Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc đổi mới giáo dục và đào tạo ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (580.43 KB, 77 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ GIANG

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN
DIỆN VÀO VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ HỒNG LOAN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Em xin bày tỏ lời cảm ơn
chân thành nhất tới TS. Trần Thị Hồng Loan- người cô đã tận tình hướng
dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính trị đã
giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua.
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên đã góp ý và ủng hộ tôi hoàn thành
khóa luận này.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý
của quý thầy cô và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn.


Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Ngƣời thực hiện

Nguyễn Thị Giang


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn
củaTS. Trần Thị Hồng Loan.
Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Ngƣời thực hiện

Nguyễn Thị Giang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG ..................................... 5
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm toàn
diện .................................................................................................................... 5
1.2. Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay ...... 18
1.3. Nội dung sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc đổi mới giáo dục và
đào tạo ............................................................................................................. 26
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở NƢỚC TA
HIỆN NAY ..................................................................................................... 35
2.1. Những thành tựu của giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và nguyên nhân của
những thành tựu đó ......................................................................................... 35

2.2. Những hạn chế trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và nguyên nhân
của hạn chế đó ................................................................................................. 43
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐỔI MỚI GIÁO
DỤCVÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN
DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ............................................................. 53
3.1. Những định hướng chung ........................................................................ 53
3.2. Một số giải pháp đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay trên
cơ sở vận dụng quan điểm toàn diện ............................................................... 54
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
“… Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thế nước
mạnh và đi lên, nguyên khí suy thế nước yếu và đi xuống. Vì thế thánh đế
minh vương không ai không coi việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun
trồng nguyên khí là công việc hàng đầu”
(Trích văn bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3(1442)).
Ngay từ thời xa xưa, nền giáo dục đã được các nhà vua, chính quyền
hết sức quan tâm, chăm sóc và đã được đúc kết qua nhiều câu thơ, câu văn
mang tầm thời đại.
Đối với bất kì quốc gia nào và ở bất kì thời đại nào thì vấn đề tri thức
luôn là một vấn đề quan trọng, tri thức được coi là phương tiện để con người
nhận thức, khám phá và cải tạo thế giới, song tri thức không phải tự nhiên mà
có được, ngược lại đó là kết quả của một quá trình gian khổ học tập, trau dồi
kiến thức, và kỹ năng.
Năm 1945, trong bức thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường,
Bác Hồ cũng đã nhấn mạnh rằng: “…Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp
hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang để sánh vai với các

cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học
tập của các em…” [16; 86].
Qua đây, chúng ta có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt rất nhiều
niềm tin, hy vọng vào thế hệ trẻ, hy vọng vào sự nghiệp giáo dụcnước nhà.
Sự nghiệp giáo dục của Việt Nam trong những năm vừa qua đã đạt được
những thành tựu đáng tự hào, góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển như
vũ bão, đã tạo điều kiện nâng cao đời sống của nhân dân và sự phát triển của

1


giáo dục và đào tạo. Nền giáo dục và đào tạo ở nước ta trong những năm vừa
qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại bất cập
về nhiều mặt như: chạy theo bằng cấp, làm bằng giả…và nhiều vấn đề khác.
Một vấn đề đặt ra là cần phải đổi mới giáo dục và đào tạo đề khắc phục những
hạn chế trên.
Có thể khẳng định, từ những đổi mới đó, giáo dục và đào tạo nước ta đã
có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, nhìn một cách toàn
diện, giáo dục và đào tạo Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập mà ngay
một lúc không thể giải quyết được.
Với những lí do trên, em đã chọn vấn đề: “Sự vận dụng quan điểm
toàn diện vào việc đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay”làm
đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể nói, bài toán nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo một cách
toàn diện là đề tài “nóng” làm lao tâm khổ tứ của rất nhiều nhà quản lý giáo
dục cũng như những người luôn trăn trở cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
nước nhà. Bởi thế, vấn đề xoay quanh chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào
tạo có rất nhiều tác giả, rất nhiều bài báo,nhiều tạp chí nghiên cứu dưới những

