Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

4 đề thi thử môn ngữ văn trường quỳnh lưu 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.97 KB, 24 trang )

SỞ GD & ĐT NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4
ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA LẦN I
Năm học 2014-2015
Môn: Ngữ Văn
(Thời gian làm bài 180 phút không kể thời gian
giao đề)
Phần I. ĐỌC HIỂU (2.0 điểm)
- Tnú không cứu được vợ được con. Tối đó Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng
lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho
nó. Nhớ không Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì chúng nó bắt
mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó
đứng đằng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra
cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi
tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác.
Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải
nói cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…
Câu 1: Đoạn văn trên là lời ai? Nói với ai? Trong hoàn cảnh nào?
Câu 2: Người kể chuyện nhắc đi nhắc lại những chi tiết: Tnú không cứu được vợ được
con, chỉ có hai bàn tay trắng nhằm mục đích gì?
Câu 3: Từ câu chuyện cuộc đời Tnú và đoạn đời đau thương của làng Xô Man, người kể
chuyện rút ra chân lí lịch sử nào? Viết một đoạn văn (từ 5-7 câu) nêu suy nghĩ của anh/ chị
về chân lí đó.
Phần II. Làm văn (8 điểm)
Câu 4: (3 điểm) Viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến sau:
Nghịch cảnh không chỉ là một phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ
và bản lĩnh.
Câu 5: (5 điểm)
Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm


Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
(Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ Văn 12, tập 1, NXBGDVN, 2012, Tr.89)
Từ đó, anh/chị suy nghĩ gì về lý tưởng sống của thanh niên hiện nay?
ĐỀ CHÍNH THỨC
………….………….Hết……………………
SỞ GD VÀ ĐT NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THỬ QUỐC GIA LẦN I, NĂM 2015
Môn: NGỮ VĂN
Câu Ý Nội dung Điểm
1 2
1 Đoạn văn trên là lời của cụ Mết nói với dân làng Xô Man trong hoàn
cảnh: Tnú sau ba năm đi lực lượng được cấp trên cho về thăm làng một
đêm. Đêm đó, tại nàh cụ Mết, cụ đã kể lại câu chuyện cuộc đời Tnú và
đoạn đời đau thương của làng Xô Man cho cả làng nghe.
0.5
2 Người kể chuyện nhắc đi nhắc lại những chi tiết: Tnú không cứu được
vợ được con, chỉ có hai bàn tay trắng nhằm mục đích: khắc sâu bị kịch,
nỗi đau của T nú và cũng như của làng Xô Man, nhấn mạnh việc muốn
đấu tranh, bảo vệ những người yêu thương thì phải có vũ khí.
0,5
3 chân lí lịch sử:Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!
một đoạn văn cần nêu được: đây là một chân lí lịch sử được rút ra từ máu
xương của những người thân yêu nhất. Đây cũng là quy luật tất yếu, một
bài học đúng với cách mạng Việt Nam không chỉ ở thời chống Mĩ

0.5
0.5
4. Câu 4: Nghịch cảnh không chỉ là một phép thử của tình cảm mà còn là
thước đo của trí tuệ và bản lĩnh.
I. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết kết hợp các thao tác nghị luận để làm bài văn nghị luận xã hội.
- Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt sáng rõ, lưu loát.
II. Yêu cầu về nội dung:
1 Giới thiệu và giải thích vấn đề:
- Nghịch cảnh là hoàn cảnh trớ trêu, nghịch lí, éo le mà con người không
mong muốn trong cuộc sống. Ví dụ: ốm đau, tai nan, chiến tranh, xung
đột,…
- Nghịch cảnh không chỉ là một phép thử của tình cảm mà còn là thước
đo của trí tuệ và bản lĩnh: nghĩa là qua nghịch cảnh, con người không
chỉ hiểu thêm về tâm hồn, tình cảm của mình và của người mà quan trọng
hơn, thấy được trí tuệ và bản lĩnh trong cuộc sống. .
=> Khẳng định ý nghĩa của nghịch cảnh trong quá trình nhận thức và tự
nhận thức cảu con người.
0,5
2
Phân tích, bình luận ý kiến:
- Nghịch cảnh là một phần tất yếu của cuộc sống.
1,5
0,5
- Qua nghịch cảnh, ta hiểu thêm về trái tim mình và trái tim người, thất
được tình cảm của tập thể và cả dân tộc.
- Đối diện và vượt qua nghịch cảnh, mỗi người và cả dân tộc sẽ chứng tỏ
được tầm vóc của trí tuệ và bản lĩnh của mình.
- Phê phán quan niệm và hành động sai lầm: chạy trốn hay đầu hàng
nghịch cảnh, thiếu tỉnh táo, sáng suốt khi gặp hoàn cảnh éo le, ngang trái,

dễ thất bại trong công việc, thậm chí bị kẻ thù lợi dụng.
0,5
0,5
3 Bài học nhận thức và hành động:
- tự làm giàu cho tâm hồn và trí tuệ để có đủ sức mạnh vượt qua nghịch
cảnh.
- sống yêu thương, đoàn kết, tỉnh táo để cùng nhau chiến thắng nghịch
cảnh với cả cộng đồng.
1
0,5
0,5
5 1. Về kỹ năng:
- Biết vận dụng hợp lý các thao tác lập luận phân tích, so sánh, bình luận
để viết bài nghị luận văn học về một đoạn thơ
- Bài viết có bố cục rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, ngôn ngữ trong
sáng có cảm xúc.
2. Về kiến thức:
- Bài viết cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
a. Giới thiệu về tác giả, tác phâm, đoạn trích.
b. Cảm nhận về đoạn thơ:
* Nội dung:
- Đây là đoạn thơ thứ 3 trong bài thơ Tây Tiến, khắc họa chân thật, sâu
sắc về hình tượng người lính Tây Tiến bằng bút pháp hiện thực và lãng
mạn.
- Chân dung người lính được khắc họa qua những nét vẽ về ngoại hình
(toát lên vẻ oai phong, dữ dằn) và vẻ đẹp tâm hồn (lãng mạn, mơ mộng,
khát khao yêu)qua cái nhìn lãng mạn của QD
- Những người lính với ý chí, khát vọng cống hiến ,… đã lên đường và
họ đã phải đối diện với những khó khăn, hi sinh mất mát nhưng vẫn
luôn kiên cường, bền gan vững chí

