Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong luật hình sự việt nam ( trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (710.86 KB, 94 trang )


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




LÊ THỊ HOÀNG YẾN





TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)






LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC








HÀ NỘI - 2015


2


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



LÊ THỊ HOÀNG YẾN





TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04




LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang




HÀ NỘI - 2015


3



Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn cha từng đợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn


Lê Thị Hoàng Yến












4
MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ
CÓ GIÁ GIẢ KHÁC TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM

10

1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
trong luật hình sự Việt Nam
10
1.1.1.

Thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 10
1.1.2.

Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
11
1.1.3.

Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 13
1.2. Những khái niệm có liên quan 16
1.2.1.

Khái niệm séc, các giấy tờ có giá khác 16
1.2.2.

Khái niệm séc giả, giấy tờ có giá giả khác 20
1.3. Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ
có giá giả khác với một số tội phạm trong luật hình sự Việt Nam

22
1.3.1.

Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy
tờ có giá giả khác (Điều 181) với tội làm, tàng trữ, vận chuyển,

lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180)
22
1.3.2.

Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các
giấy tờ có giá giả khác (Điều 181) với tội in, phát hành, mua
bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
(Điều 164a)
33

5
1.4. Quy định của pháp luật hình sự về tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
37
1.4.1.

Các dấu hiệu pháp lý của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác
37
1.4.2.

Chế tài hình sự đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
40
Chương 2:
THỰC TIỄN ĐẤU TRANH VỚI TỘI LÀM, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ
CÓ GIÁ GIẢ KHÁC TẠI TỈNH PHÚ THỌ VÀ NHỮNG
KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT


48
2.1. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ
48
2.1.1.

Kết quả và những tồn tại trong điều tra, truy tố, xét xử đối với
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
48
2.1.2.

Một số nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác điều tra,
truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
65
2.2. Những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả đấu tranh đối với
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác
72
2.2.1.

Những quan điểm cơ bản trong cải cách tư pháp liên quan đến
đấu tranh phòng chống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
72
2.2.2.

Hoàn thiện pháp luật hình sự với tội làm, tàng trữ, vận

chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
73
2.2.3.

Các giải pháp khác đấu tranh với tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
78

KẾT LUẬN
82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
85

6


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
1.1 So sánh tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181) và tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
trái giả (Điều 180)
23
1.2 So sánh tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
các giấy tờ có giá giả khác và tội in, phát hành, mua bán
trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước

34
2.1 Thống kê số vụ án, bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét
xử về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các
giấy tờ có giá giả khác giai đoạn 2009- 2014 trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ
49
2.2 Thống kê về thành phần, nhân thân người phạm tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả
khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2009- 2014
51


7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu để
đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, đồng thời
pháp luật hình sự còn góp phần chống lại mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi
người ý thức tôn trọng pháp luật.
Kinh tế - xã hội phát triển, một mặt làm thay đổi bộ mặt của đất nước,
đời sống của người dân ngày một nâng cao, tuy nhiên mặt trái của của sự phát
triển bao giờ cũng là những hiện tượng tiêu cực xã hội, tình hình tội phạm và
vi phạm pháp luật gia tăng. Tội phạm trong xã hội hiện đại là một hiện tượng
xã hội - pháp lý phức tạp với những biểu hiện khác nhau, vì thế công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm cũng gian khổ và khó khăn hơn. Tội phạm xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển,

lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng đã và đang diễn biến
hết sức phức tạp ở nước ta trong những năm gần đây. Báo cáo tổng kết hàng
năm của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đều nhận định số lượng các
vụ án cũng như bị can, bị cáo về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
không tăng đột biến nhưng phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn.
Tội phạm xảy ra nghiêm trọng, phổ biến trên tất cả các lĩnh vực, ngành nhất là
những lĩnh vực và các ngành kinh tế trọng điểm. Thực tế đó đã ảnh hưởng
không nhỏ đến trật tự quản lý kinh tế của đất nước, là rào cản tới sự ổn định,
phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong
những năm qua, pháp luật hình sự đã liên tục được nghiên cứu, bổ sung, sửa
đổi và hoàn thiện cho phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước trong

