Tải bản đầy đủ (.doc) (2 trang)

Dưới thời phong kiến, có một số nhà Nho cho rằng Mị Châu là một người vợ hiền, việc nàng một lòng làm theo lời chồng là không có tội. Đó có phải là lời giải oan đúng đắn cho Mị Châu không

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (62.19 KB, 2 trang )

Dưới thời phong kiến, có một số nhà Nho cho rằng Mị Châu là một người vợ hiền, việc nàng một
lòng làm theo lời chồng là không có tội. Đó có phải là lời giải oan đúng đắn cho Mị Châu không?
Hãy vận dụng những kiến thức đã học để bình luận ý kiến trên
-------------Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy thuộc chủ đề giữ nước, một trong những chủ đề nổi
bật của truyền thuyết Việt Nam. Nội dung truyện kể về quá trình xây thành, chế nỏ giữ nước của An
Dương vương và bi kịch tình yêu giữa Mị Châu – Trọng Thủy, gắn liền với sự thất bại của nước Âu Lạc.
Thái độ mất cảnh giác, chủ quan khinh địch, sự nhẹ dạ cả tin của cha con An Dương Vượng đã dẫn đến
thảm cảnh nhà tan, nước mất.
Xung quanh nhân vật Mị Châu từ xưa đến nay có rất nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá khác nhau, thậm chí
trái ngược. Dưới thời phong kiến, có một số nhà Nho cho rằng Mị Châu là một người vợ hiền, việc nàng
một lòng làm theo lời chồng là không có tội. Vậy ý kiến trên có phải là lời giải oan đúng đắn cho Mị
Châu hay không ?
Nếu chúng ta lấy đạo lí của Nho giáo phong kiến làm cơ sở để bình luận cái đúng, cái sai của nhận xét
nêu trên thì quả là Mị Châu vô tội. Đối với người phụ nữ, luật lệ xưa quy định rồi: Tại gia tòng phụ, Xuất
giá tòng phu, phu tử tòng tử (Tam tòng), có nghĩa lá lúc còn ở nhà thì theo cha, lúc lấy chồng thì theo
chồng, chồng chết thì theo con. Như vậy, rõ ràng người phụ nữ bị ràng buộc trong mọi hoàn cảnh, không
có được một chút tự do nào. Việc Mị Châu trở thành vợ Trọng Thủy là do sự cố tình sắp đặt của Triệu Đà
trong âm mưu thâm hiểm hòng cướp bằng được nước Âu Lạc. Trọng Thủy – con trai hắn cũng bị hắn biến
thành quân cờ trên bàn cờ chiến lược, thành công cụ, phương tiện đắc lực để giúp hắn thực hiện âm mưu
thôn tính.
Vừa có thành cao, hào sâu, vừa có nỏ thần bắn một phát giết hàng vạn giặc, An Dương Vương cho rằng
như vậy là đủ để yên tâm vui hưởng thái bình. Có lẽ niềm tin ấy quá lớn khiến An Dương Vương đâm ra
mất cảnh giác, chủ quan khinh địch. An Dương Vương cho rằng Triệu Đà đã một lần nếm mùi thất bại,
hay phải xuống giọng xin được cầu thân, hẳn là đã thực lòng hòa hiếu. Với uy thế của người chiến thắng,
cộng với vũ khí hiệu nghiệm là chiếc nỏ thần trong tay, An Dương vương vui vẻ chấp thuận lời đề nghị
kết tình thông gia hữu hảo của kẻ cựu thù.
Đó chính là điểm sơ hở chết người của ông vua đứng đầu đất nước Âu Lạc. Đã thế, An Dương Vương
còn cho phép Trọng Thủy được ở rể trong Loa Thành. Hành động ấy có khác chỉ “nuôi ong tay áo, nuôi
cáo dòm nhà”?! Còn Mị Châu lúc đó chỉ là cô gái đang tuổi trăng tròn, ngây thơ, trong trắng. Vua cha gả
chổng thì thuận theo ý cha, lúc làm vợ thì hết lòng thương yêu chồng.
Như thế là phải đạo. Việc Mị Châu nghe theo Trọng Thủy, cho chồng vào tận nơi vua cha cất giấu nỏ


thần và chỉ rõ bí mật của nỏ thần, theo suy nghĩ của nàng đơn thuần chỉ là để làm vui lòng chồng. Bi kịch
nảy sinh từ chỗ người thì vô tình, kẻ thì cố ý. Trong những ngày sống trên đất Âu Lạc, bên cạnh người vợ
hiền trẻ trung, xinh đẹp, Trọng Thủy đã nảy sinh tình yêu thực sự với Mị Châu. Tuy vậy, chàng vẫn
không quên nhiệm vụ do thám mà cha là Triệu Đà giao phó: chiếm bằng được lẫy thần.
Để lộ bí mật qụốc gia, vô tình chỉ đường cho giặc đuổi theo vua cha, Mị Châu đã tiếp tay cho kẻ thù mà
không biết làm như thế là dẫn đến họa mất nước. Xét về trách nhiệm công dân, Mị Châu đã mang trọng
tội. Câu nói của Rùa Vàng ở cuối truyện, lúc cha con An Dương Vương bỏ thành tháo chạy về phía biển
Đông: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” đã chỉ ra sự thực phũ phàng: Mị Châu đã có hành động phản
quốc – dẫu nàng không hề biết đến điều đó. Lưỡi gươm mà người cha bất hạnh giáng xuống đầu con gái
mình vừa mang ý nghĩa là lưỡi gươm công lí của nhân dân, vừa là một bài học cảnh giác phải trả bằng giá
quá đắt cho người đứng đầu đất nước.


Lời khấn của Mị Châu: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành
cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để tẩy sạch mối
nhục thù” và sự ứng nghiệm sau đó đã cho thấy sự trong trắng của nàng. Vì thế dân gian mới sáng tạo ra
chi tiết máu nàng chảy xuống biển, một loài trai ăn phải, lập tức biến thành hạt châu. Hạt châu ấy đem rửa
bằng nước giếng trong Loa Thành, nơi Trọng Thủy đâm đầu xuống tự tử thì sẽ trở nên sáng ngời. Những
hình ảnh đẹp đẽ ấy phần nào thanh minh cho sự vô tình mà gây nên trọng tội của Mị Châu và thể hiện thái
độ thương xót, bao dung của nhân dân đối với nàng.
Như vậy, nếu đem quan niệm phong kiến Tam tòng để bênh vực cho Mị Châu như một số nhà Nho đã
làm là chưa đúng, vì trước khi chết, Mị Châu đã nhận ra là mình bị lừa dối và mối nhục của cha con nàng
là mối nhục thù. Sự thức tỉnh muộn màng của lí trí Mị Châu là điểm để người đời xót xa cho thân phận
nàng công chúa nết na, xinh đẹp. Mối tình của Mị Châu – Trọng Thủy tan vỡ vì tham vọng cướp nước
của Triệu Đà, vì thế mà nó chứa đựng ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa rất sâu sắc.



×