- Hình ảnh về sự hi sinh lặp lại ở khổ 1, nhưng được nâng lên tầm khái
quát mang tầm vóc sử thi, thần thoại
- Nghệ thuật:
Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, hình ảnh mới lạ, sử dụng từ Hán
Việt,…
c. Đánh giá:
0,5
1.5
1.5
0.5
- Đoạn thơ làm toát lên vẻ đẹp hào hùng và hào hoa , đậm chất bi tráng
của người lính Tây Tiến
- Đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung đã tạo nên một cái nhìn trọn
vẹn về hình tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp.
- Bài thơ thể hiện rõ phong cách thơ Quang Dũng và khẳng định sự đóng
góp của nhà thơ trong phong trào thơ ca cách mạng.
d. Liên hệ: Lý tưởng sống của thanh niên hiện nay:
- Có nhiều điểm khác so với thế hệ cha anh.
- Hiện nay, nhiệm vụ chính của thanh niên là học tập, lao động để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Tuy nhiên, bên cạnh đó nhiều thanh niên phai nhạt lý tưởng, sống
không xác định được mục tiêu, phương hướng, không có trách nhiệm với
bản thân, gia đình và xã hội,…
1.0
SỞ GD & ĐT NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4
ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA LẦN II
Năm học 2014-2015
Môn: Ngữ Văn
Thời gian làm bài 180 phút

Phần I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
(1) Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) vừa đưa ra dự báo, Việt Nam sẽ
mất hơn 40 năm nữa để vượt qua mốc thu nhập trung bình. 40 năm nữa nghĩa là chúng ta,
những người đang đọc bài viết này đều đã già, rất già. Thậm chí, có những người có thể
đã ở thế giới bên kia. Nhưng điều nguy hiểm là không chỉ từng cá nhân, mà ngay cả đất
nước này khi ấy cũng đã già nua.
… (2) Cũng giống như một đời người, thời điểm dân số già là lúc quốc gia sẽ phải
tiêu tốn tiền bạc đã tích lũy được trong suốt “thời trẻ khỏe” để phục vụ cho giai đoạn
không còn hoặc suy giảm khả năng sản xuất. Chẳng hạn, năm 2009 cứ hơn bảy người đi
làm mới phải “nuôi” một người già. Nhưng đến năm 2049, cứ hai người làm việc đã phải
gánh một người già (chưa kể còn trẻ em). Khi ấy, nếu chúng ta chưa tạo dựng được một
nền kinh tế đủ mạnh, cùng nền tảng khoa học kỹ thuật phát triển thì gánh nặng an sinh xã
hội cũng như nguy cơ tụt hậu là rất lớn.
(3) Hành động vì tương lai ngay từ lúc này, theo tôi, là điều cần thiết với cả xã hội.
Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách. Nợ
công được khẳng định vẫn trong giới hạn an toàn. Nhưng cần tính toán trước rằng, 10-20
ĐỀ CHÍNH THỨC
năm nữa, khoản nợ ấy sẽ dồn lên vai một cộng đồng dân số đã già, chưa chắc nuôi nổi bản
thân, huống hồ là trả nợ. Từng giọt dầu, từng mẩu tài nguyên… cũng cần được tiết kiệm.
Bởi đó chính là “của để dành” khi đất nước về già, năng suất lao động đã sụt giảm.
(4) Trong bối cảnh đó, tôi nhận thấy, với một bộ phận thế hệ trẻ, nỗi sợ thời gian
dường như vẫn còn rất mơ hồ. Họ vẫn dành thì giờ buôn chuyện, chém gió thay vì tranh
thủ từng phút, từng giờ để học hỏi, phấn đấu, làm việc. Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi
xuân, chúng ta, đất nước chúng ta có thể sẽ già trước khi kịp giàu.
(Phan Tất Đức, Già trước khi giàu, Vn.Express,Thứ sáu, 26/9/2014 )
Câu 1: Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? (0,25 điểm)
Câu 2: Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Tác dụng? (0,5
điểm)
Câu 3: Theo tác giả, chúng ta, đất nước chúng ta cần làm gì để không rơi vào hoàn cảnh

già trước khi kịp giàu? (0,5 điểm)
Câu 4: Hãy viết một đoạn văn (từ 5- 7 dòng) nhận xét thái độ, quan niệm của tác giả thể
hiện trong câu: Tôi e, nếu tiếp tục lãng phí tuổi xuân, chúng ta, đất nước chúng ta có thể sẽ
già trước khi kịp giàu .(0,25 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi.
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong.
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Ðể cho mái tóc trên đầu anh đen
Ðâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao
Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh:
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa…
(Trích Mẹ của anh- Theo Thơ Xuân Quỳnh, NXB
Tổng hợp Đồng Nai, 2000)
Câu 5: Xác định thể thơ, cách gieo vần trong đoạn thơ trên. (0,5 điểm)
Câu 6: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người phụ nữ. Người ấy đang giãi bày, chia
sẻ tâm sự gì? (0,25 điểm)
Câu 7: Từ nội dung của đoạn thơ trên, hãy giải thích vì sao nhân vật trữ tình lại khẳng
định: Mẹ tuy không đẻ không nuôi/ Mà em ơn mẹ suốt đời, chưa xong? (0,5 điểm)
Câu 8: Viết một đoạn văn (từ 5-7 dòng) nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn nhân vật trữ tình trong
đoạn thơ (0,25 điểm)