8
từng thời kỳ. Chính sách hình sự là quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với
việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm bằng nhiều biện pháp khác
nhau, trong đó biện pháp pháp luật hình sự là cốt lõi nhằm đảm bảo an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế nói chung, tình hình tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
các giấy tờ có giá giả khác nói riêng đang tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp
do những sự thay đổi khách quan của kinh tế - xã hội. Thực tiễn cho thấy
trong quá trình phát triển kinh tế, lợi dụng chính sách khuyến khích sự năng
động sáng tạo của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế đã xuất hiện một
số hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính nguy hiểm rất lớn cho xã hội, có
nơi, có lúc tội phạm diễn biến nghiêm trọng.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là kể
từ sau sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã
mở ra cho chúng ta những thời cơ, thuận lợi để phát triển. Tuy nhiên, thách
thức, khó khăn và những hệ quả tiêu cực kéo theo là không nhỏ. Dự báo tình
hình tội phạm nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc

giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng trong thời gian tới còn phức tạp,
phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi và gây khó khăn hơn trong điều tra,
xử lý tội phạm. Giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục công
cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính nhằm xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Chiến lược cải cách đến năm 2020 đã đề ra
một trong những phương hướng quan trọng, đó là hoàn thiện chính sách pháp
luật hình sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với công tác xây dựng pháp luật hình sự là
phải xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, đảm bảo
tính khả thi với việc quy định tội phạm và hình phạt để đủ sức trừng trị và răn
đe đối với tội phạm. Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng hệ thống lý luận, pháp lý

9
làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác cũng được đặt ra.
Để góp phần xây dựng, cải tạo và phát triển kinh tế, xã hội, tạo ra môi
trường ổn định, lành mạnh cho nền kinh tế quốc dân chống lại mọi hành vi
nguy hiểm xâm hại đến trật tự kinh tế của đất nước, luật hình sự Việt Nam
quy định chương "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế", trong đó "tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác"
được quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009.
Trong thực tiễn, đã có không ít Thẩm phán còn gặp nhiều vướng mắc,
lúng túng khi xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy
tờ có giá giả khác và không ít trường hợp còn chưa thống nhất các quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về tình hình của loại tội phạm này.
Cùng một hành vi phạm tội nhưng Tòa án ở các cấp khác nhau, các địa
phương khác nhau lại xét xử bị cáo với những tội danh khác nhau. Việc đó đã
trực tiếp gây bất lợi cho quyền lợi của bị can, bị cáo. Do vậy, việc tiếp tục
nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội làm, tàng trữ,

vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác và thực tiễn áp dụng
để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và
những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó
không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do
luận chứng cho sự cần thiết để tác giả lựa chọn đề tài "Tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong Luật hình sự
Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)" làm luận
văn thạc sĩ luật học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chính sách hình sự, trong đó có các vấn đề về tội phạm xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong nước đề

10
cập. Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội phạm làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng luôn
mang tính thời sự xuất phát từ tính "động" của nền kinh tế. Vì vậy, những
công trình nghiên cứu về chính sách hình sự, về tội phạm kinh tế khá nhiều,
có thể ở góc độ luật hình sự hoặc góc độ tội phạm học. Tác giả sắp xếp từng
công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo,
tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học. Đây là những tài liệu mang tính
chất phổ biến cung cấp những tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài
tác giả nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Sách
chuyên khảo: "Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam",
của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do TS. Đào Trí Úc chủ biên,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995; Sách chuyên khảo: "Tội phạm kinh
tế thời mở cửa", do PGS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình
làm chủ biên, Nxb Công an nhân dân, năm 2003; Sách chuyên khảo sau đại
học: "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự", của PGS.TSKH. Lê
Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005; Sách chuyên khảo:

"Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam", do TS. Phạm Văn Lợi
chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2007…
Ngoài ra, các tài liệu liên quan đến luận văn còn là hệ thống giáo
trình, bình luận khoa học Bộ luật hình sự, các số chuyên đề như: Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam, của Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010; Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam, của Trung tâm đào tạo từ xa Đại học Huế, năm
2003; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội; Sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999", của
Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, năm 2008, do tập thể tác giả biên soạn; Sách "Bình luận khoa học Bộ
luật hình sự", do PGS.TS. Trần Minh Hưởng, Học viện Cảnh sát nhân dân

