các thành thị. Trong đó, Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh là phát sinh cao nhất với khối lượng điều tra năm 2009 thì
tại Hà Nội phát sinh gần 5000 tấn/năm và tại thành phố Hồ Chí Minh là 2800
tấn/năm [1].
Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT nói chung đã được quan tâm bởi các cấp
từ Trung ương đến địa phương, thế hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh
viện khá cao. Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1%
đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng phân
loại nhầm chất thải, một số chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy
hại gây tốn kém trong việc xử lý. Đối với các cơ sở y tế ở địa phương do các Sở Y
tế quản lý, công tác thu gom, lưu trữ, vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc
biệt là công tác phân loại và lưu trữ chất thải tại nguồn [1].
Trong vận chuyển CTRYT, chỉ có 53% bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để
vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu trữ CTR,
trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế Đây là những yếu
tố đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường [1].
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn hiếu, đặc biệt là
các xe chuyên dụng. Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ cơ sở y tế đến
nơi xử lý hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết
bị đảm bảo an toàn cho quá trình vận chuyển.

CTRYT không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi
trường đô thi thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung
của địa phương. Họa động thu hồi và tái chế CTRYT tại Việt Nam hiện đang thực
hiện không theo đúng quy chế quản lý CTRYT đã ban hành. Chưa có các cơ sở
chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ các hoạt
động y tế ở Việt Nam. Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTRYT ra
ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày. Việc tái sử dụng các
găng tay cao su, các vật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người


14

trực tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua và những
người tái chế phế liệu [1].
Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt chuẩn trên toàn quốc là 68%,
32% không đạt chuẩn là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến
sức khỏe cộng đồng. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã
có xí nghiệp xử lý CTRYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý CTRYT
nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn. Ở các tỉnh, thành phố khác, CTRYT
nguy hại được xử lý ở các mức độ khác nhau [1].
Theo thống kê, tỷ lệ lò đốt CTRYT nguy hại phân tán được vận hành tốt
chiếm khoảng 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20%. Nhìn chung, các lò đốt
CTRYT nguy hại còn nhiều hạn chế, chủ yếu do các vấn đề về chi phí đầu tư, hiệu
quả vận hành, chi phí xử lý lớn [1].
Hiện nay công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa chọn thay
thế các lò đốt CTRYT hiện nay là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm (autoclave)
và công nghệ có sử dụng vi sóng. Trong đó, công nghệ sử dụng lò vi sóng kết hợp
hơi nước bão hòa là công nghệ tiên tiến nhất hiện nay bởi có hiệu quả khử tiệt vi
khuẩn cao và thời gian xử lý nhanhm hiện đang được áp dụng tại Trung tâm y tế
Viesovpetro Vũng Tàu. Định hướng trong tương lai sẽ hạn chế việc sử dụng lò đốt

để xử lý CTRYT nguy hại, từng bước thay thế bằng các thiết bị sử dụng công nghệ
khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc các phương pháp tiên tiến khác [1].
 Tình hình quản lý CTRYT tại Đà Nẵng
Hệ thống y tế khám chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng bao gồm: 21
bệnh viện, trung tâm y tế quận, huyện. Trong đó có 4 bệnh viện trung ương,
ngành; 7 bệnh viện tuyến thành phố, 6 Trung tâm y tế quận, huyện và 4 bệnh
viện tư nhân. Ngoài ra còn có 4 trung tâm chuyên ngành, chưa kể gần 700 cơ
sở hành nghề y dược tư nhân và 56 trạm y tế xã, phường [6].
Sở y tế thành phố Đà Nẵng đã triển khai lồng ghép nội dung kiểm tra
việc quản lý chất thải y tế với công tác chăm sóc sức khỏe cho các cán bộ,
nhân viên y tế. Chỉ đạo các bệnh viện chú trọng đến công tác quản lý chất thải