Phần II. Làm văn (7 điểm)
Câu 1: (3 điểm)
Viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến sau:
Hòa nhập với thế giới là yêu cầu tất yếu của thời đại mới, song để vươn xa, trước
tiên ta cần tự nhận thức về mình.
Câu 2: (4 điểm)
Bàn về kết thúc đoạn trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (SGK Ngữ văn 12, tập 2),
có ý kiến cho rằng: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của
nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước; lại có người khẳng định: Đó
là một kết thúc tự nhiên, tất yếu.
Bằng hiểu biết về tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, anh chị hãy bình luận các
ý kiến trên.
………………………………Hết…………………………………….
SỞ GD VÀ ĐT NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ THI THỬ QUỐC GIA LẦN II, NĂM 2015
Môn: NGỮ VĂN
Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Câu 1. phương thức biểu đạt nghị luận/nghị luận
- Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong hai cách trên
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
Câu 2. Thao tác lập luận so sánh/ thao tác so sánh/ lập luận so sánh/ so sánh.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong các cách trên
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
Tác dụng: giúp người đọc dễ hình dung hơn về những khó khăn của thời điểm dân
số già đối với một đất nước, đặc biệt là nước đang phát triển. Từ đó, mỗi người có nhận
thức và hành động đúng để Việt Nam không bị già trước khi giàu.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng ý trên hoặc có cách diễn đạt khác logic thuyết phục
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Câu 3. Nội dung chính:
Bài viết đã đề cập đến nguy cơ tụt hậu, không đạt được mục tiêu phát triển của đất
nước ta nếu không biết chớp thời cơ, bứt phá để vượt lên trong thời điểm dân số vàng. Do
vậy, chúng ta cần hành động vì tương lai ngay từ lúc này, cụ thể:
+ Với những người có thẩm quyền, cần cân nhắc và trân trọng từng đồng tiền ngân sách,
biết tiết kiệm tài nguyên.
+ tất cả mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ cần tranh thủ từng phút, từng giờ để học hỏi,
phấn đấu, làm việc.
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ.
- Điểm 0,5: Trả lời theo cách trên
- Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
Câu 4: viết được đoạn văn nhận xét về quan điểm, thái độ của tác giả trong câu kết của bài.
Cần thấy được thái độ lo lắng cũng như niềm hi vọng của người viết trước tình hình thực tế
của đất nước. Từ đó, nêu suy nghĩ chân thành, nghiêm túc về trách nhiệm của mỗi người
trước tương lai của dân tộc.
Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
- Điểm 0,25: hiểu yêu cầu đề, thấy được thái độ, quan niệm của người viết và bày tỏ suy
nghĩ hợp lí, thuyết phục.
- Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ý, không có sức thuyết phục;
+ Không có câu trả lời.
Câu 5. Xác định thể thơ: lục bát. (0,25 điểm)
Cách gieo vần(0,25 điểm): trả lời theo một trong hai cách sau:
- hiệp vần ở tiếng thứ 6 của dòng lục với tiếng thứ 6 của dòng bát, giữa tiếng thứ 8
của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục tiếp theo.
- câu lục có vần chân ở tiếng thứ 6; câu bát có 1 vần chân ở tiếng thứ 8, một vần
lưng ở tiếng thứ 6.
Câu 6: Người phụ nữ trong bài thơ đang giãi bày về tình cảm yêu thương, lòng biết ơn sâu
sắc đối với người mẹ chồng của mình (0,25 điểm).

Câu 7: Nhân vật trữ tình khẳng định: Mẹ tuy không đẻ không nuôi/ Mà em ơn mẹ suốt đời,
chưa xong vì:
+ người mẹ ấy đã hi sinh tuổi xuân của mình, vượt qua bao vất vả để chăm lo cho con trai
+ mẹ đã hết lòng yêu thương con, dạy dỗ con nên người, mẹ là người làm vườn cho tâm
hồn của con. Nhờ vậy, hôm nay cô gái trong bài thơ mới có được người bạn đời nhân hậu,
thủy chung.
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.
- Điểm 0,5: Trả lời đúng, đầy đủ 2 ý trên hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí.
- Điểm 0,25: Trả lời được 1 trong 2 ý trên hoặc trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.
- Điểm 0: Trả lời không hợp lí hoặc không có câu trả lời.
Câu 8: Viết một đoạn văn (từ 5-7 dòng) nhận xét về tâm hồn nhân vật trữ tình trong đoạn
thơ (0,25 điểm)
Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ là một người phụ nữ nhân hậu, bao dung, biết quan
tâm, suy nghĩ cho người khác, sống nội tâm, chân thành, sâu sắc, giàu tình cảm.
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.
- Điểm 0,25: Nhận xét đúng, sâu sắc, có sức thuyết phục.
- Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ý;
+ Không có câu trả lời.
Phần II: Làm văn
Câu 1:
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội
để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt
trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mởbài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết
dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên
kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể
hiện được nhận thức của cá nhân.

- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa
thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉcó 1
đoạn văn.
b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vai trò của việc tự nhận thức đối với cuộc
sống của cá nhân và của cả dân tộc, đặc biệt là trong thời hiện đại
- Điểm 0, 25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung.
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.
c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển
khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển
khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, phân tích, bình luận); biết kết hợp
giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh
động (1,0 điểm):
- Điểm 1,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:
Giải thích ý kiê ́ n: Tự nhận thức về mình là sự suy ngẫm, nắm rõ những ưu, nhược điểm của
bản thân mình ở một cá nhân hay của một tập thể. Đây là cơ sở ban đầu cho quá trình hòa
nhập với thế giới.
- Về thực chất câu nói nêu cao vai trò của quá trình tự nhận thức như một bài học cho cá
nhân hay cộng đồng dân tộc trong cuộc sống và trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài,
đặc biệt trong thời đại mới.
Bàn luâ ̣ n vê ̀ y ́ kiê ́ n :
- Tự nhận thức là cơ sở , xuất phát điểm để con người hòa nhập với cuộc sống vì lẽ chỉ khi
con người nhận thức đúng đắn về bản thân mình với những ưu và nhược điểm thì khi ấy họ
mới có thể hòa nhập được với cuộc sống xung quanh. Một dân tộc muốn vươn ra hòa nhập
với cộng đồng thế giới cũng phải trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về chính dân tộc mình.
- Hòa nhập không có nghĩa là hòa tan , một mặt hòa nhập mặt khác cá nhân, dân tộc cần
phải có ý thức trở về, giữ gìn và làm đầy cho nét riêng vốn có của mình trong quan hệ với
xã hội, nhân loại. Chỉ khi có ý thức và khả năng gìn giữ được bản sắc riêng thì khi ấy anh
mới có cơ sở để thế giới tìm đến và hòa nhập với chính mình. Cũng chính trong mối quan