11
biên soạn, Nxb Hồng Đức, năm 2014; Sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình
sự" của ThS. Đinh Văn Quế, Tòa án nhân dân tối cao, phần các tội phạm, tập
VI, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bình luận chuyên sâu… Tất cả
các công trình trên đều có những chương, phần nghiên cứu lý luận về chính
sách hình sự, nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm cũng như các dấu hiệu pháp
lý, các yếu tố cấu thành cụ thể của tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ
có giá giả khác nói riêng.
Thứ hai, là các công trình nghiên cứu thể hiện qua các luận án tiến sĩ.
Một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài như: Luận án tiến sĩ của Bùi
Minh Thanh: "Vi phạm pháp luật và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay" (năm 2003); Luận án tiến sĩ
của Mai Thế Bày: "Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế" (năm 2006); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nam: "Trách nhiệm
hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Luật hình sự
Việt Nam" (năm 2007)… Những công trình này nghiên cứu các chính sách
hình sự nói chung hoặc nghiên cứu các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

dưới góc độ tội phạm học.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu thể hiện trên các bài viết, trên các
tạp chí chuyên ngành, hội nghị, hội thảo, các số chuyên đề. Đây là nguồn tài
liệu phong phú nhất. Những công trình nghiên cứu này chủ yếu được đăng
trên các tạp chí chuyên ngành pháp luật có uy tín như Tạp chí Tòa án nhân
dân, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, Tạp chí
Khoa học pháp lý, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Dân chủ pháp
luật… Nhìn chung, đây là những công trình nghiên cứu tội phạm cụ thể hoặc
nghiên cứu về trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với tội phạm nói chung
trong đó có tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có
giá giả khác.

12
Như vậy, hiện nay các công trình khoa học nghiên cứu về chính sách
hình sự nói chung, về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ
có giá giả khác khá nhiều. Tuy nhiên, quá trình thu thập, sưu tầm và nghiên
cứu tài liệu tác giả nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên
sâu về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả khác.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác dưới
khía cạnh lập pháp hình sự và thực tiễn trong công tác xét xử tại địa phương,
từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong
luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả
trong thực tiễn xét xử.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung
cơ bản sau:

- Lý luận cơ bản về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
giấy tờ có giá giả khác;
- Thực tiễn xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các
giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn ra như thế nào? Còn có
gì vướng mắc khi áp dụng luật, khi xét xử?
- Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác như thế nào?
- Giải pháp nào để tăng cường hiệu quả công tác xét xử tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác?
4. Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ

13
thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về tội làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác mà trong đó giải quyết nhiều vấn
đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong luật hình sự Việt
Nam. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong mối
tương quan so sánh với một số chế định tội danh khác;
- Nghiên cứu, đánh giá, làm sáng tỏ bức tranh về tình hình xét xử tội
phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó khái quát trên phạm vi cả nước; nêu được
những tồn tại, hạn chế của thực tiễn xét xử cũng như những nguyên nhân cơ
bản của các tồn tại, hạn chế đó;
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất
các định hướng hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả xét xử tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong giai

đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật,
các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp
hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ
cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công
tác tại các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự, đặc biệt là vụ án hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác được khách quan, đúng pháp luật.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn được triển khai nghiên cứu trên đối tượng là hành vi phạm
tội và người phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ
có giá giả khác.

