Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

Ôn tập Tác phẩm Vợ chồng A Phủ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (174.18 KB, 13 trang )

Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
VỢ CHỒNG A PHỦ
Đề 1 : Màu sắc dân tộc trong "Vợ chồng A Phủ"
Đề tài miền núi là một đề tài đã đem lại nhiều vinh quang cho sự nghiệp sáng
tác của nhà văn Tô Hoài và mở ra một giai đoạn mới cho văn học viết về miền núi.
Bằng vốn hiểu biết của chính bản thân mình qua những chuyến đi thực tế thâm nhập
vào đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi và tài năng văn chương của mình, Tô
Hoài đã tạo nên những tác phẩm vô cùng đặc sắc, mang đậm màu sắc dân tộc mà tiêu
biểu nhất phải kể đến là truyện “Vợ chồng A Phủ” (lấy trong tập “Truyện Tây Bắc”)
của ông. Một cốt truyện không mới: sự so sánh giữa 2 cuộc sống cũ- mới, sự giác ngộ
của quần chúng nhân dân đi theo cách mạng. Nhưng tác phẩm lại để lại trong lòng bạn
đọc 1 dấu ấn đặc biệt với hình ảnh một cô Mị, A Phủ, những phong tục tập quán mang
nét đặc trưng của người miền núi mà nếu xóa bỏ chúng đi tác phẩm sẽ mất hết sức hấp
dẫn. Nhãn quan phong tục của Tô Hoài đã phát hiện được những sự việc trong cuộc
sống sinh hoạt hàng ngày của quần chúng nhân dân mà không phải nhà văn nào cũng
có thể phát hiện ra.
Mở đầu tác phẩm ta đã bắt gặp hình ảnh một cô Mị mặt lúc nào cũng buồn rười
rượi, cúi xuống không vui. Mị tự coi mình là con trâu, con ngựa trong nhà người. Mị là
con dâu nhà thống lí Pá Tra giàu có nhất vùng nhưng là con dâu gạt nợ. Nàng không
bằng được một đứa con ở vì con ở ít ra còn có ngày trả hết nợ mà tự do, còn nàng thì
làm dâu gạt nợ, không những phải làm nô lệ cho nhà người mà đến chết cũng làm ma
nhà người. Trước khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị là một cô gái xinh đẹp
có tài thổi kèn lá rất hay, được bao nhiêu chàng trai theo đuổi, Mị cũng đã có người
yêu. Một cô gái như vậy đáng lẽ cũng đã được nhận một cuộc đời hạnh phúc, song
những hủ tục của người H’mong đã giết chết hạnh phúc của Mị. Cha mẹ Mị từ hồi cưới
nhau đã vay nhà thống lí Pá Tra để làm lễ cưới , mỗi năm nộp một nương ngô cho nhà
thống lí vậy mà đến khi mẹ Mị mất đi thì tiền nợ vẫn chưa trả xong. Cưới xin của
người H’mong được tổ chức rất linh đình và thường vào mùa xuân vì người H’mong
kiêng tổ chức đám cưới vào những tháng có sấm sét. Tô Hoài rất khéo léo đưa những
phong tục của người H’mong vào trong tác phẩm, từ đám cưới của cha mẹ Mị đến đám


cưới của Mị. Tục kéo vợ, bắt vợ, tục cúng trình ma. Có lẽ đó đều là những phong tục
được đặt ra mang ý nghĩa tốt đẹp cho đôi lứa thế nhưng A Sử và người nhà thống lí Pá
Tra dựa vào quyền thế bày ra những hành động ti tiện bắt Mị về ép duyên để gạt nợ,
biến những ngày tháng còn lại của Mị trở thành cơn ác mộng. Tình cảnh của Mị chính
là chứng cớ tố cáo mãnh liệt nhất bọn cường hào cho vay nặng lãi, nạn cho vay nặng
lãi khiến cho bao nhiêu kẻ nghèo phải phụ thuộc, cột chặt số phận vào địa chủ . Làm
bao nhiêu năm, chăm chỉ cật lực cũng không trả hết nợMị về nhà thống lí pá Tra làm
dâu , thân phận cũng chẳng khác gia súc là mấy vì ít ra gia súc còn có lúc được nghỉ
gãi chân. Lúc đầu Mị còn có ý thức phản kháng, Mị khóc ròng mấy tháng liền, đêm
nào cũng khóc, thậm chí còn định ăn lá ngón tự tử. Vì lòng hiếu thuận, vì nghĩ đến cha
mình đã già, đến chết vẫn không yên, vẫn mang cái nợ lớn trên đầu Mị mới thôi. Ý
thức phản kháng , sức trẻ của Mị đã tiêu tan chỉ vì ý nghĩ: mình đã bị đem trình ma thì
có chết cũng trở thành ma của nhà thống lí Pá Tra, có chết rồi cũng không được tự do.
Suy nghĩ lạc hậu, mê tín dị đoan đã trở thành một phần trong tâm linh người dân tộc
H’mong. Cũng kể từ đó Mị không còn biết đến ngày tháng, không biết đến đêm ngày
1
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
nữa. Một cô gái tài năng tràn đầy sức sống, đẹp cả về tâm hồn lẫn thể chất vậy mà giờ
đây chỉ còn như một cái bóng ma, một cái xác không hồn “lầm lũi như con rùa trong
xó cửa”.
Người nông dân miền núi bị những hủ tục, bị bọn phong kiến tàn ác hủy hoại tự do,
bóc lột sức lao động thậm tệ. A Phủ là một chàng thanh niên khỏe mạnh , cường tráng,
chăm chỉ nhưng lại rất nghèo. Hoàn cảnh của A Phủ là hoàn cảnh điển hình của rất
nhiều người H’mong khác: nghèo khổ, không có ruộng nương, bị bọn quan lang, thống
lí bắt chẹt trở thành nô lệ. Nhiều cô gái ước ao lấy được A Phủ về nhà. Thế nhưng vì
dũng cảm đứng ra đánh nhau với A Sử đến phá đám chơi tết nên đã bị bắt về làm đứa
ở. Tô Hoài lại đưa ra một tập tục nữa của người dân tộc H’mong đó là tục phạt vạ. Bản
chất của việc phạt vạ cũng chính là thỏa mãn cho bọn thống quản ăn chơi, thói hút xách
trưởng giả. A Phủ bị đánh, bị bắt làm việc một cách không tình nguyện song cũng

