So ạ
n vă
n , so ạ
n bài, h ọ
c tố
t bài
SỐ
N G CH Ế
T MẶ
C BAY
(Ph ạ
m Duy T ố
n)
I. V Ề TÁC GI Ả VÀ TÁC PH Ẩ
M
1. Th ể lo ạ
i
Số
ng ch ế
t mặ
c bay được x ế
p vào th ểlo ạ
i truy ệ
n ng ắ
n. Ở Vi ệ
t Nam,
kho ả
ng đ
ầu th ếk ỉ XX, khái ni ệ
m này còn khá m ớ
i mẻ
. Th ờ
i trung đ
ại
cũ
ng đ
ã có truy ệ
n ho ặ
c các tác ph ẩ
m có tính ch ấ
t t ựs ựnh ư
ng không
có tác ph ẩ
m nào th ểhi ệ
n đ
ư
ợ c nh ữ
ng đ
ặc tr ư
ng c ơb ả
n củ
a th ểlo ạ
i
này.
Truy ệ
n ng ắ
n thu ộ
c lo ạ
i hình t ựs ự
, đ
ặc tr ư
ng c ơb ả
n nh ấ
t củ
a nó là
ng ắ
n . Tuy nhiên, m ứ
c đ
ộ dài ng ắ
n không hoàn toàn quy ế
t đ
ị n h tính
ch ấ
t th ểlo ạ
i. Nh ưtrên đ
ã nói, nhi ề
u tác ph ẩ
m (có tính t ựs ự
) th ờ
i trung
đại nh ư
ng không th ểx ế
p vào lo ạ
i truy ệ
n ng ắ
n bở
i ngoài tính ch ấ
t về
dung l ư
ợn g, truy ệ
n ng ắ
n còn có m ộ
t s ốđ
ặc tr ư
ng khác.
Khác v ớ
i các truy ệ
n dài (ví d ụ
: ti ể
u thuy ế
t) và truy ệ
n vừ
a th ư
ờn g tái
hi ệ
n tr ọ
n vẹ
n cu ộ
c đ
ời m ộ
t nhân v ậ
t, m ộ
t s ựki ệ
n, hoàn c ả
nh,...
truy ệ
n ng ắ
n ch ỉ là m ộ
t lát c ắ
t, m ộ
t kho ả
nh kh ắ
c, m ộ
t hi ệ
n tư
ợn g n ổ
i
bậ
t (c ũ
ng có th ểkhác th ư
ờn g) c ủ
a cu ộ
c số
ng. Đ
ể đ
ảm b ả
o vớ
i mộ
t
dung l ư
ợn g nh ỏmà chuy ể
n tả
i đ
ư
ợ c nh ữ
ng ý ngh ĩa l ớ
n, ngôn ng ữ
truy ệ
n ng ắ
n ph ả
i hàm súc đ
ến m ứ
c tố
i đ
a. Các chi ti ế
t "th ừ
a" ( đ
ối v ớ
i
vi ệ
c th ểhi ệ
n nộ
i dung c ố
t truy ệ
n), các chi ti ế
t rư
ờm rà đ
ều b ị l ư
ợc b ỏ
để t ậ
p trung vào nh ữ
ng chi ti ế
t ch ủy ế
u nh ấ
t. Trong truy ệ
n ng ắ
n,
dư
ờn g nh ưhi ệ
n th ự
c đ
ời s ố
ng đ
ã đ
ư
ợ c "nén" ch ặ
t lạ
i nh ằ
m mụ
c đ
ích
kh ắ
c ho ạn ổ
i bậ
t mộ
t hi ệ
n tư
ợn g, m ộ
t nét b ả
n ch ấ
t trong quan h ệ
nhân sinh hay trong đờ
i số
ng tâm h ồ
n con ng ườ
i.
2. Tác gi ả
Ph ạ
m Duy T ố
n (1883-1924) là m ộ
t trong s ốít ng ườ
i có thành t ự
u đầ
u
tiên v ềth ểlo ạ
i truy ệ
n ng ắ
n hi ệ
n đạ
i , trong đ
ó Số
ng ch ế
t mặ
c bay là
tác ph ẩ
m nổ
i bậ
t nh ấ
t.
Mặ
c dù còn ch ịu ít nhi ề
u ả
nh h ưở
ng củ
a xu h ướ
n g đạ
o đứ
c truy ề
n
th ố
ng nh ư
ng nh ữ
ng truy ệ
n ng ắ
n củ
a Ph ạ
m Duy T ố
n đ
ã thiên v ềph ả
n
ánh hi ệ
n th ự
c xã h ộ
i th ố
i nát th ờ
i bấ
y gi ờ
. Trong S ố
ng ch ế
t mặ
c bay,
ông t ốcáo giai c ấ
p th ố
ng tr ị độ
c ác b ấ
t nhân, ch ỉ ham ă
n ch ơ
i phè
ph ỡ
n, để m ặ
c dân chúng trong c ả
nh ng ậ
p lụ
t.