góc độ khác nhau.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có nhiều bài viết, bài nói bàn
về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo như tác phẩm “Về vấn đề
giáo dục”và những cây đại thụ trong làng giáo dục Việt Nam hiện đại như:
Giáo sư Văn Như Cương với bài nói trong báo Giáo dục và Thời đại,
chủ nhật số 20 năm 2008: “Giáo dục không thế phá đi rồi xây lại”.
Giáo sư Hoàng Tụy với bài viết: “Cải cách và chấn hưng giáo dục”
Hàng loạt tạp chí, các sách báo nghiên cứu về giáo dục và đào tạo Việt
Nam nói chung cũng như đề ra các giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo
2


như báo: giáo dục và thời đại, lí luận dạy học, tạp chí cộng sản….Đó là
những nguồn tư liệu quý báu cho bài khóa luận có thêm cơ sở vững chắc. Một
số công trình tiêu biểu như:
-50 năm phát triển giáo dục và đào tạo (1945-1995) của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.
- Giáo sư Hoàng Tụy với bài viết: “Một số ý kiến về tình hình giáo dục
hiện nay” (phát triển giáo dục, 1/1997).
Nhìn tổng quát, các công trình nói trên, ở những phương diện và mức
độ khác nhau, đã có những đóng góp nhất định vào việc phát triển giáo dục và
đào tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên, qua khảo sát tình hình nghiên cứu, tôi thấy
rằng, vấn đề đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay là một trong
những vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, phân tích
sâu sắc, toàn diện, có hệ thống, để từ đó có thể vận dụng một cách hiệu quả
vấn đề này vào thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của khóa luận nhằm làm rõ sự vận dụng quan điểm toàn diện
vào việc đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam; từ đó, đưa ra một số giải

pháp nhằm đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở vận
dụng quan điểm toàn diện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
-Tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung về quan điểm toàn diện và nội
dung của sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc đổi mới giáo dục và đào
tạo.
- Xem xét thực trạng giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo nhằm xây
3


dựng một nền giáo dục mới ở Việt Nam trên cơ sở vận dụng quan điểm toàn
diện.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là: quan điểm toàn diện trong
triết học Mác - Lênin và vận dụng quan điểm đó vào sự nghiệp đổi mới giáo
dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đềtài
Trong khóa luận này chúng ta chỉ đi sâu tìm hiểu về nền giáo dục Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay và sự vận dụng quan điểm toàn diện vào sự
nghiệp phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Hướng tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài xuất phát từ quan điểm
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, để đánh giá
thực trạng của giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số phương pháp chuyên
ngành như:
-Phương pháp logic, lịch sử.

- Phương pháp lịch sử - cụ thể.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa….
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài chỉ rõ tính khoa học của quan điểm toàn diện và vận dụng quan
điểm đó vào sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay. Chỉ
ra thực trạng của nền giáo dục Việt Nam và đóng góp một số giải pháp cơ bản
nhằm góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương và 7 tiết.
4


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm
toàn diện
1.1.1. Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
*) Khái quát về phép biện chứng duy vật:
Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng: “phép biện chứng
chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động
và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ phổ biến đối với sự
vật, hiện tượng khác. Phép biện chứng được manh nha từ thời cổ đại và từng
bước hoàn thiện trong quá trình phát triển của lịch sử triết học, phép biện
chứng có ba hình thức cơ bản là: phép biện chứng chất phác, phép biện chứng
duy tâm và phép biện chứng duy vật.
Thời cổ đại, trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển
nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan
cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới. Phép biện chứng chất phác
thể hiện rõ rệt trong “thuyết Âm - Dương”, “thuyết Ngũ hành” của triết học

Trung Hoa cổ đại, trong các hệ thống triết học của các nhà triết học Hy Lạp cổ
đại. Song phép biện chứng này thiếu những căn cứ khoa học vì vậy nó đã bị
phép siêu hình xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XV thay thế.
Phép biện chứng trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết học
Hêghen - một đại biểu của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế
kỷ XIX. Với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản, Hêghen là
người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm. Tính chất duy
tâm trong phép biện chứng của Hêghen thể hiện ở chỗ: ông coi “ý niệm tuyệt
5


đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về với chính mình
trong tinh thần. Thực chất phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen
là phép biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật. Phép biện
chứng cổ điển Đức có những đóng góp to lớn vào sự phát triển tư duy biện
chứng của nhân loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao nhưng
với hạn chế duy tâm nó chưa thể trở thành cơ sở lý luận cho một thế giới quan
khoa học
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước đó,
dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học thời ấy và
thực tiễn lịch sử loài người cũng như thực tiễn xã hội vào giữa thế kỷ XIX,
C.Mác và Ăngghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện
chứng duy vật, Mác và Ăngghen đã tiếp thu có phê phán triết học Hêghen và
chủ nghĩa duy vật Phơbách. Đối với Hêghen, trong tác phẩm Bộ tư bản, Mác
đã viết: “… Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất, chỉ cần
dựng nó lại thì sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái
vỏ thần bí của nó” [13; 34 ].
Mác đã tiếp thu có chọn lọc triết học cũ và phát triển cao hơn do vậy
bản chất phép biện chứng của Mác cao hơn về bản chất so với phép biện
chứng của Hêghen, ông nói: “Phương pháp biện chứng của tôi không những

khác phương pháp biện chứng của Hêghen về cơ bản, mà nó còn đối lập hẳn
với phương pháp ấy nữa. Theo Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt
cho cái tên là ý niệm và biến nó thành một chủ thể độc lập, chính là chúa
sáng tạo ra giới hiện thực và giới hiện thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng
bên ngoài của ý niệm mà thôi. Trái lại, theo tôi thì sự vận động của tư duy là
sự phản ánh sự vận động hiện thực,di chuyển và biến hình trong đầu óc con
người” [ 13; 27]. Nhờ đó, mà chủ nghĩa Mác mang giá trị to lớn đó là tính
phê phán đối với mọi quan điểm sai lầm, những quan điểm siêu hình, chủ
6


trương phản động. Một trong những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác là Đuyrinh Giáo sư môn cơ học người Đức, nhà triết học và kinh tế học. Ăngghen đã
phản đối và kịch liệt phê phán quan niệm của Đuyrinh trong cuốn sách :
“Chống Đuyrinh” chính trong tác phẩm này Ăngghen đã đưa ra định nghĩa
hoàn chỉnh về phép biện chứng “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa
học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên,
của xã hội và của tư duy” [1;29]
Sau này, cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ XX Lênin dã phát triển thêm
học thuyết của Mác - Ăngghen về phép biện chứng và chỉ rõ : “Có thể định
nghĩa vắn tắt phép biện chứng là sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế
người ta sẽ nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi
phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” [11; 240]
Như vậy, đến Mác, Ăngghen, Lênin thế giới quan duy vật biện chứng
và phương pháp luận duy vật biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau trong
phép biện chứng ấy. Chính vì vậy nó đã khắc phục được những hạn chế của
phép biện chứng chất phác thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện
chứng duy tấm khách quan thời cận đại. Nó đã khái quát những quy luật cơ
bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới. Phép biện chứng
duy vât trở thành một khoa học và là hình thức phát triển cao nhất, hoàn bị
nhất trong lịch sử phép biện chứng.

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những
nguyên lý (nguyên lý về sự phát triển; nguyên lý về mối liên hê phổ biến),
những phạm trù cơ bản (6 cặp phạm trù: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất;
nguyên nhân và kết quả; bản chất và hiện tượng;tất nhiên và ngẫu nhiên; nội
dung và hình thức; khả năng và hiện thực), những quy luật (quy luật chuyển
hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược
lại; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật phủ định
7


của phủ định). Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến về
nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất trong phép biện
chứng duy vật. Tuy nhiên trong phạm vi bài khóa luận này chúng ta sẽ đi sâu
tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
1.1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
*) Khái niệm về mối liên hệ phổ biến:
Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi được đặt ra là:
Thứ nhất: các sự vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế
giới có mối quan hệ tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại
biệt lập, tách rời nhau?
Để trả lời cho câu hỏi này có nhiều quan điểm khác nhau. Những người
theo quan điểm siêu hìnhcho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách
rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc,
không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định
chỉ là sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là sự quy định bề ngoài mang tính
ngẫu nhiên. Tuy vậy trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có
một số người cho rằng các sự vật, hiện tượng có mối quan hệ rất đa dạng,
phong phú song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển
hóa lẫn nhau. Chẳng hạn: “Giới vô cơ và giới hữu cơ không có liên hệ gì với
nhau, tồn tại độc lập, không thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn giản của những

con người riêng lẻ tạo thành xã hội đứng yên không vận động” [3; 208].
Ngược lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng: các sự
vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác
động qua lại. Chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ như vấn đề bảo vệ môi trường
không chỉ là việc làm của một quốc gia mà đó là việc làm chung của toàn
nhân loại vì tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay gây ảnh hưởng đến tất cả
mọi người.
8