không có cách nào phản kháng lại được vì dường như tất cả những chuyện này là điều
hiển nhiên tất yếu, một tập tục đã trở nên quá quen thuộc với tất cả đồng bào H’mong
rồi. “Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ trả hết nợ thì tao mới
thôi”. A Phủ chính là nhân vật điển hình cho tầng lớp nông nô ở vùng cao Tây Bắc.
Mọi chuyện có lẽ sẽ vẫn tiếp diễn như vậy, cuộc đời hai con người ấy sẽ mãi
mãi chỉ là thứ tôi tớ, trâu ngựa cho bọn thống trị, bóc lột nếu như không có tiếng sáo
đêm tình mùa xuân, tiếng khèn gọi bạn tình. Phong tục rất đẹp này của người H’mong
được biểu hiện qua những câu hát quen thuộc “Anh ném pao, em không bắt. Em không
yêu quả pao rơi rồi”, câu hát bình dị mà phóng khoáng thẳng thắn như chính tâm hồn
những người dân tộc miền núi Tây Bắc. Tiếng hát, tiếng sáo có sức lay động mãnh liệt,
làm cho sức trẻ, khát vọng yêu đương của Mị sống dậy, như hoa cỏ mùa xuân nhú
mầm xanh sau ngày đông lạnh giá. Mị càng uống rượu, ý thức về bản thân Mị lại càng
dâng cao “Mị còn trẻ lắm” . Cũng chính trong đêm lạnh giá mùa xuân ấy, giọt nước
mắt nóng hổi thương cho chính số phận mình của A Phủ là yếu tố cuối cùng khiến Mị
đưa ra quyết định táo bạo: cắt dây trói cho A Phủ rồi cùng bỏ trốn. Cũng kể từ đây
cuộc đời của họ bước sang trang mới tươi sáng tốt lành hơn cùng với cách mạng.
“Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài có một nét riêng mà không thể lẫn đi đâu bởi vì
giọng điệu mà tác giả sử dụng là giọng điệu tự nhiên, suồng sã, gần với tiếng ăn câu
nói hàng ngày của người dân. Từ những chi tiết nhỏ nhất như cách xưng hô “tao-
mày”, đến cách nói không khoa trương, “xổ toẹt” không ẩn ý cầu kì , bác học bởi họ
đều là những người nông dân chưa đụng sách vở, tính tình chân chất. Chủ yếu nhất đó
chính là hệ thống những tri thức mà người đọc thu nhận được về phong tục, tập quán
sống của người dân tộc H’mong. Tô Hoài, bằng cảm quan phong tục của mình đã thể
hiện những màu sắc dân tộc vô cùng sinh động của đồng bảo dân tộc Tây Bắc, nào là:
phạt vạ, trình ma,cho vay nặng lãi, cưới hỏi, nối dây, gọi bạn tình, chơi xuân… Chính
màu sắc dân tộc này đã làm cho tác phẩm có sức hấp dẫn đặc biệt và sức sống với thời
gian như là một nét đẹp văn hóa dân tộc.
Đề : Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn VCAP
Tô Hoài là một gương mặt khá tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông viết văn
khá sớm. Trong sự nghiệp văn chương của mình, Tô Hoài đã đóng góp vào sự phát triển của

văn xuôi Việt Nam nhiều về số lượng tác phẩm, đa dạng về thể loại, phong phú về đề tài, nhất
quán về tư tưởng với một phong cách độc đáo.
2
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
Từ những năm 1940, ông đã có truyện ngắn đăng trên các báo thời bấy giờ. Nhiều tác
phẩm của ông được tái bản nhiều lần, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, được nhiều
thế hệ, nhiều đối tượng độc giả yêu mến, hâm mộ. Trong kỷ niệm tuổi thơ, các thế hệ bạn đọc
không thể nào không nhớ, không bị lôi cuốn vào cuộc phiêu lưu của chú dế mèn. Những người
lao động nghèo khổ, tầng lớp dưới đáy của xã hội và công chúng văn học có tinh thần nhân
văn không thể nào không nhớ đến hàng loạt tác phẩm được in trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945 như "O chuột", "Nhà nghèo", "Xóm Giếng ngày xưa"
Từng trải, am hiểu và thương yêu các dân tộc miền núi phía Bắc, Tô Hoài đã viết hàng loạt tác
phẩm về những con người vùng ấy như "Núi cứu quốc", "Mường Giơn", "Cứu đất cứu
mường", "Vợ chồng A Phủ", "Miền Tây". Đọc "Cát bụi chân ai", ta có thể thấy rằng Tô Hoài
là một pho từ điển về Hà Nội trong thời Pháp thuộc, trong những năm tháng sục sôi cách
mạng, trong những năm sau hòa bình lập lại (1954)
Xuất thân trong một gia đình lao động nghèo khổ, chất nhân văn trở thành một yếu
tố tự nhiên trong văn chương Tô Hoài. Chính điều đó đã đưa ông sớm đến với Hội Văn hóa
cứu quốc từ những ngày bí mật. Cách mạng tháng Tám, rồi kháng chiến chống thực dân Pháp,
Tô Hoài lại ra đi. Và lần này, ông đi cùng bộ đội, đến với nhân dân các dân tộc ít người vùng
cao Tây Bắc. Nhãn quan cách mạng và tình yêu thương con người đã giúp Tô Hoài viết nên
tập "Truyện Tây Bắc" gồm ba truyện, trong đó truyện ngắn được đánh giá xuất sắc là truyện
"Vợ chồng A Phủ".
Là tác phẩm xuất sắc, "Vợ chồng A Phủ" được đưa vào giảng dạy trong chương trình
bậc Trung học phổ thông. Tác phẩm đã được nghiên cứu về nhiều mặt: về sức sống tiềm tàng
của nhân vật, về nội dung bản cáo trạng và bản tình ca, về những nghịch lý, về chất dân gian
trong truyện
Tôi không có điều kiện đi sâu tìm hiểu sự kết hợp phong phú và đa dạng đó trong văn
chương Tô Hoài mà chỉ tìm hiểu không gian nghệ thuật trong "Vợ chồng A Phủ". "Vợ chồng

A Phủ” kể về cuộc đời của Mỵ và A Phủ, chàng trai và cô gái dân tộc H’Mông. Cuộc đời ấy
trải qua hai giai đoạn: đoạn đời đầy bóng tối và đau khổ ở Hồng Ngài và đoạn đời lóe lên ánh
sáng của sự sống ở Phiềng Sa. Phần sau của tác phẩm như một cô gái trang điểm chưa khéo
léo nên chưa đạt độ chín về nghệ thuật. Vì thế, nhà văn đã mạnh dạn lược bỏ hầu hết phần sau
khi đưa vào tuyển tập "Truyện ngắn Việt Nam 1945-1985". Trên tinh thần ấy, bài viết sẽ đi
sâu vào tìm hiểu không gian nghệ thuật của tác phẩm chủ yếu là ở phần đầu.
1. Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính
chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm
nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó, thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ
bản tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần,
rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không
gian nên mang tính chủ quan. Ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng. Do vậy,
không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lý.
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa cái thế giới mà con
người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đó. Không gian nghệ thuật gắn
liền với quan niệm về con người và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy.
Truyện "Vợ chồng A Phủ" là loại truyện số phận. Tác phẩm kể về số phận của Mỵ và A Phủ
nên không gian trong tác phẩm là không gian của số phận con người diễn ra ở hai địa điểm
cách xa nhau hàng tháng đường rừng trên vùng cao Tây Bắc là Hồng Ngài và Phiềng Sa.
Trong bối cảnh không gian chung ấy, mỗi đoạn đời hai của nhân vật lại gắn với những không
gian mang dấu ấn riêng.
2. Không gian số phận của Mỵ và A Phủ ở Hồng Ngài là không gian nô lệ. Trong không
gian ấy, có hai loại nhân vật được ngòi bút tác giả tập trung thể hiện là kẻ chủ nô và người nô
lệ. Kẻ chủ nô là cha con thống lý Pá Tra, còn người nô lệ là Mỵ và A Phủ. Kẻ chủ nô có đủ
3
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
mọi quyền hành còn người nô lệ bị đối xử không bằng súc vật.
2.1. Trước hết, tác giả đã xây dựng không gian bối cảnh dẫn tới không gian nô lệ. Đó là
không gian gia đình Mỵ sống cùng người bố đã già yếu lại mang một món nợ truyền kiếp.