hệ với cộng đồng, nhân loại mà ta ý thức sâu sắc hơn về chính mình.
- Phê phán những biểu hiện tự ti hay tự phụ về bản thân, về dân tộc của một bộ phận người
Việt hiện nay.
Nêu ba ̀ i ho ̣ c nhâ ̣ n th ứ c và hành đ ô ̣ ng :
- Bản thân cần có ý thức sâu sắc về chính mình, luôn có thói quen kiểm điểm, nhìn nhận
lại chính mình một cách khách quan nhất từ đó trau dồi nhân cách cá nhân.
- Giữ gìn bản sắc trong quan hệ với cộng đồng, thế giới cũng là một vấn đề mà chúng ta
phải lưu tâm đặc biệt ở thời điểm hội nhập đang trở thành xu thế tất yếu này. Cá nhân và
cộng đồng, các cơ quan hữu trách đều phải bắt tay trong các chương trình hành động nhằm
gìn giữ, bảo vệ, trau dồi bản sắc dân tộc.
- Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải
thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.
- Điểm 0,5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
d) Sáng tạo (0,5 điểm)
- Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh
và các yếu tố biểu cảm,…) ; thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng
không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy
nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ
riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0,25: Mắc một sốlỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
Câu 2. (4,0 điểm)
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng vềdạng bài nghị luận văn học
để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện

khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi
chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủcác phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết
dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên
kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đềvà thể
hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.
- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa
thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉcó 1 đoạn văn.
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1
đoạn văn.
b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):
Bàn về kết thúc đoạn trích Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (SGK Ngữ văn 12, tập 2), có ý
kiến cho rằng: Bằng hiểu biết về tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, anh chị hãy bình
luận các ý kiến trên.
- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: kết thúc đoạn trích Vợ chồng A Phủ của
Tô Hoài: đó là kết thúc bất ngờ, đột ngột song tự nhiện tất yếu.
- Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghịluận, trình bày lạc sang vấn đề khác.
c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai
theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai
các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ
và đưa dẫn chứng. (2,0 điểm):
- Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:
Giải thích ý kiến
- Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của
nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện
Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
- Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết

thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch
vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người
sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Phân tích, chứng minh:
- hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật
bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: trong tác phẩm, Mị và A Phủ cùng là nô lệ
trong nhà thống lí Pá Tra, song họ không có quan hệ tình cảm gì cụ thể, thậm chí là Mị đã
gần như tê liệt hoàn toàn về ý thức, chỉ còn như con trâu, con ngựa. Trong hoàn cảnh A
Phủ bị trói đứng đến gần chết, Mị vẫn thờ ơ đến mức như vô cảm trước nỗi khổ của A Phủ.
Không ai có thể ngờ rằng, người con dâu bất hạnh và câm lặng ấy lại đột ngột cắt nút dây
mây cởi trói cho A Phủ rồi chạy trốn theo anh. Đây là hành động hoàn toàn không hề có
sự chuẩn bị, tính toán từ trước.
- Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: Đặt trong sự phát triển tính cách của hình tượng
Mị thì đây lại là một hành động tự nhiên, tất yếu. Bởi lẽ, Mị là cô gái ham sống, yêu đời,
yêu tự do, khát khao hạnh phúc. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt ở Mị dù có bị vùi dập đến
kiệt cùng vẫn không lụi tắt. Đêm tình mùa xuân là minh chứng rõ nét cho sức sống ấy. Mặt
khác, Mị vốn là cô gái giàu tình thương, vị tha, biết nghĩ, biết hi sinh cho người khác. Hành
động của Mị là kết quả tất yếu của sự bóc lột, đàn áp tàn nhẫn của cha con thống lí nói
riêng, tầng lớp phong kiến miền núi cao Tây Bắc nói chung đối với những người lao động
nghèo. Hành động ấy chứng tỏ sức phản kháng mãnh liệt, khả năng hướng về cách mạng
một cách tự nhiên của người dân Tây Bắc.
Bình luận, đánh giá chung:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ
hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta
càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.
- Điểm 1,5 - 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm
còn chưa được trình bày đầy đủhoặc liên kết chưa thực sựchặt chẽ.
- Điểm 1,0 -1,25 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0,5 - 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

- Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
d) Sáng tạo (0,5 điểm)
- Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh
và các yếu tố biểu cảm,…) ; văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt;
có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp
luật.
- Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ
riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ
riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NGHỆ
AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4
ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA
NĂM 2015 LẦN III
Môn thi: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 180 phút

Phần I. Đọc hiểu (3.0 điểm):
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
(1) Đưa những cuốn sách về với quê hương mình, với mái trường cũ thân thương
của mình, để các em nhỏ sẽ không còn "khát" sách đọc. Đó là công việc thiện nguyện của
những người tham gia chương trình "Sách hóa nông thôn Việt Nam", đang chung tay đeo
đuổi mục tiêu để 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc như trẻ em
thành phố.