14
- Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh chế
định tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá
giả khác trong luật hình sự Việt Nam mà cụ thể là trong Bộ luật hình sự năm
1999, kết hợp với việc nghiên cứu, đánh giá tình hình thực tiễn xét xử của
Tòa án nhân dân địa phương và những nguyên nhân, tồn tại, hạn chế để kiến
nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả trong
thực tiễn xét xử loại tội phạm này.
- Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm xét xử một
số nước trong khi nghiên cứu chế định tội phạm này.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn xét xử tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ trong năm năm (từ năm 2009 đến năm 2014).
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn:
Là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về

con người, về xây dựng Nhà nước và pháp luật, đấu tranh phòng chống tội
phạm; Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh chống tội phạm làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác cũng như
những thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như lịch sử pháp
luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự,
những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên
khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học pháp lý
chuyên ngành.
Các phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương
pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lịch sử so sánh, phân tích, tổng hợp,
thống kê, quy nạp và diễn dịch…

15
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn đấu tranh với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác tại tỉnh Phú Thọ và những kiến nghị,
đề xuất.



16
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC

TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI LÀM,
TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ
KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập (ngày
02 tháng 09 năm 1945) nước ta lúc bấy giờ chưa có Bộ luật hình sự. Tuy
nhiên, Nhà nước cũng quan tâm đến việc đấu tranh phòng chống các loại tội
phạm, nhằm ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo
vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản
của Nhân dân. Do hoàn cảnh lịch sử, nên nhiệm vụ trọng tâm lúc bấy giờ là
tập trung vào việc củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ vừa mới được
thành lập, nên việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm tuy được Nhà nước
quan tâm, nhưng chủ yếu ở các loại tội phạm xâm hại về an ninh chính trị và
các loại tội đặc biệt nghiêm trọng khác như: giết người, cướp của, hiếp dâm…
Văn bản quy định nhiều nhóm tội nhất trong đó có tội về kinh tế là
Sắc luật số 03 năm 1976 trong đó có các nhóm tội: các tội phản cách mạng;
các tội xâm phạm tài sản công cộng; các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm,
sức khỏe, tài sản riêng của công dân; các tội kinh tế; các tội chức vụ, hối lộ;
các tội xâm phạm trật tự an toàn công cộng. Các văn bản pháp luật quy định
trong lĩnh vực tội phạm kinh tế tiêu biểu phải kể đến là Pháp lệnh số
07/LCT/HĐNN7 của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 10/7/1982 trừng trị
các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Ngay ở lời nói
đầu, Pháp lệnh đã nêu rõ: "Để ngăn chặn các hành động vi phạm chính sách

17
quản lý thị trường, góp phần đẩy mạnh sản xuất, ổn định vật giá và bảo đảm
đời sống nhân dân; Pháp lệnh này quy định việc trừng trị các tội đầu cơ, buôn
lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép" [22]. Điều 1 quy định:

Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái
phép đều phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh. Nghiêm cấm
việc bao che người phạm tội. Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
và mọi công dân, khi thấy có hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng
giả, kinh doanh trái phép đều có quyền và nghĩa vụ phát hiện với
các cơ quan hoặc nhân viên Nhà nước có thẩm quyền để được ngăn
chặn và xử lý kịp thời [22].
Tuy có các quy định về tội kinh tế nhưng ở giai đoạn này không có
một quy định pháp luật nào quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác. Điều này xuất phát từ thực trạng nền
kinh tế của nước ta lúc đó là nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp. Nhà
nước lên kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế dẫn đến tình trạng kinh tế khủng
hoảng và xảy ra siêu lạm phát kéo dài từ năm 1985 đến hết năm 1988. Cả
nước dốc sức cho công cuộc khắc phục hậu quả của nền kinh tế khủng hoảng
nên các quy phạm pháp luật về kinh tế lúc này về cơ bản không có những thay
đổi so với giai đoạn trước.
1.1.2. Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ra đời, Bộ luật này không có quy định riêng về tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác mà quy định chung
tội này với tội làm tiền giả tại Điều 98: "1. Người nào làm, tàng trữ, lưu hành
tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền tệ thì bị phạt tù từ năm
năm đến mười năm; 2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị
phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình" [32]. Tội