Món nợ ấy là do bố Mỵ vay của bố thống lý Pá Tra để cưới mẹ Mỵ, mỗi năm phải trả lãi cho
chủ nợ một nương ngô. Cả cuộc đời lao động vất vả, bố mẹ Mỵ cũng không thể nào trả hết nợ.
Và bây giờ, cái thời khắc quyết định đến số phận cuộc đời Mỵ đã đến khi Pá Tra đến bảo với
bố Mỵ: "Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho.". Mặc dù rất thương con
nhưng bố con Mỵ không có cách nào chống lại cái luật lệ khắc nghiệt do bọn quan lại vùng
cao đặt ra. Đây chính là bối cảnh để buộc Mỵ phải trở thành nô lệ. Như vậy là món nợ truyền
kiếp từ thời cha mẹ, Mỵ phải trả bằng cả tuổi trẻ và cuộc sống tự do của mình. Còn cha con Pá
Tra đã hoàn thành việc biến con người tự do thành nô lệ.
Hoàn cảnh trở thành nô lệ của A Phủ cũng là phải trả nợ cho thống lý Pá Tra, nhưng
nguyên nhân dẫn đến việc trở thành nô lệ của A Phủ thì có khác. Tác giả khắc họa một không
gian thơ mộng của những đêm tình mùa xuân dành cho tuổi trẻ ở vùng cao. Trong không gian
ấy có tiếng sáo thổi, có các chàng trai, các cô gái trẻ đẹp, có các trò chơi ném pao, đánh quay,
đặc biệt là có tiếng hát gọi bạn tình. Không gian thơ mộng như trong cổ tích ấy bỗng chốc bị
phá vỡ bởi sự xuất hiện của A Sử, con trai thống lý Pá Tra. Mặc dù đã có vợ, hắn vẫn muốn đi
bắt nhiều cô gái trẻ đẹp khác về làm vợ, mà thực chất là làm nô lệ. Không như lần đi cướp Mỵ
về làm vợ, lần này A Sử đã phải trả giá cho việc phá rối cuộc chơi của đám thanh niên. A Phủ
xuất hiện, "vung tay ném thẳng con quay vào giữa mặt A Sử". A Phủ xộc tới, nắm lấy cái
vòng cổ nạm bạc của A Sử, cái dấu hiệu con quan của hắn mà đánh tới tấp trước sự cổ vũ của
trai làng. Tất nhiên là đứa con của núi rừng tự do ấy bị bắt, bị trói, bị khiêng về nhà Pá Tra, bị
đánh đập tàn nhẫn, bị xử phạt và bị biến thành nô lệ.
Không gian bối cảnh có vai trò làm nền để đẩy nhân vật vào không gian nô lệ. Để tạo
ra bối cảnh của câu chuyện, tác giả đã đưa vào truyện một số sự kiện. Các sự kiện này tương
tác với nhau thúc đẩy sự diễn biến của cốt truyện. Tác giả xây dựng hình tượng nhân vật theo
cấu trúc nghịch lý. Mỵ có tuổi trẻ, có sắc đẹp, hiếu thảo, nhưng lại sinh ra trong một gia đình
quá nghèo. Vì không có tiền trả nợ cho bố nên trở thành nô lệ. Còn A Phủ, tuy là chàng trai
mồ côi, không người thân thích, không nhà cửa, không tài sản nhưng lại có đầy đủ phẩm chất
của người lao động: có sức khỏe, lao động giỏi, ưa thích những công việc mạo hiểm, giàu lòng
dũng cảm, con gái nhiều người mê, nhưng cũng bởi không có tiền nộp phạt mà A Phủ trở
thành nô lệ của Pá Tra. Bọn quan lại thì có quyền lực, có công cụ đàn áp, vừa gian ác, vừa xảo
quyệt, chúng tìm mọi cách để nô lệ hóa con người. Khi hai lực lượng ấy va đập vào nhau, thì

như một tất yếu của cuộc sống trong xã hội cũ, phần thắng luôn thuộc về kẻ mạnh.
2.2. Trước khi chính thức trở thành nô lệ nhà thống lý Pá Tra, A Phủ phải trải qua một cuộc
xử kiện lạ lùng. Tác giả đã đưa người đọc vào một không gian pháp đình chưa từng có trong
lịch sử xử án. Không gian ấy được miêu tả từ ngoại cảnh đến nội cảnh. Ngoại cảnh là có thêm
nhiều ngựa buộc dưới gốc đào. Nó chứng tỏ một phiên xư án có nhiều người đến dự. Bởi hầu
như tất cả bọn chức việc ở Hồng Ngài đều có mặt ở nhà Pá Tra để dự xử kiện và ăn cỗ: nào lý
dịch, nào thống quán, nào xéo phải, nào bọn đi gọi người về xử kiện. Ngoài ra còn có bọn trai
làng bị gọi sang hầu kiện. Thành phần "quan tòa" đã đông đủ. Việc chuẩn bị cho buổi xử kiện
cũng rất chu đáo với năm bàn đèn thuốc phiện. Nguyên cáo, bị cáo, quan tòa, nhân chứng đã
đủ, thế là buổi xử kiện bắt đầu. Mở đầu cho buổi xử kiện là tiệc thuốc phiện. Trước tiên là
thống lý Pá Tra hút một lượt năm điếu, rồi người khác, lại người khác cho đến khắp lượt. Sau
đó, Pá Tra gọi, A Phủ bị lôi ra giữa nhà, bị chửi bới và bị đánh đập tàn nhẫn. "Cứ như thế, suốt
chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút". Không gian ấy ngào
ngạt khói thuốc phiện, tràn ngập âm thanh của những cơn kéo thuốc phiện, âm thanh của tiếng
chửi, tiếng kể, tiếng đánh đấm huỳnh huỵch. Không một lời giãi bày, biện hộ của A Phủ, bởi
chàng trai ấy không được phép nói dù chỉ một lời mà chỉ im như cái tượng đá trước những trận
4
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
mưa đòn. Điều đó cho ta thấy được tính cách gan lì của A Phủ, sự tàn ác của bọn quan lại.
Suốt một đêm đến sáng hôm sau, buổi xử kiện kết thúc bằng việc Pá Tra mở tráp lấy ra một
trăm đồng bạc trắng và phán:
"Thằng A Phủ đánh người, làng xử mày phải nộp vạ cho người phải mày đánh là hai mươi
đồng, nộp thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng mỗi người đi gọi các quan làng về hầu
kiện năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan về hút thuốc từ hôm qua. Lại mất con lợn hai
mươi cân, chốc nữa mổ các quan làng ăn vạ mày. A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng nhẽ
làng xử mày tội chết. Nhưng làng tha cho mày được sống mà nộp vạ. Cả tiền phạt, tiền thuốc,
tiền lợn, phải chịu một trăm bạc trắng. Mày không có trăm bạc, tao cho mày vay để mày ở nợ.
Bao giờ có tiền trả thì tao cho mày về, chưa có tiền trả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con
ngựa nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ mới thôi. A

Phủ! Lại đây nhận tiền quan cho vay".
Lời phán quyết đã tuyên. Thật là rõ ràng, rành mạch. Luật lệ của bọn lãnh chúa là như
thế. Nó gợi nhớ đến cách xử án thời trung cổ. Nó còn gợi nhớ những vụ án tru di tam tộc thời
phong kiến nước ta. Không bị giết cả ba họ hoặc ba đời, nhưng phải ở nợ cho đến ba đời. Tất
nhiên là A Phủ không thể nào trả được nợ khi bản thân anh là một nô lệ. Vì thế, việc ở nợ
không chỉ dừng lại ở ba đời. Chỉ khi nào chế độ nô lệ bị đánh đổ, những người như A Phủ mới
được giải phóng mà thôi.
Để nô dịch hóa con người, bọn chúa đất đã dùng biết bao thủ đoạn thâm độc như cho
vay nặng lãi để ràng buộc con người, đẩy người tự do vào đường cùng phải làm nô lệ; bắt lao
động khổ sai như súc vật; đánh đập con người vô cùng tàn nhẫn và vô lý, cầm tù, giam hãm,
cấm đoán con người; trình ma như một nghi lễ lợi dụng thần quyền để khống chế con người.
Như trên đã nói, Mỵ và A Phủ có đủ điều kiện chính đáng để được sống một cuộc đời hạnh
phúc song lại bị cuộc đời chà đạp đến tận đáy sâu của nó. Họ bị biến thành nô lệ trong nhà
thống lý Pá Tra.
2.3. Không gian nô lệ trong nhà Pá Tra được biểu hiện ở hai mặt: Không gian lao động khổ
sai và không gian tù ngục.
Nhà văn đã dành bao tình thương yêu của mình cho nhân vật. Trong lời kể mở đầu tác
phẩm, Mỵ đã hiện ra với nhiều tín hiệu của cuộc đời đầy giông bão: "Ai ở xa về có viêc vào
nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa,
cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng
nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi". Mỵ hiện lên không phải ở
phía chân dung mà ở phía số phận, một số phận quá nghiệt ngã mà Mỵ đã bị buộc vào. Việc
trở thành con dâu gạt nợ nhà Pá Tra đã xâu chuỗi những nỗi đau khổ của cuộc đời Mỵ. Món
nợ nhà giàu đã cướp trắng tuổi trẻ và khát vọng của Mỵ. Bông hoa tinh khiết của núi rừng bị
nhấn chìm trong kiếp sống tôi đòi cơ cực. Nhà văn đã diễn tả nỗi cực nhọc về thân xác của cô
gái ấy trong kiếp sống lao động khổ sai. Mỵ không có quyền làm người mà chỉ có: quyền làm
việc, quyền làm nô lệ, quyền làm trâu ngựa. Lúc đầu, Mỵ trốn về nhà bố, đinh ăn lá ngón tự
tử. Nhìn bề ngoài, đây là hành vi tiêu cực của kẻ chán sống, nhưng thực chất, nó là biểu hiện
của lòng yêu đời. Nó cho thấy sự lựa chọn cực đoan của Mỵ là thà được chết như một con
người còn hơn phải sống như một con vật. Điều này chỉ có ở những người giàu lòng tự trọng,