(2) Anh Nguyễn Quang Thạch, người khởi xướng chương trình hiện đang trong quá
trình đi bộ xuyên Việt từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh. Chuyến đi được khởi hành từ ngày
mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 6-2015. Anh là cử nhân
tiếng Anh, đã từng trải qua nhiều vị trí ở cơ quan nhà nước và từng làm việc cho một số tổ
chức quốc tế. Chuyến đi bộ xuyên Việt của anh lần này là mong muốn kêu gọi cộng đồng
chung tay nhân rộng tủ sách trong trường học, dòng họ để đạt con số 300 nghìn tủ sách
được xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017, giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách
đọc.
(…) (3) Chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam ra đời theo mong muốn của
anh là nhằm giải quyết vấn đề thiếu sách ở nông thôn mà theo anh là để nâng cao dân trí,
xây dựng tinh thần chia sẻ trách nhiệm xã hội trong cộng đồng. Tâm nguyện của anh là
tạo ra một hệ thống thư viện mi-ni rộng khắp cả nước để mọi người dân thôn quê có thể
tiếp cận tri thức. Chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam đến nay đã thực hiện thành
công năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách được xây dựng, giúp hơn 200 nghìn người
dân nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm.”
(Đưa sách về làng, Nhân dân cuối tuần, 26/04/2015)
Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. (0,25 điểm)
Câu 2. Đoạn (2) giới thiệu những thông tin gì về hành động “đi bộ xuyên Việt” của anh
Nguyễn Quang Thạch? (0,5 điểm)
Câu 3. Từ nội dung văn bản, hãy nêu mục tiêu và kết quả đạt được của chương trình "Sách
hóa nông thôn Việt Nam". (0,25 điểm)
Câu 4. Theo số liệu của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch: hiện nay, trung bình người Việt
đọc 0,8 cuốn sách/năm. Từ thực trạng này, anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về anh Nguyễn
Quang Thạch và chương trình "Sách hóa nông thôn Việt Nam" do anh khởi xướng. Trả lời
trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Tôi đứng lặng giữa cuộc đời nghiêng ngả
Để một lần nhớ lại mái trường xưa
Lời dạy ngày xưa có tiếng thoi đưa

Có bóng nắng in dòng sông xanh thắm.
Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng
Trưởng thành này có bóng dáng hôm qua
Nhớ được điều gì được dạy những ngày xa
Áp dụng - chắc nhờ cội nguồn đã có.
Nước mắt thành công hoà nỗi đau đen đỏ
Bậc thềm nào dìu dắt những bước đi
Bài học đời đã học được những gì
Có nhắc bóng người đương thời năm cũ
Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ
Để cây đời có tán lá xum xuê
Bóng mát dừng chân là một chốn quê
Nơi ơn tạ là mái trường nuôi lớn
Xin phút tĩnh tâm giữa muôn điều hời hợt
Cảm tạ mái trường ơn nghĩa thầy cô.
(Lời cảm tạ- sưu tầm)
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong bài thơ trên? (0,25 điểm)
Câu 6. Nêu rõ phép tu từ được sử dụng trong câu thơ Thoáng quên mất giữa tháng ngày
ngọt đắng (0,25 điểm).
Câu 7. Nêu nội dung chính của bài thơ trên. (0,5 điểm)
Câu 8. Anh chị hiểu hai dòng thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/ Để cây đời có tán
lá xum xuê” như thế nào? Từ ý thơ này, hãy viết một đoạn văn ngắn nêu vai trò của mái
trường và thầy cô đối với cuộc đời của mỗi người. trả lời trong 5-10 dòng. (0,5 điểm)
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
Bàn về đọc sách, có một số bạn trẻ cho rằng: Thời nay, đọc sách là lạc hậu. Sống
trong thời đại công nghệ thông tin thì phải lên mạng đọc vừa nhanh, vừa dễ, vừa đỡ tốn
kém. Lại có người khẳng định: Thời hiện đại, con người càng cần phải đọc sách.
Từ hiểu biết của bản thân về việc đọc sách, anh/chị hãy bình luận các ý kiến trên.
Câu 2. (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
“Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
(Tây Tiến, Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 88).
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”
( Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 112)
Hết
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4
HƯỚNG DẪN CHẤM KÌ THI THỬ THPT LẦN III
Môn Ngữ văn
Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Câu 1. Phong cách ngôn ngữ báo chí
Câu 2. Hành động đi bộ xuyên Việt của anh Nguyễn Quang Thạch:
- về hành trình: từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh
- về thời gian: khởi hành từ ngày mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào
trung tuần tháng 6-2015.
- về mục đích: kêu gọi cộng đồng chung tay nhân rộng tủ sách trong trường học,
dòng họ để đạt con số 300 nghìn tủ sách được xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017,
giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách đọc.
- Điểm 0,5: nêu đủ 3 ý trên;
- Điểm 0,25: nêu được 2 ý
- Điểm 0: chỉ nêu 1 ý, trả lời sai hoặc không trả lời,
Câu 3. -Mục tiêu: 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc như trẻ em
thành phố.
- kết quả đạt được của chương trình "Sách hóa nông thôn Việt Nam": thực hiện thành công

năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách được xây dựng, giúp hơn 200 nghìn người dân
nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm
- Điểm 0,25: nêu đủ 2 ý trên;
- Điểm 0: chỉ nêu 1 ý, trả lời sai hoặc không trả lời,
Câu 4. Thí sinh nêu được quan điểm của bản thân về anh Nguyễn Quang Thạch và ý nghĩa
của chương trình "Sách hóa nông thôn Việt Nam". Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết
phục.
- Anh Nguyễn Quang Thạch: là một người có tâm huyết với cộng đồng, có lí tưởng sống
đẹp, biết chăm lo cho sự phát triển của thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ em nông thôn.
- chương trình "Sách hóa nông thôn Việt Nam": là một chương trình thiết thực, ý nghĩa,
giúp cho mỗi người có nhận thức đúng hơn về sách và quan tâm nhiều hơn đến việc đọc
sách.
- Điểm 0,5: Nhận xét đúng, hợp lí về cả hai đối tượng, diễn đạt gọn, trong sáng;
- Điểm 0,25: Nhận xét đúng, hợp lí về cả hai đối tượng; diễn đạt chưa thật trong sáng.
- Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:
+ Nhận xét không hợp lý;
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ràng, không thuyết phục;
+ Không trả lời.
Câu 5. Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: biểu cảm. (0,25 điểm)
Câu 6. Câu thơ Thoáng quên mất giữa tháng ngày ngọt đắng sử dụng phép tu từ ẩn dụ:
ngọt đắng: chỉ những thăng trầm, buồn vui trong cuộc đời.
Điểm 0,25: nêu tên phép ẩn dụ; chỉ rõ từ ngữ, hình ảnh ẩn dụ và ý nghĩa của từ ngữ đó.
- Điểm 0: Trả lời sai phép tu từ, chỉ nêu tên phép tu từ mà không chỉ rõ từ ngữ và ý nghĩa
hoặc không có câu trả lời.
Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên:
Đoạn thơ ghi lại tâm trạng, suy nghĩ của một người học trò khi đã rời xa mái trường với
tình cảm yêu thương, trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc. Càng trưởng thành, càng nếm trải
những thăng trầm, buồn vui trong cuộc sống, mỗi người lại càng thấm thía hơn tấm lòng
bao dung, yêu thương và công lao của thầy cô, mái trường.
- Điểm 0,5: trả lời đúng các ý trên hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí, diễn đạt gọn,