Thứ hai: nếu chúng có mối quan hệ qua lại thì cái gì quy định mối quan
hệ đó?
Những người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm
khách quan cho rằng: cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau,
giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu nhiên hay ở ý thức, cảm giác
của con người. Đứng trên quan điểm duy tâm khách quan chỉ ra rằng “Ý niệm
tuyệt đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng.
Những người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng
định: tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giứa các sự
vật hiện tượng. Các sự vât hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng,
phong phú, có khác nhau bao nhiêu song chúng cũng chỉ khác nhau của một
thế giới duy nhất, thống nhất - thế giới vật chất. Do tính thống nhất nên chúng
không thể tồn tại biệt lập nhau mà trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn
nhau. Chẳng hạn: “Giới vô cơ và giới hữu cơ không có mối liên hệ gì với
nhau, tồn tại độc lập, không thâm nhập lẫn nhau, tổng số đơn giản của những
con người riêng lẻ tạo thành những quan hệ xác định”.Trên cơ sở đó, triết
học duy vật biện chứng khẳng định: mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để
chịu sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới biểu hiện sự tồn tại của mình

thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác
động của chúng với sự vật, hiện tượng khác. Chúng chỉ có thể đánh giá sự tồn
tại cũng như bản chất của một con người cụ thể thông qua mối liên hệ, sự tác
động của người này đối với người khác, đối với xã hội, tự nhiên thông qua
hoạt động của chính mình. Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi
chúng được con người vận dụng vào hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã
hội, cải biến chính con người.
9


Theo quan điểm duy vật biện chứng mối liên hệ có các tính chất:
Có thể khẳng định: mối liên hệ của sự vật, hiện tượng là khách quan
vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới. Biểu hiện
trong tất cả quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy, sự vật hiện tượng nào cũng là
một thể thống nhất của các mặt đối lập và sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại
trong mối liên hệ với các sự vật khác. Ngay cả những sự vật vô tri, vô giác
cũng đang hàng ngày hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng
khác, con người có thể tiếp nhận sự tác động của xã hội, của người khác.
*) Các tính chất của mối liên hệ
Mọi mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng đều bao gồm các tính chất:
- Tính khách quan:
Có thể khẳng định, mối liên hê của các sự vật, hiện tượng là khách
quan, vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới. Biểu
hiện trong tất cả các quá trình: tự nhiên, xã hội, tư duy. Sự vật, hiện tượng
nào cũng là một thể thống nhất của các mặt đối lập và sự vật, hiện tượng nào
cũng tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Ngay cả
những vật vô tri,vô giác cũng đang hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của
các sự vật, hiện tượng khác như:ánh sáng, nhiệt độ… đôi khi cũng chịu sự
tác động của con người. Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong
tự nhiên, dù muốn hay không cũng luôn luôn bị tác động bởi các sự vật, hiện

tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân. Không chỉ chịu sự tác
động của tự nhiên như các sự vật khác, con người còn tiếp nhận sự tác động
của xã hội, của những người khác. Chính con người và chỉ có con người mới
tiếp nhận vô vàn quan hệ, mối liên hệ chằng chịt. Vấn đề là con người phải
hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình giải quyết
các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của xã hội và bản
thân con người.
10


- Tính phổ biến.
Không chỉ mang tính khách quan, mối liên hệ còn mang tính phổ biến.
Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
Thứ nhất: bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật,
hiện tượng khác, không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.
Trong thời đại ngày nay, không có một quốc gia nào không có quan hệ, không
có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội. Chính vì thế,
hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa
mọi mặt đời sống xã hội. Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu
như: đói nghèo, bệnh tật, chất lượng giáo dục….
Thứ hai: mọi liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể
tùy theo điều kiện nhất định. Song dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là
biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất. Những hình thức liên hệ
riêng rẽ, cụ thể được các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu. Phép biện chứng
duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất,bao quát nhất của thế
giới. Bởi thế, Ph.Ăngghen đã viết: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên
hệ phổ biến” [1; 455]. Cùng với những lý do trên, triết học gọi mối liên hệ đó
là mối liên hệ phổ biến. Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện
tượng trong thế giới còn thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ của nó.
Trái lại những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng: các sự

vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác
động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau. Chẳng hạn, tình trạng mỗi trường ngày
càng ô nhiễm nặng nề đã tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người, ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hay sự gia tăng về dân
số sẽ tác động trực tiếp đến những vấn đề như: giáo dục, y tế, xã hội, kinh
tế… không chỉ của một nước mà nó còn tác động đến tất cả các nước trên thế