có ý thức rất cao về phẩm giá của mình. Nhưng Mỵ lại rơi vào một tình thế bi kịch: Sống
không được mà chết cũng không xong. Lòng hiếu thảo không cho phép Mỵ quyên sinh. Xưa
Thúy Kiều đã vì chữ hiếu mà bán mình chuộc cha. Còn nay, vì món nợ của cha chưa trả xong,
Mỵ không đành lòng chết khi nghe bố nói: "Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày
chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi không lấy ai làm nương ngô
trả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!". Thế là Mỵ đành trở lại nhà
Pá Tra để tiếp tục cuộc đời nô lệ. Mỵ sống như một người đã chết: không trông chờ, không hy
vọng, không phản ứng, không giao lưu, không đoái hoài đến không gian, thời gian. Mỵ câm
5
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
lặng như một cái bóng, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Thân xác ngày càng héo hon,
tinh thần càng tàn lụi. Sống chỉ là kéo dài những chuỗi ngày chưa chết mà thôi!
Để diễn tả cuộc đời lao động khổ sai của Mỵ, nhà văn đã dựng được những phép so
sánh thật là đau đớn: "Bây giờ Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa. Con
ngựa phải đổi tàu ngựa nhà này đến ở tàu ngựa nhà khác. Con ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi
làm mà thôi.". Đây là phép so sánh tương đồng: so sánh con người với con trâu, con ngựa.
Nhà văn còn sử dụng so sánh đòn bẩy: con người không bằng con vật vì con vật còn được
nghỉ ngơi ban đêm để gãi chân, nhai cỏ, còn con người thì vùi đầu vào công việc cả ngày, cả
đêm. Mà cơ man nào là công việc đè nặng lên những kiếp người: "Tết xong thì lên núi hái
thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp. Và dù lúc đi hái củi,
lúc bung ngô, lúc nào cũng ôm một bó đay trong cánh tay để tước sợi. Bao giờ cũng thế, suốt
năm, suốt đời như thế".
Không chỉ diễn tả nỗi đau thể xác, nhà văn còn thông cảm với nỗi đau khổ tinh thần.
Chính xúc cảm về nỗi đau tinh thần ấy đã khiến ông sáng tạo ra những hình ảnh khó quên. Đó
là hình ảnh cô Mỵ rạo rực xuân thì ngày nào bây giờ trở thành con rùa lùi lũi trong xó cửa.
Nhất là hình ảnh căn buồng nơi Mỵ nằm kín mít với cái cửa sổ vuông bằng bàn tay. Mỵ ngồi
đó trông ra, lúc nào cũng chỉ thấy mờ mờ, trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Đây là
cách diễn tả cực hay về một thứ ngục thất tinh thần. Nó không chỉ giam hãm thân xác Mỵ mà
còn cách ly tâm hồn cô với cuộc đời, cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô. Tiếng nói tố cáo

chế độ phong kiến miền núi cất lên nhân danh quyền sống. Chế độ ấy đáng lên án bởi vì nó
làm cạn khô nhựa sống, làm tắt lụi ngọn lửa của sự sống trong những con người có quyền
sống và đáng sống.
Nếu lúc trước Mỵ không thể chết được vì còn món nợ của người cha thì nay, dù cha Mỵ đã
chết, Mỵ lại buông trôi, kéo dài mãi sự tồn tại vật vờ. Muốn chết nghĩa là còn chống lại cuộc
sống không ra sống. Khi không thiết chết nghĩa là sự thiết tha với cuộc sống cũng không còn.
Như vậy thì sức sống của Mỵ vĩnh viễn mất đi chăng? Không phải thế. Lòng yêu thương và sự
đồng cảm đối với con người đã giúp nhà văn nhận ra rằng, bên trong cái hình ảnh con rùa lùi
lũi kia vẫn tiềm tàng một sức sống, chỉ chờ có dịp là nó bùng lên. Và cái sức sống ấy đã bùng
lên trong một đêm xuân đầy ắp tiếng gọi bạn tình. Quả thực bức tranh xuân năm ấy có sức làm
say đắm lòng người: "Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió
và rét dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên các
mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ. Hoa thuốc phiện nở trắng, nở đỏ au, nở đỏ thậm, rồi tím
man mác". Sắc cỏ gianh, gió và rét cũng như sự biến đổi màu sắc kỳ lạ của các loài hoa cũng
chưa chắc đã đủ để làm nên sự nổi loạn của một tâm hồn đã tê dại suốt bao năm. Cần phải có
những tác nhân khác nữa mới đủ để cho tâm hồn của một kẻ nô lệ đã tê dại bùng lên nổi loạn.
Trong sâu thẳm tâm hồn Mỵ, có một tiếng hát mà không sức mạnh cường quyền nào có thể
dập tắt được. Nó là kết tinh sức sống kỳ diệu của con người. Bị vùi sâu chôn chặt bấy lâu nay,
bây giờ nó đang thức dậy. Mỵ ngồi nhẩm lời bài hát của người đang thổi sáo:
Mày có con trai con gái
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu.
Nhu cầu giao cảm, giao lưu, nhu cầu sống đã trở lại. Khát vọng sống bừng dậy cứ làm
lòng Mỵ phơi phới trở lại, càng lúc càng rạo rực, cồn cào. Ý thức về thời gian đã trở lại.
Mỵ đang sống với thời gian thực tại và nhớ về quá khứ. "Lòng Mỵ thì đang sống về ngày
trước". Có một vùng không gian tâm tưởng bị mờ đi, nay hiện hình rõ dần trong Mỵ. Đó là Mỵ
còn sống với bố. Ngày xuân, Mỵ cũng uống rượu, và thổi sáo. Mỵ cuốn chiếc lá đưa lên môi
thổi cũng hay như thổi sáo. Trai làng theo Mỵ hết núi này đến núi khác. Và ban đêm, con trai
đến đứng nhẵn chân vách buồng Mỵ.