II. KI Ế
N TH Ứ
C C ƠB Ả
N
1. Truy ệ
n ng ắ
n Số
ng ch ế
t mặ
c bay có th ểchia làm 3 đ
o ạn :
-Đ
o ạn 1 (t ừđầ
u đế
n “Khúc đ
ê này h ỏ
ng m ấ
t”): Nguy c ơđ
ê b ị v ỡvà
s ựch ố
ng đỡ c ủ
a ng ườ
i dân.
-Đ
o ạn 2 (ti ế
p theo đế
n “ Đế
i u , mày!”): Quan ph ụm ẫ
u vô trách nhi ệ
m,
mả
i mê bài b ạ
c trong khi đ
i h ộđ
ê.
-Đ
o ạn 3 (còn l ạ
i): Đ
ê bị v ỡ
, nhân dân lâm vào c ả
nh th ả
m sầ
u.
2. Theo đnị h ngh ĩa v ề phép t ưn
ơg ph ả
n:
a) Hai m ặ
t t ươ
n g ph ả
n c ơb ả
n trong truy ệ
n Số
ng ch ế
t mặ
c bay: M ộ
t
bên là ng ườ
i dân v ậ
t lộ
n, ch ố
ng ch ọ
i vớ
i mư
a gió h ế
t sứ
c că
ng th ẳ
ng,
vấ
t vả
. Bên kia là viên quan đ
i h ộđ
ê ng ồ
i trong ch ỗan toàn, nhàn nhã,
mả
i mê bài b ạ
c, không cho phép ai qu ấ
y rầ
y ván bài c ủ
a mình, coi
vi ệ
c đ
ánh bài là trên h ế
t, m ặ
c dân s ố
ng ch ế
t khi đ
ê vỡ
.
b) Nh ữ
ng ng ườ
i dân h ộđ
ê: Làm vi ệ
c liên t ụ
c t ừchi ề
u đế
n gầ
n mộ
t gi ờ
đ
êm. H ọbì bõm d ưới bùn l ầ
y, ướt nh ưchu ộ
t lộ
t, ai ai c ũ
ng m ệ
t l ửc ả
rồi; trong khi mưa tầm tã trút xuống, nước sông cuồn cuộn bốc lên.
Tác giả nhận xét: "Tình cảnh trông thật là thảm".
c) Viên quan đi hộ đê thì ngồi trong đình ở chỗ cao ráo, an toàn.
Người gãi chân, kẻ quạt mát, các tay chân ngồi hầu bài. Khung cảnh
nhàn nhã, đường bệ, nguy nga. Quan chỉ mê bài. Đáng lẽ phải tắm
mưa, gội gió, đứng trên đê đốc thúc, thì quan lại ngồi chơi nhàn nhã,
có kẻ hầu, người hạ. Quan gắt khi có người báo tin đê vỡ. Quan đỏ
mặt tía tai đòi cách cổ, bỏ tù người dân báo đê vỡ. Và y tiếp tục vui
mừng vì đã ù ván bài, mặc cho dân rơi vào cảnh đê vỡ, "tình cảnh
thảm sầu" không sao kể xiết.
d) Tác giả dựng lên hai cảnh tương phản nhằm mục đích so sánh, làm
nổi bật sự đối lập. Người có trách nhiệm thì vô trách nhiệm, chỉ ham
mê bài bạc. Những người dân thì phải dầm mưa gội gió, nhọc nhằn,
chống chọi với thiên nhiên một cách tuyệt vọng. Cuối cùng, sự vô
trách nhiệm của viên quan đã dẫn đến cảnh đê v ỡ. Quan thì sung
sướng vì nước bài cao, dân thì khổ vì nước lụt.
3. a) Phép tăng cấp đã được sử dụng để miêu tả tình cảnh nguy ngập
của khúc đê. Mưa mỗi lúc một tầm tã. Nước sông càng dâng cao. Dân
chúng thì đuối sức, mệt lử cả rồi.
b) Phép tăng cấp cũng được sử dụng để miêu tả thái độ vô trách
nhiệm, lòng lang dạ thú của viên quan. Viên quan hộ đê không cùng
dân chống đỡ mà ngồi trong đình vững chãi, an toàn. Bao kẻ phải hầu
hạ quan. Không phải là vì công việc mà chỉ vì một thú chơi bài. Quan
chơi bài nhàn nhã, ung dung. Quan gắt khi có người quấy rầy. Quan
quát mắng, đòi cách cổ, bỏ tù khi có người báo đê vỡ. Quan sung
sướng vì ván bài ù. Mức độ vô trách nhiệm và cáu gắt vô lí của quan
càng thể hiện rõ nét.
c*) Sự kết hợp của nghệ thuật tương phản và tăng cấp đã tố cáo và
phê phán hành động ham mê bài bạc và vô trách nhiệm của viên quan.