trong sáng;
- Điểm 0,25: trả lời đúng, hợp lí song diễn đạt chưa thật trong sáng.
- Điểm 0: Cho điểm 0 đối với một trong những trường hợp sau:
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ràng, không thuyết phục;
+ Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 8. - Hai dòng thơ: “Vun xới cơn mơ bằng trái tim ấp ủ/ Để cây đời có tán lá xum xuê”
thể hiện công lao to lớn của thầy cô đối với học trò: chăm chút, thắp sáng ước mơ, niềm tin
cho học trò bằng cả trái tim yêu thương để từ đây, các em bước ra đời vững vàng, cứng
cáp, dâng hiến sức mình cho cuộc đời. (0,25 điểm)
- Đoạn văn cần nêu được vai trò của thầy cô và mái trường đối với cuộc đời mỗi người:
giúp mỗi người hoàn thiện bản thân về trí tuệ, tâm hồn. (0,25 điểm)
Cho điểm 0,25 cho mỗi ý khi: Trả lời đúng, thuyết phục, văn mạch lạc, trong sáng;
- Điểm 0: Trả lời sai, không hợp lý, hoặc có ý đúng nhưng diễn đạt yếu.
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
* Yêu cầu chung: Thí sinh phải biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã
hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng, văn viết có cảm xúc; diễn
đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết
dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên
kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể
hiện được nhận thức của cá nhân.
- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa
thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1
đoạn văn.
b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm): vai trò của việc đọc sách đối với con
người trong thời hiện đại

- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận.
- Điểm 0, 25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung.
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.
c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai
theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai
các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp
giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh
động (1,0 điểm):
- Điểm 1,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:
+ Giải thích ý kiến: ý kiến thứ nhất cho rằng việc đọc sách không còn phù hợp trong
thời đại công nghệ thông tin và khẳng định ưu thế của mạng internet trong việc cung cấp
kiến thức cho con người.
Ý kiến thứ hai lại khẳng định sự cần thiết của việc đọc sách đặc biệt trong thới hiện
đại.
Như vậy, hai ý kiến đưa ra hai quan niệm đối lập nhau về vấn đề đọc sách trong thời
hiện đại.
+ Chứng minh tính đúng đắn (hoặc sai lầm; hoặc vừa đúng, vừa sai) của ý kiến bằng
việc bày tỏ sự đồng tình (hoặc phản đối; hoặc vừa đồng tình, vừa phản đối) đối với ý kiến.
Lập luận phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
Cần khẳng định những tác dụng lớn lao của sách trong việc cung cấp kiến thức, bồi
dưỡng tâm hồn, rèn luyện tư duy cho con người. Đọc sách là một việc làm không thể thiếu
đối với quá trình hoàn thiên nhân cách của con người, đặc biệt trong nhịp sống hối hả của
thời hiện đại.
Mạng internet có những lợi thế nhất định đối với con người song không thể thay thế
được vai trò của sách.
Cần liên hệ thực tế để phê phán hiện tượng lười đọc sách ở một bộ phận người Việt
hiện nay.
Bình luận để rút ra bài học cho bản thân và cho những người xung quanh về vấn đề đọc
sách.
- Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải

thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.
- Điểm 0,5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
d) Sáng tạo (0,5 điểm)
- Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh
và các yếu tố biểu cảm,…) ; thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng
không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ
riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ
riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
Câu 2. (4,0 điểm):
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học
để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện
khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi
chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết
dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên
kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể
hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.
- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa
thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1

đoạn văn.
b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của
hai đoạn thơ trích trong hai bài Tây Tiến -Quang Dũng và Việt Bắc- Tố Hữu.
- Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.
c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai
theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai
các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và
đưa dẫn chứng (2,0 điểm):
- Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:
+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm;
+ Phân tích vấn đề:
1. Đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
- Nội dung: nỗi nhớ da diết, vời vợi về miền Tây và người lính Tây Tiến. Thiên nhiên
miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu và thơ mộng, người lính Tây Tiến chiến đấu trong
hoàn cảnh vô cùng gian khổ mà hào hoa.
- Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn; hình ảnh thơ có sự hài hoà, nét thực, nét ảo, vừa mông
lung, vừa gợi cảm về cảnh và người; nhạc điệu có sự hoà hợp giữa lời cảm thán với cảm
xúc ( câu mở đầu như một tiếng kêu vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần
( rồi; ôi; chơi vơi; hơi), điệp từ (nhớ/ nhớ) và lối đổi uyển chuyển (câu 3 và 4) đã tạo ra một
âm hưởng tha thiết ngậm ngùi.
2. Cảm nhận về đoạn thơ trong Việt Bắc của Tố Hữu
- Nội dung: là nỗi nhớ da diết, khôn nguôi về những trận đánh của thiên nhiên và con
người Tây Bắc. Thiên nhiên, đất trời, núi rừng Việt Bắc đã trở thành những người đồng
đội, những chiến sĩ anh hùng của quân và dân ta. Nó vừa bao vây quân thù, vừa che chở
cho bộ đội.
- Nghệ thuật: thể thơ lục bát; với nghệ thuật nhân hoá, Tố Hữu đã biến núi rừng, thiên
nhiên thành con người Việt Nam anh dũng kiên cường (Núi …quân thù), nghệ thuật đối,
điệp tạo âm hưởng mạnh mẽ, hùng hồn.