6
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
Tác nhân ấy trước hết là hơi rượu. Nhà văn đã để cho nhân vật Mỵ lén uống rượu.
"Mỵ lén lấy hũ rượu uống ực từng bát". Uống mà như nuốt mọi đắng cay, tủi cực vào lòng.
Cái say vừa gây lãng quên, vừa đem lại trí nhớ. Quên thực tại và nhớ về quá khứ. Điều quan
trọng là Mỵ vẫn nhớ rằng mình vẫn còn là một con người. Ý thức ấy đã lớn dần lên: "Mỵ vẫn
còn trẻ. Mỵ muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cùng đi chơi ngày tết. Huống chi A Sử
và Mỵ không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau".
Cùng với hơi rượu, tiếng sáo đưa Mỵ đi theo cuộc chơi. Tiếng sáo cứ trở đi, trở lại.
Thoạt đầu là tiếng sáo còn vọng mãi từ xa ngoài đầu núi chỉ đủ cho Mỵ nghe và nhớ lại lời bài
hát của người đang thổi sáo mà nhẩm hát theo. Sau đó, "tiếng sáo gọi bạn đầu làng". Rồi tiếng
sáo đã không chỉ gọi bạn mà là "gọi bạn yêu" bay lơ lửng ngoài đường để rồi nó bay rập rờn
trong đầu Mỵ và trở thành tiếng lòng thổn thức. Thế nhưng thoát khỏi tình trang hiện tại là
điều không hề đơn giản. Tác giả đã đặt nhân vật trong sự tương tranh giữa một bên là sức sống
tiềm tàng, và một bên là ý thức về thân phận. Vì thế, dù trong lòng phơi phới, Mỵ vẫn theo
quán tính đi vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng.
Lòng Mỵ đầy mâu thuẫn. Đỉnh điểm của bi kich lúc này chính là "nếu có nắm lá ngón trong
tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay". Những lúc thèm sống như một con người, Mỵ chỉ muốn
chết. Mâu thuẫn ấy thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Tô Hoài và làm cho hình tượng nhân vật
trở nên chân thật.
Cũng chính tiếng sáo đã kéo Mỵ ra khỏi tình trạng bi kịch đó. Mỵ thèm đi chơi hội. Mỵ xén
miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng. Mỵ vấn lại tóc, tìm "cái váy hoa vắt ở phía trong vách"
chuẩn bị đi chơi. Hành động của Mỵ y như người mộng du, bởi Mỵ làm mà không hề hay biết
A Sử bước vào, không nghe A Sử hỏi. Và Mỵ đã phải trả giá cho hành động của mình. Mỵ bị
A Sử trói đứng vào cột nhà.
Có thể nói rằng Tô Hoài đã góp thêm một điển hình về nhân vật phản diện. Không chỉ
dã man, tàn ác của kẻ chủ nô, cái cung cách làm việc ác đến mức thản nhiên, lạnh lùng của cha
con tên chúa đất này đã làm ta ghê sợ. Hắn làm việc ác cũng như việc thiện. Điều đó chứng tỏ
cái ác đã ngấm vào trong máu. Ở trên ta đã chứng kiến cảnh Pá Tra vừa hút thuốc phiện, vừa

ăn uống, vừa tiêu khiển bằng việc tra tấn người. Còn ở đây ta chứng kiến cảnh A Sử trói vợ
một cách thản nhiên, lạnh lùng, cẩn thận như người ta trói một con gà, một bó củi vậy thôi.
Trói xong vợ, hắn thắt nốt chiếc thắt lưng xanh, tắt đèn, khép cửa đi chơi hội. Một chuỗi việc
làm của A Sử không một chút xúc cảm nào. Tất cả diễn ra như nhau. Chân tướng của cái ác đã
hiện nguyên hình và gây ấn tượng cực kỳ sâu sắc trong lòng người đọc ở hình tượng cha con
Pá Tra. Đây là thành công của Tô Hoài khi xây dựng hình tượng nhân vật phản diện.
Không gian lao động khổ sai của Mỵ là vùi đầu vào hàng núi công việc có tên
và không tên thì không gian lao động của A Phủ là chăn bò, chăn ngựa, cuốc rẫy, cuốc nương.
Trong không gian ấy, ta tự hỏi tại sao A Phủ không bỏ trốn. Điều đó có thể trả lời rằng uy
quyền của Pá Tra đã bao trùm khắp gầm trời này, trốn làm sao cho thoát được. Chúng không
chỉ dùng cường quyền mà còn dùng cả thần quyền để nô dịch con người. Bao lần Mỵ đã nghĩ
rằng mình đã bị bắt về trình ma nhà A Sử, nghĩa là con ma nhà nó đã nhận mặt mình thì chỉ
còn một cách là rũ xương ở đây thôi. Ngay khi bắt được Mỵ, A Sử cũng đã đến báo với bố Mỵ
là: "Tôi đã đem con gái bố về cúng trình ma nhà tôi, bây giờ tôi đến trình bố biêt. Bạc để xin
cưới thì bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi". A Phủ cũng đã là đứa ở gạt nợ nhà Pá Tra, vì thế, dù
không gian lao động có "thoáng" hơn, anh cũng không nghĩ đến việc bỏ trốn. Không nhà tù,
không cai ngục mà vẫn giam giữ được con người thì ách nô dịch nặng nề biết chừng nào!
Dù là một nô lệ nhưng cái bản tính phóng khoáng hồn nhiên ở A Phủ vẫn chưa mất
hẳn. Và chính nó đã làm hại A Phủ. Trong một lần do mải mê bẫy dím, A Phủ đã để hổ ăn thịt
mất một con bò. Vì thế, Pá Tra trói đứng anh vào chân cột. Cái lạ ở đây là chính A Phủ phải tự
mình vác cọc, tự mình đi lấy dây mây, tự mình đóng cọc xuống bên chân cột, tức là A Phủ đã
tự tạo mọi điều kiện cho sự hành hạ bản thân mình. Anh làm cái công việc để có thể đẩy mình
7
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
tới chỗ chết mà không có chút phản ứng nào. Điều đó có chân thực không đối với một con
người gan góc, can trường như A Phủ? Tô Hoài đã chỉ ra rằng có hai A Phủ trong một con
người: một A Phủ can trường, gan góc và một A Phủ cam chịu thân phận tôi đòi. Hai mặt đó
vừa đối lập, vừa thống nhất trong một con người. Đó chính là nguồn gốc làm nên sự vận động
nội tại của hình tượng.

Đến đây, cơ hội để Mỵ và A Phủ xích lại gần nha đã có. Hai người có cùng cảnh ngộ,
một là con dâu gạt nợ, một là đứa ở trừ nợ. Cả hai từng bị trói: Mỵ bị trói trong buồng một
đêm, còn A Phủ bị trói ngoài trời nhiều đêm cho đến chết, nếu như
Trong những ngày A Phủ bị trói, Mỵ vẫn rơi vào một trạng thái gần như vô cảm. Niềm
an ủi duy nhất của cô lúc này chỉ còn là ngọn lửa. Có hôm khi đang ngồi sửi lửa, Mỵ bị A Sử
đánh ngã bên cửa bếp. Nhưng hôm sau, Mỵ vẫn lặng lẽ như cái bóng ra ngồi hơ tay, sửi lửa.
Hình ảnh người đàn bà héo hắt ngồi bên bếp lửa đêm đêm vào mùa đông trên núi cao gây ấn
tượng thật não nùng. Nhìn thấy A Phủ bị trói như thế, Mỵ vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay. "Nếu
là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi". Nỗi khổ của kẻ khác không làm động lòng Mỵ. Phải
chăng, lòng thương người ở Mỵ đã tắt hẳn? Nhưng rồi một đêm kia, qua ánh lửa bếp nhìn
sang, Mỵ thấy "một dòng nước mắt bò xuống hõm má đã xám đen lại" của A Phủ. Giọt nước
mắt ấy là biểu hiện của sự bất lực, tuyệt vọng ở chàng trai gan góc dũng cảm. Nó có khả năng
đánh thức lòng trắc ẩn ở con người. Tình thương đã cất lên trong Mỵ một lời độc thoại: " cơ
chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết". Dòng nước mắt
kia chính là giọt nước cuối cùng làm tràn cốc nước. Nó đánh thức trong Mỵ trí nhớ. "Mỵ chợt
nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mỵ, Mỵ cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước
mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được". Dòng nước mắt của A Phủ đã giúp
Mỵ nhớ ra mình, thương mình. Từ lúc biết thương mình, Mỵ nghĩ đến người cùng cảnh ngộ.
Tình thương ấy lớn mãi lên trong ý nghĩ: "ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma nhà nó rồi
thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì phải chết thế, A Phủ". Đó là
lời chất vấn trước thực tại bất công. Hai tiếng A Phủ lần đầu tiên rung động trong lòng Mỵ.
Tình thương đã biến Mỵ từ một người đàn bà nô lệ thành một người liều lĩnh. Ý nghĩ cứu A
Phủ đến với Mỵ chính vào lúc đó và đã dẫn đến hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ. Khi đã
cắt xong dây trói, cơn hốt hoảng tan biến từ nãy đột nhiên ập trở lại trong Mỵ. Khi đã giải
quyết xong việc thương người thì bây giờ đến lượt thương mình. Mỵ nói nhanh: "A Phủ cho
tôi đi". Chính nỗi sợ chết là tiếng nói của lòng ham sống. Hai người nô lệ vừa thoát khỏi xiềng
xích dìu nhau lao vào bóng đêm của núi rừng. Núi rừng sẽ bao bọc họ, giúp họ xuyên qua
bóng tối mà tìm đến chân trời ánh sáng.
3. Mỵ và A Phủ đã đi từ không gian nô lệ đến không gian tự do.
Tất nhiên là con đường ấy còn dài. Nhà văn chỉ dừng lại ở không gian đấu tranh cách