15

y tế. Sở cũng xây dựng dự án đầu tư và trang bị hệ thống xử lý triệt để chất
thải y tế tại thành phố, lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án “Xây dựng hệ
thống xử lý chất thải y tế sử dụng vốn ODA của Chính phủ Tây Ban Nha” [6].
Hiện nay, trong số 21 cơ sở khám chữa bệnh từ tuyến quận, huyện trởi
lên, lượng chất thải chung theo hợp đồng vận chuyển là 80 tấn/tháng. Trong
đó, rác nguy hại ước tính khoảng 20 tấn/tháng. Tất cả các đơn vị trên đều kí
hợp đồng vận chuyển và xử lý chất thải với Công ty Môi trường đô thị với
kinh phí 32 triệu đồng/tháng. Có 85,51% đơn vị khám chữa bệnh thành lập
ban chỉ đạo và xây dựng kế hoạch quản lý chất thải y tế (Theo điều tra của
đoàn kiểm tra liên ngành gồm: Sở Y tế, Sở Tài nguyên Môi trường, Công An
thành phố Đà Nẵng) [6].
Phần lớn các đơn vị đã thực hiện quy chế rác thải y tế theo chỉ đạo của
Bộ y tế. Tất cả các đơn vị đều cử cán bộ tham dự các lớp tập huấn về quản lý
chất thải y tế, nhất là trong khâu phân loại, thu gom, vận chuyển do Sở y tế
mở hàng năm. Đa số các cán bộ y tế đều nắm được kiến thức về rác thải y tế

và có ý thức về quản lý rác thải. Các đơn vị y tế đã có bao chứa phân loại rác
thải. Công ty Original, Nhật Bản có đề nghị viện trợ không hoàn lại cho thành
phố Đà Nẵng một dự án xử lý chất thải rắn y tế (công suất 20kg/h) tại các
bệnh viện lâu nay không được xử lý đúng theo quy định, từ nguồn viện trợ
không hoàn lại và UBND thành phố đã đồng ý tiếp nhận nguồn viện trợ trên
để đầu tư dự án xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện đóng trên địa bàn
thành phố có hệ thống xử lý chất thải rắn chưa đảm bảo [6].
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong việc quản lý, xử lý
chất thải. Hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý rác với công ty Môi trường
đô thị chưa rõ ràng về trách nhiệm không kiểm soát được rác thải ở khu vực
thu gom tập trung trước và sau khi đưa khi đưa lên xe vận chuyển đến nơi tiêu
huỷ rác thải nguy hại tại bệnh viện chưa được tiền xử lý một cách triệt để sau


16

khi phân loại trong khi chưa có hệ thống xử lý rác y tế nguy hại đạt tiêu
chuẩn. Việc triển khai quy chế quản lý chất thải y tế chưa đồng bộ việc phân
loại rác tại nguồn chưa thực hiện nghiêm ngặt, nên lượng rác thải y tế nhiều
hơn thực tế (rác sinh hoạt tính vào rác y tế và ngược lại rác y tế tính vào rác
sinh hoạt). Dụng cụ trang bị thu gom rác chưa đúng quy định, nhất là qui
định về nhãn, chất lượng bao bì, thùng đựng rác chưa có nhà lưu giữ rác tại
hầu hết các cơ sở tình trạng rác tập trung ngoài trời mưa nắng gây ô nhiễm và
mất mỹ quan là phổ biến phương tiện vận chuyển rác trong khuôn viên bệnh
viện không đảm bảo vệ sinh và an toàn (hầu hết là xách tay) 100% đơn vị
chưa lập hồ sơ xử lý rác thải y tế đúng qui định…[6].
1.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA QUẬN
CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội
a. Vị trí địa lý và hành chính

Quận Cẩm Lệ được thành lập, tách ra từ huyện Hòa Vang theo Nghị định số
102/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ [7].
Cẩm Lệ có tọa độ 16
0
1’0”B 108
o
12’10”Đ, nằm ở vị trí phía Tây - Nam của
thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm 7Km. Quận Cẩm Lệ có địa giới hành chính tiếp
giáp với 5/8 quận, huyện của Thành phố, gồm các quận Hải Châu, Thanh Khê, Ngũ
Hành Sơn, Liên Chiểu và huyện Hoà Vang [21].

×