3. So sánh
- Điểm tương đồng: Hai đoạn thơ tiêu biểu cho thơ ca thời kháng chiến chống Pháp,
thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên và con người miền Tây Bắc và đều bộc lộ nỗi nhớ tha thiết,
sâu nặng về thiên nhiên và con người ở những miền quê mà người lính đã đi qua.
- Điểm khác biệt:
+ Đoạn thơ trong Tây Tiến bộc lộ nỗi nhớ cụ thể của người trong cuộc, toát lên vẻ hào
hoa, lãng mạn của người lính, hình ảnh thơ nghiêng về tả thực, trực quan; thể thơ thất ngôn
mang âm hưởng vừa cổ điển vừa hiện đại.
+ Đoạn thơ trong bài Việt Bắc là cái tình, là lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ
kháng chiến đối với đất, người Việt Bắc, vì thế hình ảnh thơ nghiêng về khái quát, tượng
trưng; thể thơ lục bát mang âm hưởng ca dao dân ca.
Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục.
- Điểm 1,5 - 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm
(phân tích, so sánh) còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.
- Điểm 1,0 -1,25 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0,5 - 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
d) Sáng tạo (0,5 điểm)
- Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh
và các yếu tố biểu cảm,…) ; văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt;
có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp
luật.
- Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ
riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ
riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

- Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

1.2. Đề thi học sinh giỏi:
SỞ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4
ĐÊ KHẢO SÁT häc sinh giái tØnh líp
11
MÔN NGỮ VĂN
n¨m häc 2014 - 2015
Thời gian làm bài: 150 phút
Phần I: Đọc hiểu (2 điểm)
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
… “Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong
trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người
quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến
răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than? Không, không, Điền không thể nào mơ
mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ
lãng mạn gieo trong đầu óc Điền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Điền muốn
tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Điền khổ, con Điền khổ, cha mẹ Điền
khổ. Chính Điền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Điền! Cái khổ
làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên
mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật
không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ
những kiếp lầm than, ” (Nam Cao – Trăng sáng)
a. Đoạn văn trên được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn trần thuật của nhân vật nào? Cách
trần thuật này có tác dụng gì?
b. Nêu và phân tích hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ được sử dụng trong câu văn Nghệ
thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối,
nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, ”
c. Hình ảnh ánh trăng ở đây có ý nghĩa gì? Viết một đoạn văn nêu cảm nhận của anh chị về

tư tưởng của tác giả gửi gắm trong đoạn văn trên.
Phần II: Làm văn
Câu 2 (3,0 điểm):
Đôi mắt của trái tim.
Câu 3 (5,0 điểm)
Bàn về lao động nghệ thuật của nhà văn, Mác-xen Prút cho rằng:
“Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một
đôi mắt mới”.
Qua cảm nhận về đoạn thơ sau, anh chị hãy bình luận ý kiến trên :
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”
(Xuân Diệu, Vội vàng, SGK Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục 2007,
trang 22)
Hết
HƯỚNG DẪN CHẤM
(Gồm có 03 trang)
A.Yêu cầu chung:
1. Có kiến thức văn học và xã hội đúng đắn, sâu rộng; kĩ năng làm văn tốt: bố cục rõ
ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh và sức biểu cảm, ít mắc lỗi chính
tả.
2. Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng, định tính chứ
không định lượng. Giám khảo cần hết sức linh hoạt khi vận dụng. Cần đánh giá bài làm của
thí sinh trong tính chỉnh thể; trân trọng những bài viết có ý kiến và giọng điệu riêng. Chấp

nhận các cách kiến giải khác nhau, kể cả không có trong hướng dẫn chấm, miễn là hợp lí
và có sức thuyết phục.
3. Tổng điểm toàn bài là 10,0 điểm, cho lẻ đến 0,5 điểm.
B. Yêu cầu cụ thể:
Phần I: Đọc hiểu (2 điểm)
a. Đoạn văn trên được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn trần thuật của nhân vật Điền Cách
trần thuật này có tác dụng: giúp tác giả đi sâu vào những cung bậc cảm xúc và suy nghĩ
của nhân vật Điền, đặc biệt là những nhận thức về văn chương, nghệ thuật. Qua đó, nhà
văn bộc lộ tư tưởng của mình
b. Phép tu từ được sử dụng trong câu văn: phép điệp (điệp từ “nghệ thuật”, điệp cấu trúc
câu).
Hiệu quả nghệ thuật: khẳng định, nhấn mạnh nhận thức mới của Điền về văn chương,
nghệ thuật và thái độ dứt khoát của anh trong việc lựa chọn con đường sáng tạo nghệ thuật
vị nhân sinh, phê phán lối văn chương thoát li, thi vị hóa cuộc sống thực tế vốn còn nhiều
cơ cực, lầm than.
c. Ý nghĩa của hình ảnh ánh trăng: là biểu tượng cho loại nghệ thuật chỉ đắm chìm trong
cảm xúc lãng mạn thoát li, tô hồng thực tế đời sống, ru ngủ con người trong ảo tưởng,
mộng mơ.
Viết một đoạn văn nêu cảm nhận của anh chị về tư tưởng của tác giả gửi gắm trong
đoạn văn trên: Học sinh cần nêu được quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nam Cao thể hiện
qua câu nói của Điền: nghệ thuật vị nhân sinh. Từ đó, biết liên hệ đến hoàn cảnh xã hội
Việt Nam những năm 40 của thế kỉ XX, thiên chức của văn chương nghệ thuật và đặc biệt
là thực tiễn sáng tác của Nam Cao để đánh giá vê ý nghĩa của tư tưởng này. Có thể nói đó
là một quan niệm nghệ thuật tích cực và tiến bộ của một nhà văn hiện thực và nhân đạo sâu
sắc luôn trăn trở về vấn đề sống và viết.
Phần II: Làm văn
Câu 2 (3,0 điểm):
Đôi mắt của trái tim
Đây là dạng đề mở, người viết cần đưa ra được quan điểm riêng của mình và lựa chọn
kiểu văn bản phù hợp. Sau đây là một số gợi ý về nội dung.