mạng của những con người bị áp bức.
A Phủ và Mỵ vượt núi, băng rừng đến vùng tự do của khu du kích các dân tộc Thái,
Dao, Mèo tận Phiềng Sa sau hơn một tháng. Trong không gian mới, họ đã là vợ chồng. Có thể
nói rằng đến tận bây giờ Mỵ và A Phủ mới có cuộc sống của con người. Họ xây dựng nhà cửa,
lao động sản xuất, dự tính chuyện lâu dài. Thế nhưng, nỗi sợ cố hữu cứ dội lên từng lúc khi
Mỵ nghĩ về cuộc đời cũ dưới ách Pá Tra. Những tưởng rằng, họ sẽ được sống bình yên, nhưng
rồi bọn Tây ở đồn Bản Pe lên cướp lợn, bắt A Phủ. Lại nghe nói, Pá Tra đã về Bản Pe cùng
bọn Tây, nỗi sợ lại xâm chiếm lòng Mỵ. A Châu đã đến như một nhân vật phù trợ trong truyện
cổ tích thần kỳ. Người cán bộ cách mạng ấy đã kết nghĩa anh em cùng A Phủ, dạy anh cách
làm nhà ngoài rừng để cất giấu tài sản, đưa anh vào đội du kích. Xây dựng hình tượng A Châu,
Tô Hoài muốn chứng minh rằng con đường đến với cách mạng là con đường tất yếu để tự giải
phóng của người lao động.
Mùa xuân năm ấy vẫn có tết, nhưng bọn Tây lại lên càn phá, cướp bóc, bắt và giết
người. Mỵ cũng bị bắt nhưng may mà trốn được. Nhìn thấy cái chết của vợ con A Chế, Mỵ lại
8
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
muốn trốn nữa. Nếu trước kia là nỗi sợ phong kiến và thần quyền thì bây giờ nỗi sợ ấy tăng
lên trong lòng Mỵ vì có thằng Tây nữa. Nhưng A Phủ đã thuyết phục Mỵ: "Mê à? Đây là khu
du kích Phiềng Sa. Tiểu đội trưởng A Phủ đây mà". Mỵ đã tỉnh ra, hết sợ, cùng chồng chuẩn bị
đi cứu bà con bị bon Tây vừa bắt.
Tóm lại, không gian ở Phiềng Sa là không gian đấu tranh cách mạng. Ở đó, những
giá trị của con người đã bị tước đoạt đang được khôi phục lại. Con người và con người sống
với nhau trong tình nghĩa anh em, làng xóm, đồng chí. Đọc xong tác phẩm, gấp sách lại mà
vẫn thấy hiện lên một vùng Tây Bắc xa xôi mà gần gũi, thân thuộc.
Vợ chồng A Phủ đã miêu tả một cách cô đọng nhưng sinh động quá trình trưởng thành,
con đường đi đến với cách mạng của nhân dân các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Nó đã
góp phần làm tăng tình đoàn kết dân tộc giữa miền xuôi và miền ngược. Con đường mà vợ
chồng A Phủ đã đi từ cuộc đời nô lệ đến cuộc đời tự giải phóng và đến với cách mạng cũng là
con đường tất yếu mà dân tộc ta đã đi trong mấy mươi năm qua.

Sức chinh phục của tác phẩm là ở chỗ nhà văn đã đứng về phía khát vọng sống, khát
vọng làm người, khát vọng được yêu để tố cáo cái xã hội đã giam hãm, chà đạp, trói buộc tuổi
trẻ và sức lực của con người. Nhà văn muốn truyền đến người đọc niềm tin rằng sức sống của
con người là bất diệt, rằng con người luôn thiết tha vươn lên để được sống làm người.
Sức chinh phục của tác phẩm còn là ở cái nhìn biện chứng vào thế giới nội tâm nhân vật
mà ở đó tâm lý con người luôn luôn chuyển hóa, phát triển từ các cực tưởng như là đối lập
nhưng lại thống nhất trong từng hình tượng.
Tác phẩm cũng đem đến cho người đọc hình ảnh Tây Bắc thơ mộng, trữ tình với
những bức tranh phong tục, lễ hội xa lạ mà gần gũi như tục cướp vợ, lễ hội tìm bạn tình vào
dịp đầu xuân…
Và cuối cùng, tác giả đã đẩy những mâu thuẫn của cuộc sống đến đỉnh cao của nó.
Từ đỉnh cao đó, cuộc sống muôn hình, muôn vẻ mới hiện ra rõ nét và thuyết phục.
TIẾNG SÁO VÀ BẾP LỬA TRONG SỰ HỒI SINH CỦA NHÂN VẬT MỊ
1. Tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân và quá trình hồi sinh của nhân vật Mị.
Bị bắt làm dâu gạt nợ, cuộc sống của Mị trong nhà thống lí Pá Tra không khác
gì địa ngục. Mị từng nghĩ đến cái chết nhưng vì thương cha, cũng vì nghĩ “nó đã bắt ta
về trình ma nàh nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…” nên cứ âm
thầm mà sống trong sự chịu đựng. Nhưng trong đêm tình mùa xuân, cùng với không
khí nhộn nhịp ngày tết, men rượu nồng nàn, tiếng sáo góp phần đáng kể trong việc
khơi gợi sức sống và khát vọng mãnh liệt của nhân vật. Quá trình tâm lí nhân vật
chuyển biến phức tạp được miêu tả theo những sắc điệu muôn màu của tiếng sáo gọi
bạn tình. Tác giả đã để tiếng sáo ấy xuất hiện nhiều lần nhằm chiếu ứng với sự chuyển
biến ấy.
Đầu tiên, tiếng sáo xuất hiện trong cảnh mùa xuân rực rỡ của bản làng: những
chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá như những con bướm sặc sỡ, đám trẻ con chơi quay,
cười đùa trước sân nhà. Mị nghe tiếng sáo gọi bạn chơi của ai đó từ đầu núi vọng lại.
Cô cảm nhận được âm điệu “thiết tha, bổi hổi” trong tiếng sáo. Cô nhẩm theo lời bài
hát người ta đang thổi. Lần đầu tiên, sau bao năm trời “lùi lũi” như cái xác không hồn,
Mị đã xúc cảm được với xung quanh. Cho nên, nếu mùa xuân là giá đỡ, điện nguồn
cho cây đại dương cầm thì tiếng sáo là những ngón tay thon thả, dịu dàng đệm lên