18
làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền
tệ gây nên những hậu quả nghiêm trọng vì vậy được xếp vào Chương I, mục B,
các tội xâm phạm an ninh quốc gia và khung hình phạt cao nhất của tội này là

tử hình "2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt từ
mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình" [32].
Trong hơn mười năm có hiệu lực, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được
sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28/12/1989, ngày 12/08/1991, ngày
22/12/1992 và ngày 10/05/1997. Trong mỗi lần sửa đổi, bổ sung thì Bộ luật
hình sự đều có những thay đổi liên quan trực tiếp đến tội làm tiền giả, tội tàng
trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ được quy định ở Điều 98 Bộ luật
hình sự năm 1985. Trong lần sửa đổi thứ nhất vào ngày 28/12/1989, do đất
nước mới chuyển hướng nền kinh tế theo con đường kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa nên hướng sửa đổi chủ yếu tập trung vào các tội có
tính chất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng có ảnh hưởng lớn đến vận
mệnh quốc gia như tội đầu cơ, tội trốn thuế, tội buôn lậu, tội phạm về chức
vụ… Trong ba lần sửa đổi, bổ sung tiếp theo vào năm 1991, năm 1992 và
năm 1997, Bộ luật hình sự tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng hoàn
thiện hơn nữa các quy định pháp luật về phần chung và phần các tội phạm của
Bộ luật hình sự năm 1985. Đối với quy định về tội làm tiền giả, tội tàng trữ,
lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ thì cả bốn lần sửa đổi, bổ sung đều không
có sự thay đổi về điều luật mà chỉ có sự thay đổi về hình phạt bổ sung đối với
loại tội này. Cụ thể lần sửa đổi, bổ sung năm 1991 quy định: "Người nào phạm
một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ
ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng)" [34];
lần sửa đổi, bổ sung năm 1992 quy định: "Người nào phạm một trong các tội
quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm
nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu đồng (3.000.000 đồng)" [36]; lần sửa
đổi, bổ sung năm 1997 quy định:

19
2. Công dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A
hoặc một trong các tội quy định tại Điều 87, Điều 88, các Điều từ
Điều 94 đến Điều 99, thì bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một

năm đến năm năm. 3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại
Điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn
đồng đến ba triệu đồng; phạm tội quy định tại Điều 97, thì bị phạt tiền
đến mười lần trị giá hàng phạm pháp. 4- Người nào phạm một trong
các tội thuộc Mục A, thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;
phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, các điều từ Điều 94
đến Điều 98, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [37].
Như vậy, qua các lần sửa đổi, bổ sung thì người có hành vi phạm tội
làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ ngoài việc phải
chấp hành các hình phạt chính được quy định tại Điều 98 thì họ còn phải chịu
hình phạt bổ sung là phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng hoặc
có thể tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Những quy định mới này làm
cho Bộ luật hình sự ngày càng hoàn thiện hơn và thể hiện rõ được mục đích
của việc áp dụng chế tài pháp luật về kinh tế là nhằm thu hồi lại tiền hoặc tài
sản mà người phạm tội đã gây ra cho Nhà nước.
1.1.3. Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
Sau hơn mười năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1985, mặc dù đã tiến
hành sửa đổi, bổ sung bốn lần, nhưng trong tình hình mới, Bộ luật hình sự cũ
không còn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm khi mà
nước ta đã chuyển qua nền kinh tế nhiều thành phần. Chính vì vậy, ngày
21/12/1999, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, tại
kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự mới: Bộ luật hình sự năm 1999. Có
thể nói Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện toàn diện chính sách hình sự của
Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực từ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, trật tự quản lý kinh tế…đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo

20
cơ sở pháp lý cho đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng.
So với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Bộ luật hình sự năm 1999 có rất