Nếu viên quan chỉ ham đánh bạc thì đó là thói xấu trong sinh hoạt của
cá nhân y. Nhưng y đánh bạc khi làm công vụ, cụ thể là khi đi hộ đê,
liên quan đến tính mạng và tài sản của dân chúng thì đó là sự vô trách
nhiệm. Y thắng ván bài đã chờ thì y sung sướng là lẽ thường tình.
Nhưng y thắng bài khi đê vỡ, y sung sướng khi bao người dân khổ s ở,
cùng cực thì sự vui mừng của y là một hành động phi nhân tính của kẻ
lòng lang dạ thú. Chính sự kết hợp này đã làm cho tính chất tố cáo và
phê phán thêm sâu sắc.
4. + Giá trị hiện thực của truyện Sống chết mặc bay là đã phản ánh bộ
mặt của giai cấp thống trị mà tiêu biểu là tên quan có vai trò “cha mẹ”
người dân nhưng đã chỉ ham mê bài bạc, hết sức vô trách nhiệm, làm
cho dân chúng khốn khổ vì đê vỡ, nước lụt.
+ Giá trị nhân đạo của truyện là đã cảm thông với sự vất vả, khốn khổ
của người lao động trước cảnh thiên tai xảy ra do thái độ vô trách
nhiệm của bọn quan lại.
+ Giá trị nghệ thuật: Đây là truyện ngắn viết theo kiểu hiện đại bằng
chữ Quốc ngữ. Nhân vật đã bước đầu có tính cách. Tác giảđã sử dụng
biện pháp tương phản, tăng cấp, kết hợp với lời bình luận trực tiếp để
tố cáo và phê phán. Nhân vật quan phụ mẫu đã bộc lộ bản chất xấu xa,
vô trách nhiệm qua các hành động, lời nói của y với tay chân và với
người dân.
III. RÈN LUY ỆN K Ĩ N ĂNG
1. Tóm t ắt
Gần một giờ đêm, trời mưa tầm tã, nước sông Nhị Hà lên to, khúc đê
làng X có nguy cơ sẽ vỡ. Hàng trăm hàng nghìn người dân ra sức
chống chọi với sức nước. Thế mà tại ngôi đình trên một khúc đê gần
đó, quan phụ mẫu vẫn ung dung cùng các quan đánh bài. Có người
báo đê vỡ, ngài vẫn thản nhiên quát mắng. Cuối cùng, khi quan ù ván
bài thật to, cũng là lúc "khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng,
xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống không
chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn".
2. Cách đọc
Trong một truyện ngắn, giọng điệu có ý nghĩa rất quan trọng đối v ới
giá trị của tác phẩm. Với đặc trưng hàm súc, tác giả truyện ngắn tận
dụng tối đa những lợi thế của giọng điệu để thể hiện tư tưởng, tình
cảm, thái độ của mình, đồng thời khắc hoạđời sống một cách sâu sắc.
Từ giọng điệu của tác giả cho đến giọng điệu của các nhân vật, khi
đọc cần chú ý thể hiện sinh động và chính xác. Cụ thể, trong truyện
ngắn này có những nhân vật chủ yếu sau:
- Giọng người kể chuyện (về mặt nào đó có thể coi là giọng của tác
giả): mỉa mai, châm biếm khi viết về nhân vật "quan lớn", xót thương
khi miêu tả thảm cảnh mà dân chúng đang gặp phải.
- Giọng quan phụ mẫu: vừa hách dịch (khi sai bảo) vừa thờ ơ (khi
nghe nói đến cảnh lũ lụt).
- Giọng nha lại, thầy đề: nịnh nọt, xun xoe,...
3. Các hình th ức đã được v ận d ụng trong truy ện S ống ch ết
mặc bay :
Hình thức ngôn ng ữ
Có
Ngôn ngữ tự sự
X
Ngôn ngữ miêu tả
X
Ngôn ngữ biểu cảm
X
Không
Ngôn ngữ người kể chuyện X
Ngôn ngữ nhân vật
X
Ngôn ngữ độc thoại nội tâm X
Ngôn ngữ đối thoại
X
4.* Qua ngôn ngữđối thoại của tên quan phủ, có thể tháy hắn hiện
lên với một nhân cách xấu xa, bỉ ổi. Đó là một tên quan vô trách
nhiệm, tham lam và tàn bạo. Từ đây cũng cần phải rút ra một nhận
định rằng: trong tác phẩm tự sự ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan
trọng trong việc hình thành nên tính cách của nhân vật.