11


giới, hơn nữa hoạt động của chính con người cũng tác động to lớn đến sự biến
đổi của môi trường.
- Tính đa dạng:
Có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng đó thành từng loại tùy theo
tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay
sâu,vai trò trực tiếp hay gián tiếp mà có thể khái quát thành những mối liên hệ
khác nhau. Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác
nhau theo từng cặp: mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên
hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không
bản chất. Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển
của bản thân sự vật và hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ. Các
mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng trên thế giới được khái quát trong
các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng:
+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng.
+ Mối liên hệ giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên.
+ Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
+ Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng.
+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức.
+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực.
Mỗi loại mối liên hệ nêu trên đều có vai trò khác nhau đối với sự vận

động và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự
quy định chuyển hóa lẫn nhau, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của
một sự vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là
các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có quan hệ biện chứng giống như mối
liên hệ biện chứng của các cặp mối liên hệ đã nêu trên. Mối liên hệ này nói
chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển

12


của sự vật, hiện tượng. Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới
có thể tác động đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng. .
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối. Vì mỗi loại
mối liên hệ chỉ là một hình thứ, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ.
Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể nghiên cứu chuyển hóa lẫn nhau
tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên sự phân chia đó lại rất cần thiết bởi vì
mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn, khi xem xét bốn lĩnh vực như đức,
trí, thể , mỹ là những lĩnh vực khác nhau thì mối liên hệ qua lại giữa chúng
với nhau là mối liên hệ bên ngoài. Nhưng nếu chúng ta coi chúng là bốn lĩnh
vực cơ bản của công tác giáo dục trong nhà trường nhằm hình thành và phát
triển cho người học nhân cách, đạo đức, xây dựng con người mới thì những
mối liên hệ giữa chúng với nhau lại trở thành mối liên hệ bên trong. Con
người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp,
nhằm đưa ra kết quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.
Tuy sự phân chia thành các mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối
nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, vì mỗi loại mối liên hệ lại có những
vị trí và vai trò khác nhau trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện
tượng. Con người phải biết nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có những cách

tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong các hoạt động của bản
thân mình.
Các mối liên hệ rất đa dạng, phong phú. Do đó, khi nhận thức về sự vật,
hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh rơi vào quan điểm
phiến diện chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một vài mối liên hệ đã vội vàng
kết luận về bản chất hay tính quy luật của chúng.

13


Như vậy, có thể khẳng định rằng bất kì sự vật, hiện tượng nào trong thế
giới cũng luôn tồn tại trong mối liên hệ mật thiết với các sự vật, hiện tượng
khác. Do đó, muốn tìm hiểu về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải
đặt nó trong mối liên hệ, quan hệ với xung quanh, nghĩa là phải xem xét một
cách toàn diện, đó chính là nguyên tắc, phương pháp luận rút ra từ nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến
1.1.3. Những nguyên tắc, phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến
1.1.3.1. Quan điểm toàn diện
Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy
vật, người ta rút ra quan điểm toàn diện:
Như đã tìm hiểu ở trên, vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới
đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vạt, hiện tượng khác và mối liên hệ rất
đa dạng, phong phú. Do đó, khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải
có quan điểm toàn diên, tránh rơi vào quan điểm phiến diện chỉ xem xét sự
vật, hiện tượng ở một vài mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay
tính quy luạt của chúng. Chẳng hạn khi tìm hiểu nguyên nhân vì sao một học
sinh học kém trước hết phải xem xét khả năng nhận thức của học sinh, tiếp
đến là phương pháp học, điều kiện học tập…có như vậy mới mong tìm ra
nguyên nhân khắc phục tình trạng học kém cho học sinh đó.