nhiều quy định mới về tội phạm và hình phạt. Các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế liên quan đến an ninh quốc gia trước đây đã được quy định tại Chương I
(các tội xâm phạm an ninh quốc gia) thì nay quy định tại Chương XVI (các
tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế). Việc thay đổi tên chương không đơn
thuần chỉ là sự thay đổi về tên gọi, mà nó có ý nghĩa quan trọng về nội dung
và bản chất của các tội phạm trong chương này. Tội làm tiền giả, tội tàng trữ,
lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, trước đây được quy định tại Điều 98 Bộ
luật hình sự năm 1985, thì nay được tách thành hai tội khác nhau, quy định tại
Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả) và Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
các giấy tờ có giá giả khác).
Trong quy định của khoản 2, Điều 98, Bộ luật hình sự năm 1985 thì vì
tội làm séc giả được quy định chung với tội làm tiền giả nên hình phạt cao
nhất của tội chung này là tử hình. Nhưng sau khi được tách thành hai loại tội
và được quy định chuyên biệt ở Điều 180 và Điều 181, Bộ luật hình sự năm
1999 thì bị cáo phạm tội làm séc giả không còn phải chịu khung hình phạt cao
nhất là tử hình nữa. Quy định này của Bộ luật hình sự năm 1999 là hoàn toàn
đúng đắn vì "xét về tính chất trong mối tương quan với các tội phạm khác
trong Bộ luật hình sự thì đây là những tội phạm mà tính nguy hiểm cho xã hội
của chúng không thể so sánh được với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội
giết người hoặc một số tội phạm khác. Hơn nữa, suy cho cùng thì người phạm
tội khi thực hiện những tội phạm này thường vì động cơ tư lợi vì mục đích
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chế độ sở hữu…(những quan hệ xã hội bị
gây thiệt hại có hậu quả có thể khắc phục được) do đó không cần quy định
hình phạt tử hình với tội này [8, tr. 76-23].

21
Sở dĩ Nhà nước phải sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1985 và ban hành
quy định mới về tội phạm này do kỹ thuật lập pháp thể hiện tại Điều 98 Bộ
luật hình sự năm 1985 bộc lộ những hạn chế cần phải khắc phục:

Thứ nhất, khách thể của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả,
tội phá hủy tiền tệ là chế độ quản lý nhà nước về sản xuất, lưu thông tiền tệ.
Chế độ quản lý nhà nước về việc phát hành, tàng trữ, lưu thông, thu hồi và
thay thế tiền tệ là bộ phận của chế độ quản lý nhà nước về kinh tế. Như vậy,
khách thể loại của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy
tiền tệ là trật tự quản lý kinh tế chứ không phải là an ninh quốc gia. Do vậy,
việc quy định Điều 98 về tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá
hủy tiền tệ tại chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia là không phù hợp.
Thứ hai, đối tượng của tội phạm được quy định ở tên tội danh chỉ là
tiền gồm: tiền giả và tiền thật, nhưng đối tượng của tội phạm được liệt kê ở
nội dung của điều luật lại bao gồm cả séc giả, phiếu công trái giả. Như vậy, ở
đây thiếu đi sự thống nhất giữa tên tội danh và nội dung của điều luật.
Thứ ba, hành vi phá hủy tiền tệ là hành vi tự gây thiệt hại cho người
có hành vi phá hủy. Do vậy, việc Bộ luật hình sự năm 1985 quy định hành vi
tự gây thiệt hại cho bản thân mà không gây thiệt hại cho xã hội là tội phạm là
không cần thiết. Bởi vì nếu phá hủy tiền tệ của người khác thì đã bị xử lý theo
quy định tại Điều 138 hoặc Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1985 về tội hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công
dân. Nếu chiếm đoạt trái phép tiền của người khác rồi mới có hành vi phá hủy
tiền tệ thì bị xử lý về tội chiếm đoạt tương ứng (tham ô, trộm cắp, cướp, công
nhiên chiếm đoạt…). Tiền cũng là một loại tài sản trong giao lưu dân sự. Vì
vậy, trong phạm vi quyền của chủ sở hữu đối với một số tiền nhất định thuộc
quyền sở hữu của mình thì hành vi phá hủy tiền tệ cũng chỉ phản ánh tính chất
quyền định đoạt của chủ sở hữu với tài sản của mình mà thôi. Cho nên, nếu
phá hủy tiền của mình (thuộc quyền sở hữu của mình) thì không thể là tội phạm.