những nốt nhạc lòng đã tắt lịm từ lâu trong Mị. Và phím đàn ấy đang so dây, sắp tấu
lên bản giao hưởng trữ tình của giai điệu tình yêu – hạnh phúc.
9
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
Lần thứ hai, tiếng sáo gọi bạn đã ở đầu làng, vẳng lại bên tai Mị. Lúc này, sau
khi “uống ừng ực” từng bát rượu, bao nỗi căm hờn tủi nhục đã nuốt trôi, Mị đang
“sống về ngày trước”. Mị đang cố tìm lại tất cả hình bóng ngày xưa. Hồi ấy Mị biết
thổi sáo và thổi rất hay. Hồi ấy Mị cũng uống rượu ngày xuân. Hồi ấy có biết bao
người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Mị không say rượu. Mị chỉ say trong kỉ niệm
quá khứ! Cho nên rượu chỉ là nước còn tiếng sáo mới là men nồng.
Cuộc rượu đã tan, “người về, người đi chơi đã vãn cả”. Nhưng Mị vẫn ngồi trơ
một mình giữa nhà nhấm nháp dư âm ngày xưa vọng lại. Mị cũng trông ra cửa sổ lỗ
vuông mờ mờ trăng trắng của phòng giam đời mình như mọi ngày nhưng không phải
để nghĩ đến cái chết. Lòng Mị đã “phơi phới” và giờ đây đang rộn rã một niềm vui
sướng, đang cháy bỏng khát khao yêu đương tuổi trẻ. Nàng không thèm nghĩ đến hiện
tại của mình. Tiếng sáo lại xuất hiện lần thứ ba trong trạng thái xúc cảm như vậy. Đó là
“tiếng sáo gọi bạn yêu”, nó “lơ lửng ngoài đường”. Tiếng sáo ấy như hòa điệu với tâm
hồn phơi phới của Mị. Tiếng sáo ấy như muốn nâng chở khát khao bay bổng của Mị
đến với những cuộc chơi.
Rồi Mị muốn đi chơi. Mị chuẩn bị đi chơi. Mị quấn lại tóc, lấy váy hoa, rút
thêm áo ra mặc. Vì lúc này đầu Mị đang “rập rờn tiếng sáo”. Vậy là tiếng sáo lần thứ tư
đã trở nên giòn giã, thúc giục và choáng cả tâm trí Mị. Cho nên A Sử về tự lúc nào mà
nàng vẫn không hay biết. Mị đã bị trói theo kiểu trung cổ vì dám “quên thân phận”.
Nhưng tâm hồn con người ta một khi đã cất cánh thì dễ gì trói lại được. Bởi thế,
hơi men vẫn còn nồng nàn, Mị vẫn còn nghe tiếng sáo. Và lần thứ năm, tiếng sáo xuất
hiện để đưa tâm hồn cô “đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”. Nó kéo cả bước
chân Mị đi theo, dầu đang bị trói chặt!
Dĩ nhiên Mị không thể bước đi được, sợi dây hiện thực đã kéo chân cô, kéo cả
hồn cô xa dần tiếng sáo! Sợi chỉ hồng, ngón tay đệm, men say … nối Mị với quá khứ,

tình yêu và khát vọng tuổi trẻ giờ đã tiêu tan! “Mị không nghe tiếng sáo nữa”. Mị chỉ
nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Cô thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Cô
nín khóc, cô lại bồi hồi! Nhưng có lẽ sự thổn thức, bồi hồi giờ đây không như lúc đầu
nữa. Suy nghĩ “mình không bằng con ngựa” lúc này cũng vậy. Khi trước Mị nghĩ thế
để mà chấp nhận số phận an bài: “…con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở
cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi
nữa…”. Còn bây giờ ý thức đã sống dậy. Mị thổn thức, bồi hồi là nuối tiếc quá khứ
vàng son không bao giờ gặp lại nữa. Đó là trạng thái tâm lí khi đang mơ bị người khác
đánh thức. Mị nhận ra thân phận trâu ngựa của mình, tức là đã ý thức được bi kịch.
Quy luật tâm lí con người vốn thế. Người ta có thể dễ dàng trượt dài xuống bờ vực
thẳm của sự tha hóa, và chấp nhận. Muốn quay lại đương nhiên rất khó. Nhưng một khi
người ta đã ý thức muốn trở về, nhất là khi đã có dấu hiệu của sự trở về thì dẫu bắt chết
cũng khó lòng khiến người ta khuất phục. Mị đã sống lại ý thức và cảm giác, tạm thời
nàng chưa đủ khả năng giải phóng nên vẫn đắng cay chấp nhận thực tại nhưng bắt Mị
mãi mãi cam tâm là trâu ngựa như trước e không thể được nữa.
Tô Hoài đã rất tinh tế khi để Mị khắp người bị dây trói thít chặt lại, đau nhức. Lúc lại
nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sáo, tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê lúc
tỉnh cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ…
Nhưng những gì xảy ra đêm qua quyết không phải là giấc mơ. Có điều nó chưa
đủ sức vượt qua sức mạnh phũ phàng của thực tại. Cho nên dù ưu ái nhân vật đến đâu,
10
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
với ngòi bút hiện thực, Tô Hoài cũng đành gạt nước mắt để Mị tiếp tục khổ sở một thời
gian nữa trong nhà thống lí.
Sáng hôm sau, mọi việc trở lại bình thường. Cái bình thường ở đây giống như
sự phẳng lặng của biển cả trước hoặc sau cơn giông tố. Nhưng nó không tuần hoàn và
dễ tiên đoán như quy luật tự nhiên bởi đây là thế giới nội tâm của con người. Sóng lòng
khác sóng biển ở sự bất chợt. Ta có thể gọi đợt sóng vừa rồi trong lòng Mị là “cuộc
tổng diễn tập lần thứ nhất” như cách nói của các sử gia.

Như vậy, tiếng sáo có can hệ rất lớn đối với diễn biến tâm lí nhân vật Mị. Nhà
văn Tô Hoài đã tỏ ra rất tinh tế trong việc miêu tả các cung bậc của nó: lúc gần, lúc xa;
lúc vọng, lúc vẳng; lúc bổi hổi thiết tha, lúc lơ lửng, lúc lại rập rờn; lúc khơi gợi, mời
mọc, quyến rũ, mơn trớn, có lúc trở thành tác nhân đưa đẩy… Thật linh diệu vô cùng!
2. Hình tượng ánh lửa trong đêm mùa đông và diễn biến tâm lí dẫn đến hành động
cắt dây trói cho A Phủ của nhân vật Mị.
Lửa thông thường dùng để sưởi ấm con người những khi giá lạnh. Vì thế nó
cũng có tác dụng tương tự đối với tâm hồn mỗi khi có cảm giác trống vắng, cô đơn.
Lửa càng rực sáng lòng người càng ấm, càng vui hơn. Nhưng ở đoạn miêu tả diễn biến
tâm lí, hành động nhân vật Mị trong đêm cắt dây trói cho A Phủ không như vậy.
“Thường đến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị
em trong nhà mới bắt đầu dậy ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn”… “Mị vẫn trở dậy,
vẫn sưởi, chỉ biết còn ở với ngọn lửa”. Tô Hoài kể ra điều này có nhiều dụng ý. Thứ
nhất, tác giả cố ý sắp đặt để Mị có dịp gặp A Phủ, người cùng cảnh ngộ, giúp khơi gợi
lòng trắc ẩn trong cô vốn đã bị vùi lấp trong tro tàn của nghịch cảnh phũ phàng. Thứ
hai, Mị hay dậy sớm một mình, có nghĩa nàng có đời sống nội tâm đặc biệt (có nhiều
tâm sự, suy tư khiến người ta khó ngủ). Thứ ba, Mị cô đơn, không có ai bầu bạn, chia
sẻ tâm sự, ngọn lửa trở thành chỗ dựa tinh thần duy nhất để cô có thể sống trong những
tháng ngày vật vờ ở nhà thống lí Pá Tra Cho nên khi lửa còn sáng thì chỗ dựa tinh
thần (dù chỉ là ảo tưởng) còn vững, Mị có cớ để tiếp tục chấp nhận sự an bài của số
phận. Nhưng khi ánh lửa mờ dần và tối hẳn, cũng có nghĩa Mị đang hướng tới vùng
sáng khác trong tâm hồn và trong tương lai cuộc đời mình. Nhà văn Tô Hoài đã tỏ ra
khá tinh tế khi phát hiện ra điều ấy. Trong tình huống trên, nhà văn đã miêu tả qua
trình mờ dần của ánh lửa ở bốn cấp độ:
Lần thứ nhất, khi bắt gặp cái nhìn “trừng trừng” của A Phủ, biết anh ta còn
sống, mà dù anh ta có chết đi rồi thì Mị vẫn thế, “vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay”. Lúc
ấy “ngọn lửa sưởi bùng lên”, nhưng tâm hồn Mị thì vẫn nguội lạnh, vô cảm.
Lần thứ hai, thấy A Phủ “nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má…”, Mị chợt
nghĩ và thương cho mình, rồi Mị lại nghĩ và lo cho người ta, “cơ chừng này chỉ đêm
mài là người kia (A Phủ) chết, chết đói, chết rét, phải chết.” Mị cũng ý thức rõ tội ác