Mối liên hệ biểu hiện dưới nhiều hình thức riêng biệt cụ thể tùy theo
những điều kiện nhất định. Song dù dưới hình thức nào thì cũng chỉ là biểu
hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất những hình thức liên hệ riêng
rẽ, cụ thể được các nhà khoa học nghiên cứu phép biện chứng duy vật. Những
mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới được Ăngghen viết: “Phép
biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”. Mặt khác, triết học gọi mối
liên hệ đó là mối liên hệ phổ biến. Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của
14


các sự vật, hiện tượng trong thế giới cần nhận thức rõ về tính đa dạng, nhiều
vẻ của nó.
Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận
thức và thực tiễn, quan điểm toàn ra đặt ra các yêu cầu cụ thể như sau:
Một là: Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật, hiện
tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các mặt của
chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật
khác. Cần tránh quan điểm phiến diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một
hay một vài mối liên hệ đã vội vàng đi đến kết luận về bản chất sự vật, như
Lênin từng nói: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần nhìn bao quát và nghiên
cứu tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”[11; 26]. Chỉ
trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
Hai là: quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng
mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất,
mối liên hệ chủ yếu … để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác
động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân
mình. Chúng ta phải xem xét thấu đáo và phân biệt từng mối liên hệ, trách
cách xem xét lan man, liệt kê dẫn đến sự đánh đồng ngang nhau những thuộc
tính, những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng khác nhau được
thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó, cần phải đi từ tri thức nhiều,

từ nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để khái quát và làm nổi bật nên cái
cơ bản nhất,quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng đó. Trong nhận thức và
hoạt động, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối
liên hệ ở những điều kiện xác định. Trong mối quan hệ giữa con người với
con người chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù hợp.
Ba là: quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi tránh rơi vào sai lầm của chủ
nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện. Thực chất chủ nghĩa chiết trung là sự kết
15


hợp vô nguyên tắc của các mối liên hệ tạo nên một hình ảnh không đúng về
sự vật, hiện tượng. Thực chất của thuật ngụy biện là sự “đánh tráo” có dụng ý,
biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, biến cái không bản chất thành cái bản
chất… hoặc ngược lại, phản ánh sai lệch, xuyên tạc sự vật, hiện tượng. Do đó,
trong hoạt động thực tiễn, theo quan điểm toàn diện khi tác động vào sự vật
chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn
phải chú ý tới mối liên hệ của những sự vật, hiện tượng khác. Đồng thời,
chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau
để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho các hoạt động của bản thân.
Thực hiện tốt những yêu cầu trên quan điểm toàn diện giúp chúng ta có
cái nhìn sâu sắc và thấu đáo tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng. Song
không chỉ dừng lại ở quan điểm toàn diện, khi nghiên cứu về mối liên hệ phổ
biến của phép biện chứng duy vật, đi liền với quan điểm toàn diện còn là
nguyên tắc lịch sử - cụ thể.
1.1.3.2. Quan điểm lịch sử - cụ thể
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể có nghĩa là trong những điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể khác nhau thì mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cũng khác
nhau.
Bản thân nguyên tắc lịch sử - lịch sử đòi hỏi chúng ta trước hết phải
xem xét phương pháp tư duy có tính lịch sử. Những phương pháp cơ bản của

tư duy biện chứng là kết quả của quá trình lịch sử nhận thức, lịch sử tư duy,
đã thế hiện ở việc con người đi sâu nhận thức thế giới và vận dụng phép biện
chứng vào quá trình tư duy của con người. Phương pháp tư duy là sản phẩm
của thời đại lịch sử nó được hình thành và phát triển trong những điều kiện
lịch sử nhất định. Khoa học về tư duy cũng như các khoa học khác là khoa
học về sự phát triển lịch sử của tư duy. Phương pháp tư duy của con người đã
trải qua một quá trình phát sinh và phát triển, trải qua một quá trình từ thấp
16


đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Có thể phân chia sự phát triển phương
pháp tư duy của con người thành bốn giai đoạn sau:
Phương pháp tư duy nguyên thủy.
Phương pháp biện chứng chất phác thời cổ đại.
Phương pháp tư duy cận đại.
Phương pháp biện chứng hiện đại.
Những phương pháp đó, tạo thành một hệ thống phương pháp dựa vào
nhau và phân biệt với nhau. Tính lịch sử, tính thời đại của phương pháp tư
duy của con người chứng tỏ không có tư duy lý luận vĩnh hằng, không có
phương pháp tư duy cứng nhắc không thay đổi. Trong lịch sử nhận thức, lịch
sử tư duy của con người phương pháp tư duy mới được hình thành trên cơ sở
khắc phục những mâu thuẫn của phương pháp tư duy cũ.
Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi:
Thứ nhất: khi phân tích, xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong
điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem những
điều kiện không gian ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất, đặc điểm
của sự vật, hiện tượng.
Thứ hai, khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào đó
cần phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận đó.
Thứ ba, khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến

điều kiện cụ thể của nơi được vận dụng, điều kiện này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả của sự vận dụng đó.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể có những đòi hỏi mang tính tổng hợp, quán
triệt nguyên tắc này trong quá trình vận dụng phương pháp tư duy sẽ đưa
nhận thức của con người tới chân lý. Một khi xa rời những hoàn cảnh, điều
kiện cụ thể thì chân lý sẽ trở thành sai lầm, đúng như Lênin từng nói:“Chân lý
luôn luôn là cụ thể” [11; 364].
17


Tóm lại, qua tìm hiêu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy
vật chúng ta rút ra quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể. Đây là
những nguyên tắc, phương pháp luận có ý nghĩa quan trọng trong mọi hoạt
động nhận thức và thực tiễn. Trong phạm vi bài khóa luận này chúng ta sẽ đi
sâu tìm hiểu rõ hơn và vận dụng quan diểm toàn diện vào việc đổi mới giáo
dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
1.2. Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay
1.2.1. Tình hình thế giới
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng
cho sự phát triển kinh tế tri thức. cả nhân loại đang hướng tới cuộc cách
mạng công nghiệp và lấy tri thức để làm động lực phát triển của mỗi quốc gia.
Khoa học và công nghệ trở thành động lực cơ bản và quan trọng của sự phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Sự phát triển của khoa họccông nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong
các trườn, đồng thời cũng đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân
lực có trình độ cao hơn.
Có thể nói thời đại ngày nay là thời đại bùng nổ của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, kéo theo
đó là tri thức nhân loại tăng lên nhanh chóng. Con người được mở mang tầm
hiểu biết trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội qua những phương tiện hiện
đại. Hiện nay, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, thay thế từ lao động

thủ công là chính sang lao động tự động hóa. Chẳng hạn, trước kia công nhân
làm trong một nhà xưởng trước kia phải sử dụng lao động chân tay là chính
nhưng hiện nay công nghệ phát triển chỉ cần một người có thể điều khiển cả
một dây chuyền sản xuất. Và như một hệ quả tất yếu, khoa học - công nghệ
phát triển đã tác động không nhỏ đến giáo dục và đào tạo. Cùng với những

18


giờ học truyền thống “phấn trắng bảng đen” thì người học dần được làm quen
với những giờ học thú vị với những minh họa sinh động trên máy chiếu.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển,
vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi
của mỗi quốc gia, dân tộc. Cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt,
việc này đòi hỏi mỗi nước phải đổi mới khoa học - công nghệ để làm tăng
năng suất lao động, phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi quốc gia, dân tộc dều xem
sự phát triển của giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của sự phát triển
kinh tế - xã hội, ưu tiên cho phát triển giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh cải cách
giáo dục và đào tạo nhằm dành được ưu thế cạnh tranh trong khu vực và trên
thế giới. Đồng thời, quá trìh toàn cầu hóa cũng chứa đựng nguy cơ chảy máu
chất xám ở các nước đang phát triển khi mà các nhân lực ưu tú có nhiều khả
năng bị thu hút sang các nước phát triển. Do đó cùng với những thời cơ do
quá trình hợp tác đem lại cuộc cạnh tranh trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã
đặt các nước chậm phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam phải
đứng trước những thách thức đòi hỏi Việt Nam phải vươn lên để khẳng định
mình với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Bước sang thập kỉ đầu thế kỷ XXI, nhân loại đang phải đối mặt với rất
nhiều mâu thuẫn, thử thách: vừa hội nhập phụ thuộc lẫn nhau, vừa đấu tranh
để giữ gìn độc lập dân tộc và bản sắc văn hóa của dân tộc. tình trạng bùng nổ
dân số, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên… đang đe dọa tới mục tiêu