22
Thứ tư, cùng một đối tượng là tiền giả nhưng Bộ luật hình sự năm
1985 lại quy định hai tội là: tội làm tiền giả và tội tàng trữ, lưu hành tiền giả.
Do vậy, một người thực hiện tội phạm có ba hành vi làm, tàng trữ, lưu hành

tiền giả thì khi xét xử tòa án phải xử họ hai tội và tổng hợp hình phạt theo quy
định tại Điều 41 Bộ luật hình sự. Trong khi đó tại các điều 95, 96, 96a Bộ luật
hình sự năm 1985 thì lại chỉ quy định là một tội với nhiều hành vi là chế tạo,
tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép, chiếm đoạt một đối tượng. Điều này
không đảm bảo sự công bằng trong chính sách hình sự xét trên phương diện
hoạt động lập pháp. Hơn nữa, khung hình phạt được quy định tại khoản 1
Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1985 là từ năm năm đến mười lăm năm. Điều
này có nghĩa là nếu một người thực hiện hai trong số ba hành vi nêu trên nếu
không được áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt dưới mức thấp
nhất mà điều luật quy định thì tối thiểu cũng bị phạt tới mười năm tù (tổng
hợp hai tội phạm mỗi tội năm năm tù). Trong khi thực tiễn xét xử các tội
phạm quy định tại Điều 95, 96 Bộ luật hình sự năm 1985 cho thấy nếu chỉ
thực hiện hai trong số năm hành vi đối với một đơn vị đối tượng thì cũng chỉ
bị xử phạt tối đa là ba năm tù.
Để khắc phục những hạn chế trên thì Điều 98 Bộ luật hình sự năm
1985 được chuyển thành các Điều 180 và 181 Bộ luật hình sự năm 1999 và
đặt ở chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Đồng thời Bộ luật hình
sự năm 1999 không quy định tội phá hủy tiền tệ là tội phạm. Khi Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời năm 2009 thì Điều
180 và Điều 181 được giữ nguyên không có sự sửa đổi bổ sung nào.
1.2. NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
1.2.1. Khái niệm séc, các giấy tờ có giá khác
Séc (Cheque) là phương tiện thanh toán quen thuộc và phổ biến ở phần
lớn các quốc gia trên thế giới. Theo Công ước Geneve 1930, séc được định nghĩa
là "mệnh lệnh trả tiền vô điệu kiện do một chủ tài khoản mở tại ngân hàng ra

23
lệnh cho ngân hàng (nơi mở tài khoản) trích một số tiền nhất định từ tài khoản
của mình mở ở ngân hàng này trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ
định trên tờ séc". Theo Từ điển Tiếng Việt thì "séc" là lệnh viết của chủ tài

khoản để ngân hàng trích tài khoản chi trả cho người nào đó [30, tr. 1059].
Theo Luật các Công cụ chuyển nhượng Việt Nam năm 2005 thì
"Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là
ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản cung ứng
của mình để thanh toán cho người thụ hưởng" [43].
Như vậy, một cách khách quan, séc là một lệnh vô điều kiện của người
chủ tài khoản mở tại ngân hàng yêu cầu ngân hàng trích từ tài khoản của mình
một số tiền nhất định để trả cho người hưởng lợi séc hoặc cho người cầm séc.
Séc được sử dụng thay thế tiền làm chức năng thanh toán và lưu thông.
Séc bắt đầu được sử dụng phổ biến trên thế giới từ thế kỷ 18, khi mà
hệ thống ngân hàng phát triển mạnh dưới dạng tờ lệnh chi tiền. Năm 1912,
cùng với hối phiếu, séc cũng được đem ra thảo luận tại Hội nghị quốc tế ở
Haag, nhưng do chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra làm gián đoạn sự phê
chuẩn Luật séc quốc tế. Mãi tới năm 1931 Hội nghị quốc tế về séc tại Geneve
đã được ba mươi nước thông qua luật thống nhất về séc quốc tế (Uniform
Law on Cheque - ULC 1931).
Ở Việt Nam, do tình hình kinh tế chưa mấy phát triển nên tình trạng
sử dụng séc chưa phổ biến như tiền. Tại các ngân hàng thương mại, hình thức
thanh toán bằng séc chiếm tỉ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán
giữa các doanh nghiệp với nhau, còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá
nhân, giữa cá nhân với cá nhân rất hiếm khi xảy ra.
Nguyên nhân của thực trạng này trước tiên là do Việt Nam có nền
kinh tế chưa phát triển. Bên cạnh đó, chính sách pháp luật về séc chưa hoàn
chỉnh cũng ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ giao dịch bằng séc trong quá trình thanh