1. Trong cuộc sống, tuy vào hoàn cảnh, tính cách, quan niệm sống, con người có nhiều
cách nhìn đời khác nhau. Đôi mắt của trái tim chỉ cách nhìn đời nhân hậu, bao dung, nhìn
cuộc đời và con người bằng cả tấm lòng yêu thương, chia sẻ, trân trọng. Đây là một thái độ
ứng xử đẹp của con người trong cuộc sống.
2. Nhìn đời bằng đôi mắt của trái tim giúp ta nhìn thấy những góc khuất của cuộc đời
và lòng người mà nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt sinh học hay của lí trí tỉnh táo ta không thể
hiểu. Đó là cơ sở để ta điều chỉnh mình, biết trân trọng cuộc sống và sống đẹp hơn.
3. Thực tế, có người luôn nhìn đời qua lăng kính màu đen, có người lại chỉ biết tô hồng
cuộc sống, cũng có người nhìn thẳng vào sự thật bằng đôi mắt của lí trí lạnh lùng, tàn
nhẫn… Nhưng cũng có người luôn ứng xử theo chủ nghĩa tình cảm, đặt tình cảm lên trên
hết, chưa sáng suốt trong từng hoàn cảnh cụ thể. Đó là những cách nhìn đời phiến diện
khiến hình ảnh cuộc sống trong lòng họ bị bóp méo gây hậu quả khôn lường (ảo tưởng về
cuộc sống, bi quan tuyệt vọng hay sống vô cảm…).
4. Bài học:
Mỗi người cần học cách nhìn cuộc sống bằng cả trí tuệ và tâm hồn, đặc biệt cần mở
lòng mình đón nhận những sắc màu khác nhau của vạn vật để thế giới này đẹp đẽ và nhân
văn hơn.
Biểu điểm:
- Điểm 2,5 -3: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, hành văn trong sáng, có cảm xúc, giàu
hình ảnh.
- Điểm 1,5 - 2,25: Đáp ứng được phần lớn các yêu cầu trên, hành văn trong sáng,
mạch lạc.
- Điểm 1- 1,25: Đáp ứng được một nửa yêu cầu trên, còn một số lỗi về diễn đạt,
chính tả.
- Điểm dưới 1: Không hiểu đề hoặc hiểu còn mơ hồ, nhiều lỗi diễn đạt.
Câu 2 (5,0 điểm):
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cơ bản đạt được các nội dung sau:
a. Giải thích vấn đề
- Cuộc thám hiểm thực sự: quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn để sáng tạo nên tác
phẩm đích thực.

- Vùng đất mới: hiện thực đời sống chưa được khám phá
- Đôi mắt mới: cái nhìn và cách cảm thụ đời sống mới mẻ
- Hàm ý câu nói: Trong quá trình sáng tạo, điều cốt yếu là nhà văn phải có cái nhìn và cách
cảm thụ độc đáo, giàu tính phát hiện về con người và cuộc đời.
b. Cảm nhận đoạn thơ trong Vội vàng và khẳng định vấn đề
- Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi non, ngập tràn sức sống với những chi tiết giàu sức
gợi ong bướm, hoa la, đồng nội, tiếng chim, ánh sáng, Tất cả các chi tiết đều gần gũi. Đó
chính là vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống trần thế- một thiên đường mặt đất, một bữa tiệc
trần gian.
- Phép điệp, phép liệt kê, so sánh và giọng điệu thiết tha sôi nổi góp phần diễn tả trạng thái
hân hoan, ngất ngây say đắm của chàng trai trẻ trong buổi sớm xuân tình.
- Đoạn thơ là kết quả của cái nhìn mới, của cặp mắt “xanh non, biếc rờn” trước vẻ đẹp mùa
xuân. Xuân Diệu đã nhìn thế giới vốn dĩ quen thuộc với tất cả chúng ta bằng đôi mắt của
một chàng trai tha thiết yêu đời, chếnh choáng men tình yêu và đặc biệt quý trọng từng
khoảnh khắc thời gian. Mặt khác, đó cũng là cái nhìn của một cái tôi đã thức tỉnh ý nghĩa
của sự tồn tại cá nhân, dám tự tin khẳng định vị trí của con người: con người là trung tâm
của vũ trụ, là hệ quy chiếu cho tất cả vẻ đẹp của đất trời.
- Như vậy, từ thực tiễn quá trình sáng tạo của nhà thơ Xuân Diệu nói riêng, của các văn
nghệ sĩ nói chung, ta có thểt khẳng định: trong sáng tác văn học, chính cái nhìn và cách
cảm thụ đời sống của người cầm bút chứ không phải sự tìm tòi, khám phá về đề tài là cái
quyết định giá trị của một tác phẩm.
c. Mở rộng, nâng cao vấn đề
- Nếu đã có cái nhìn giàu tính khám phá, phát hiện lại tiếp cận với một đề tài mới mẻ thì
sức sáng tạo của nhà văn và giá trị độc đáo của tác phẩm càng cao. Vì thế, coi trọng vai trò
quyết định của “đôi mắt mới” nhưng cũng không nên phủ nhận ý nghĩa của “vùng đất mới”
trong thực tiễn sáng tác.
- Để có cái nhìn và cách cảm thụ độc đáo, nhà văn cần trau dồi tài năng (sự tinh tế, sắc
sảo ), bồi dưỡng tâm hồn (tấm lòng, tình cảm đẹp với con người và cuộc đời ) và xác lập
một tư tưởng, quan điểm đúng đắn, tiến bộ.
Biểu điểm:

- Điểm 4-5: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, hành văn trong sáng, có cảm xúc, giàu hình ảnh.
- Điểm 3- 3,75: Đáp ứng được phần lớn các yêu cầu trên, hành văn trong sáng, mạch lạc.
- Điểm 2,5- 2,75: Đáp ứng 2/3 yêu cầu trên, hành văn ít mắc lỗi.
- Điểm 1,5- 2,25: Đáp ứng được 1/2 yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi về diễn đạt, chính tả.
- Điểm dưới 1,5: Còn non kém về nhiều mặt.

×