phát triển bền vững của các quốc gia, đe dọa đến an ninh, sự bình yên của
nhân loại. Đây được coi là những vấn đề rất quan trọng đối với giáo dục và
đào tạo. Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị
nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước và tạo cơ hội học tập cho
mọi người dân. Giáo dục suốt đời đã trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi
quốc gia tiếp tục được thay đổi nhằm xóa bỏ mọi ngăn cách trong nhà trường,
19


cung cấp tri thức hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia, dân tộc.
Bước sang thế kỷ XXI, đồng nghĩa với việc chúng ta bước vào thời kỳ
mới với vô vàn biến động mạnh mẽ của thế giơi trên tất cả các lĩnh vức của
đời sống xã hội. Cùng với việc chạy đua về khoa học kỹ thuật, quân sự, chính
trị, kinh tế giữa các nước hiện nay còn diễn ra cuộc chạy đua về giáo dục mà
thực chất là chạy đua về chất lượng giáo dục và đào tạo. Có thể khẳng định
nguyên nhân sâu xa của cuộc chạy đua này cũng là xuất phát từ mục tiêu kinh
tế, khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế bởi mục đích của nó là
hướng vào con người, mọi năng lực xã hội đều quy tụ ở năng lực của con
người, tranh thủ năng lực sáng tạo của con người để tạo lợi thế cho mình
trong cuộc cạnh tranh. Như vậy, sự quan tâm hàng đầu của thế giới hiện nay
là vấn đề con người và đào tạo con người ra sao. Nhận thức rõ được tầm quan
trọng của giáo dục và đào tạo, trước thế kỷ XXI, Uỷ ban Giáo dục thế giới đã
đề ra phương hướng chung cho sự nghiệp giáo dục con người hiện nay là dạy
con người biết cách đối thoại, chung sống với nhau và bảo vệ môi trường, tạo
dựng một nền văn minh mới - văn minh hòa bình, phấn đấu vì mục tiêu phát
triển nhanh và bền vững.
Công nghệ thông tin và truyền thông được ứng dụng trên quy mô rộng
lớn ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong giáo dục và đào tạo.
Với việc kết nối mạng, các công nghệ, tri thức không chỉ tồn tại ở các địa

điểm xa xôi, cách trở và khó tiếp cận hoặc chỉ giới hạn với một số người.
Giáo dục từ xa đã trở thành một thế mạnh của thời đại, tạo nên một nền giáo
dục mở, thích ứng với nhu cầu học của từng người. Đây là hình thức giáo dục
ở mọi lúc, mọi nơi và cho mọi người, trở thành giải pháp hiệu quả nhất để đáp
ứng các yêu cầu ngày càng tăng của giáo dục. Sự phát triển của các phương
tiện truyền thông, mạng viễn thông, công nghệ tin học tao thuận lợi cho việc
20


giao lưu và hội nhập văn hóa, nhưng cũng tạo điều kiện cho sự du nhập những
giá trị của các nước, ở mỗi quốc gia đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để
bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và ngăn chặn những yếu tố có ảnh hưởng đến
an ninh quốc gia, dân tộc.
Nhìn chung, xu thế của thời đại ngày nay là xu thế đi lên, tiếp cận dần
với mục tiêu giải phóng con người, làm cho mọi năng lực của con người có
điều kiện phát triển tối đa nhưng nó phải khắc phục, vượt xa xu thế độc tôn,
độc quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu năng lực người phải nhân văn và tiến bộ.
Như vậy,bối cảnh thế giới vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển và hoàn thiện dần của nền giáo dục và đào tạo Việt Nam. Mặt khác,
cũng tạo ra những thách thức không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
nước ta. Điều quan trọng là chúng ta phải có cái nhìn đúng đắn, đề ra những
chủ trương, chiến lược, sách lược phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam
hiện nay và thích ứng với xu thế của nhân loại.
1.2.2. Tình hình trong nước
Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, chúng ta đang mở rộng cánh cửa để hợp tác và hội nhập với
các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta cần đổi mới toàn diện
về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…để dần đưa nước ta thoát khỏi nghèo
nàn và rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên

thế giới. Trong quá trình đổi mới và phát triển đó chúng ta không thể không
kể tới vai trò của giáo dục và đào tạo, bởi chỉ có thông qua giáo dục và đào
tạo thì chúng ta mới có thể đào tạo và cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có
chất lượng cao góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, đời sống vật chất và tinh thần
21


×