24
toán. Cụ thể, hiện nay ở nước ta chưa có quy định về hạn mức phải thanh toán
bằng séc mà chỉ "động viên" dùng séc. Trong thanh toán nếu người mua và
người bán có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi người bán đến ngân

hàng để nộp séc ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản của người bán và ghi nợ
trên tài khoản của người mua. Còn nếu người mua và người bán không cùng
hệ thống ngân hàng thì buộc các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ
thống thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước. Việc kiểm tra séc ở ngân
hàng nhà nước chủ yếu vẫn là hoạt động thủ công cho nên nếu ngân hàng phát
hành vài chục nghìn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ đương nhiên
gặp nhiều khó khăn. Về phía người bán rất lo ngại tài khoản của người mua
không có tiền hoặc bị séc giả nên có tâm lý ngại giao dịch bằng séc.
Như vậy, có thể hiểu séc là văn bản thể hiện mệnh lệnh trả tiền vô
điệu kiện do một chủ tài khoản mở tại ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng (nơi
mở tài khoản) trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình mở ở ngân
hàng này trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên tờ séc.
Giấy tờ có giá là loại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay
đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng khác.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì "giấy tờ" là giấy mang một nội dung và có
giá trị nhất định [30, tr. 499]; "giá" là biểu hiện giá trị bằng tiền [30, tr. 482].
Như vậy, theo cách luận giải về nghĩa của thuật ngữ "giấy tờ" và "giá" của Từ
điển Tiếng Việt thì giấy tờ có giá được hiểu là loại giấy tờ mang một nội dung
và có giá trị bằng một khoản tiền nhất định.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao
gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác
(Điều 1, Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005); trái phiếu chính phủ,
trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu (điểm c, khoản 1, Điều 4, Pháp lệnh
ngoại hối năm 2005); tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ
khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ (điểm 16, Điều 3, Luật quản lý nợ công

25
năm 2009); các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,
quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, nhóm
chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán, hợp đồng góp vốn đầu tư, các loại

chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định tại điểm 3, Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật chứng khoán 2010; trái phiếu doanh nghiệp (Điều 2,
Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp).
Cần phân biệt giấy tờ có giá với tiền - một loại tài sản khác theo quy
định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005.
Tiền là một loại tài sản riêng biệt, nó thực hiện ba chức năng chính là
công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản, là công cụ đánh giá
các loại tài sản khác. Còn giấy tờ có giá gồm nhiều loại, mỗi loại có một chức
năng khác nhau. Có loại là công cụ thanh toán nhưng không bao giờ là công
cụ thanh toán đa năng, có loại là công cụ đầu tư nhưng nó không bao giờ là
công cụ tích lũy theo nghĩa rộng, vì giá trị của nó không phải là vô thời hạn và
nó cũng không phải là công cụ để định giá các loại tài sản khác như tiền.
Nếu như giấy tờ có giá được phát hành bởi một số chủ thể có thể là
Nhà nước, có thể là một số chủ thể khác do pháp luật quy định, thì việc phát
hành tiền được coi là một trong những biểu hiện cụ thể của chủ quyền quốc
gia và chỉ do Ngân hàng nhà nước phát hành. Việc phát hành giấy tờ có giá là
biểu hiện của quan hệ tín dụng thương mại. Tiền được sử dụng để đầu tư kinh
doanh hoặc để tiêu dùng, còn giấy tờ có giá không bao giờ được sử dụng
trong hành vi tiêu dùng trong giao lưu dân sự thông thường.
Trong thực tế xét xử, nhiều trường hợp, người dân nhầm lẫn các loại
giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng với giấy tờ có giá. Họ có yêu
cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến các loại giấy tờ này. Tuy
nhiên, ta phải xác định rõ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản như giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng
ký xe máy, mô tô, ô tô… không phải là giấy tờ có giá quy định tại Điều 163

×