của bọn chúa đất, kẻ đã gây ra bi kịch cho cuộc đời mình và bao người cùng cảnh ngộ.
Mị cũng mơ hồ nghĩ rằng “người kia” việc gì mà phải chết thế. Lúc này: “ngọn lửa bập
bùng sáng lên”, ngọn lửa của lòng trắc ẩn và ý thức về cuộc sống trong Mị cũng được
nhen nhóm.
Lần thứ ba, nhớ lại đời mình, Mị lo sợ “một lúc nào đó, biết đâu A Phủ chẳng đã
trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cới trói cho nó, Mị liền phải trói
thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy”. “Cùng tắc biến”, con người ta khi đã tự đặt
11
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
mình vào tình thế xấu nhất là cái chết thì còn gì đáng sợ nữa. Trong cảnh ấy, Mị “cũng
không thấy sợ nữa” là vì vậy. Nhưng điểm sáng trong tâm hồn Mị là nàng không chỉ
nghĩ cho mình. Cứu A Phủ hay để A Phủ tự trốn, đằng nào Mị cũng bị chết thay nên
Mị không cần phải tính toán nhiều, cứ hành động theo sự mách bảo của lương tri. Lần
này “đám than đã vạc hẳn lửa”, Mị không cần sưởi ấm cho mình mà đang nghĩ cách
giải cứu người khác.
Nhưng dù gì Mị cũng là cô gái yếu đuối, bị đày đọa triền miên nên lúc nào cùng
lơ sợ. Vì vậy, khi “trong nhà đã tối bưng” (lần thứ bốn), Mị “rón rén bước lại …, rút
con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây” giải cứu cho A Phủ. Hành động xong, Mị “cũng
hốt hoảng”, chỉ thì thào được một tiếng “đi ngay”, rồi “nghẹn lại”. Cô cũng không biết
phải làm gì tiếp theo nên chỉ “đứng lặng trong bóng tối”. Như vậy hành động của Mị
vừa có tính tự giác (xuất phát từ động cơ muốn cứu người), vừa có tính tự phác (không
có kế hoạch, tính toán cụ thể), nói cách khác là vì lòng thương người mà cũng là vì
“liều”. Việc Mị và A Phủ chạy khỏi chốn tăm tối trong đêm tối lạnh buốt còn có ý
nghĩa sâu xa: họ đã được giải phóng, họ sắp tìm đến ánh sáng cuộc đời mới.
Tóm lại, nếu ánh lửa đã từng là cứu cánh cho cuộc đời tối tăm của Mị trong nhà
thống lí Pá Tra thì bóng tối trở thành “đồng lõa” cho hành động cứu người, cứu mình
rất có ý nghĩa của nhân vật. Từ đây, hình tượng ánh lửa trong văn học có thêm nhiều ý
nghĩa sâu sắc mới. Điều đó khẳng định sự già dặn của một cây bút hiện thực, sự nhạy
cảm, tinh tế của một nhà văn từng gắn bó nghĩa tình với miền Tây Bắc.

Mị trong ‘Vợ chồng A Phủ” điển hình cho người phụ nữ Việt Nam nhưng cũng
có những nét riêng của con người miền núi. Có thể hình ảnh con người trong cuộc đời
thật ở miền núi trong chế độ cũ không còn mấy người tường tận. Nhưng ngày nay,
những cô gái cao nguyên trong lao động, sinh hoạt thật chẳng khác Mị của Tô Hoài. Có
cái gì đó giống như lầm lầm lũi lũi, cặm cụi, chịu đựng mà cũng rất sôi nổi, mạnh mẽ,
bốc men. Phải chăng cái “chất” của con người miền núi là vậy!
Chủ đề: Qua việc miêu tả cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, nhà văn đã làm sống lại quãng
đời tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã man của bọn chúa đất
phong kiến, đồng thời khẳng định sức sống tiềm tàng, mãnh liệt không gì hủy diệt được của
những kiếp nô lệ, khẳng định chỉ có sự vùng dậy của chính họ, được ánh sáng cách mạng soi
đường sẽ dẫn tới cuộc đời tươi sáng.
Một số nét đặc sắc nghệ thuật :
1. Biệt tài miêu tả tự nhiên và phong tục
Tô Hoài tạo dựng được một không gian nghệ thuật mang đậm màu sắc dân tộc độc đáo
ở vùng cao Tây Bắc.
- Đó là bức tranh thiên hùng vĩ và thơ mộng của mùa xuân Tây Bắc: mùi vị của hương
rừng gió núi, cái tê lạnh của không khí vùng cao, cái hôi hổi nồng nàn của lòng người,
cái rực rỡ sáng tươi của màu sắc. Những trái bí đỏ, những cái váy hoa phơi trên mỏm
đá xoè như những con bướm sặc sỡ, cỏ gianh vàng ủng, gió rét dữ dội, những bếp lửa
rực cháy hơi men. Đặc biệt thanh âm réo rắt của tiếng sáo trên núi rừng, khơi gợi
những khát khao.
- Đó là những bức tranh sinh hoạt và phong tục độc đáo mang màu sắc xứ lạ phương
xa: cảnh vui chơi trong ngày tết, cảnh thổi sáo gọi bạn tình, cảnh xử kiện, tục cướp vợ
được miêu tả chân thực, sinh động, giàu chất thơ.
12
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
2. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật
- Tô Hoài đi sâu vào miêu tả thế giới nội tâm nhân vật thông qua đối thoại và độc thoại.
Đối thoại thường rất ít và nhỏ nhẹ. Diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị chủ yếu được

khắc họa qua độc thoại nội tâm. Tô Hoài hay sử dụng ngôn ngữ nửa trực tiếp khiến
ngoài thế giới và những nhân vật hòa làm một tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm.
3. Ngôn ngữ trong sáng, biểu cảm, giàu chất tạo hình. Xen vào giữa những đoạn
văn xuôi là những câu hát trữ tình, đằm thắm, cháy bỏng khát vọng hạnh phúc và tự do.
Với những thành công về nghệ thuật trên truyện ngắn Vợ chồng A Phủ xứng đáng là
một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam, được tặng giải Nhất –
giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 -1955.
13

×