Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Nhân vật người mẹ trong các truyện ngắn vợ nhặt (kim lân), một người hà nội (nguyễn khải), chiếc thuyền ngoài xa (nguyễn minh châu)”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (166.01 KB, 21 trang )

Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
Nhà thơ Xuân Quỳnh trong thi phẩm “Thơ vui về phái yếu” có viết:
“Dẫu là nguyên thủ quốc gia hay những anh hùng
Là bác học…hay là ai đi nữa
Vẫn là con của một người phụ nữ
Một người đàn bà bình thường, không ai biết tuổi tên”
Xuân Quỳnh đã nói một cách giản dị, hóm hỉnh mà không kém phần sâu sắc khi
diễn tả niềm tự hào của giới nữ về thiên chức làm mẹ của mình. Người phụ nữ
sánh ngang với Hóa công khi tạo nên sự sống muôn màu trên trái đất, trong mỗi
cuộc đời. Vì vậy, viết về người mẹ đã trở thành một đề tài qui tụ nhiều tài năng
văn chương. Đi về trên mỗi trang viết của các nhà thơ, nhà văn đã có biết bao
bà mẹ được tạc vào dòng chảy vô tận của thời gian. Bạn đọc khó có thể quên
hình ảnh người mẹ với “tấm áo choàng xưa cũ nát”, “đi đi lại lại trên đường”
của nhà thơ Nga Êxênin - “thi sĩ cuối cùng của làng quê Nga”. Hay ám ảnh với
nỗi đau đớn tột cùng của người mẹ nông dân vào lúc sinh nở được miêu tả thấm
đẫm chất thơ trong áng văn tài hoa của M. Gorki. Trở về với văn học Việt Nam
những năm đầu của thế kỉ XX, độc giả như thấy mình trong cảm xúc dịu ngọt
của tuổi thơ ấu qua câu thơ về mẹ của Lưu Trọng Lư “Mỗi lần nắng mới reo
ngoài nội. Áo đỏ người đưa trước dậu phơi”. Còn Nguyễn Duy, nhà thơ của
những vần thơ lục bát da diết đã đưa ta về với những đấng sinh thành tảo tần,
giàu đức hi sinh “ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa. Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá
xương”. Khó có thể kể hết những tuyệt bút lấy cảm hứng về người mẹ. Chắc
hẳn nó sẽ còn là đề tài “khơi mãi không hết” trên hành trình sáng tạo của mỗi
nhà thơ, nhà văn.
Điều có thể nhận thấy nổi lên trên mỗi trang viết về người mẹ là chất nhân
văn sâu thẳm lấp lánh trong từng con chữ. Đúng như Pauxtốpxki quan niệm
“Nhà văn là người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp”, người đọc đã được trải
nghiệm, tắm mình trong suối nguồn trong trẻo của lòng nhân ái khi khám phá
hình tượng nhân vật người mẹ qua những sáng tác văn chương. Đó phải chăng
1




là nguyên cớ ta để hồn mình neo đậu, lưu luyến trong giây phút gặp gỡ với
những sáng tác mang đậm thiên tính nữ? Mặt khác, từ trước đến nay, các nhà
nghiên cứu và phê bình văn học thường đánh giá cao tác phẩm có những trăn
trở, tìm tòi về thân phận người phụ nữ. Nguyễn Đăng Mạnh khi bàn về chủ
nghĩa nhân đạo qua những trang viết về người phụ nữ của nhà văn Nguyên
Hồng đã khẳng định “Thái độ như thế nào đối với người phụ nữ và vấn đề phụ
nữ là thước đo hết sức quan trọng tính nhân dân, tính nhân đạo của các tác
phẩm văn học” [5. 156].
Chương trình Ngữ văn bậc học phổ thông đưa vào giảng dạy những tác
phẩm văn chương khắc họa hình tượng người mẹ một cách sắc nét. Hơn nữa,
trong những đề thi quốc gia như Tốt nghiệp THPT và Đại học ít nhiều đề cập
những vấn đề có liên quan đến hình tượng này. Do đó, tìm hiểu chuyên sâu về
nhân vật người mẹ là một việc làm cần thiết. Nó phù hợp cho chuyên đề ôn thi
tốt nghiệp, ôn thi đại học.
Xuất phát từ những lí do thực tế trên đây, chúng tôi triển khai chuyên đề
“Nhân vật người mẹ trong các truyện ngắn: Vợ nhặt (Kim Lân), Một người
Hà Nội (Nguyễn Khải), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)”.
2. Mục đích của chuyên đề
Đi sâu vào tìm hiểu nhân vật người mẹ trong các truyện ngắn Việt Nam hiện
đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 2, chúng tôi muốn giúp học
sinh có được chiếc chìa khóa để mở lối đi vào tìm hiểu tư tưởng, chủ đề của tác
phẩm. Những tư tưởng ấy không phải nói trực tiếp mà được nhà văn gửi gắm
thông qua hình tượng nhân vật bởi “Cái đẹp mà văn học đem lại không gì khác
hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật” [2.
57]. Do vậy, nhân vật trong tác phẩm tự sự chính là cái loa phát ngôn cho tư
tưởng tình cảm của tác giả, nhưng cũng không nên hiểu nhân vật chỉ là minh
họa giản đơn cho điều nhà văn muốn nói. Ở những tác phẩm văn học có giá trị,
nó được nhà văn miêu tả thật sống động và có tính thẩm mĩ.

Mặt khác, tìm hiểu nhân vật theo nhóm sẽ giúp cho học sinh có được những
kĩ năng như hệ thống, khái quát, so sánh. Từ đó, một lần nữa củng cố những
2


kiến thức đã được học về tác phẩm. Đồng thời tránh tình trạng học vẹt, thấy cây
mà không thấy rừng .
Không thể phủ nhận tác động mạnh mẽ, diệu kì của những áng văn được
giảng dạy trong nhà trường đối với tâm hồn của biết bao thế hệ học trò. Thực
hiện chuyên đề này, một lần nữa chúng tôi muốn bồi đắp những tình cảm tốt
đẹp cho học sinh như biết yêu cái đẹp, căm ghét cái xấu, có bản lĩnh và có một
trái tim nhạy cảm trước cuộc đời vốn dĩ đã đa sự.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
3. 1. Đối tượng
Chúng tôi thực hiện chuyên đề này ở lớp 12 D2 trường THPT Yên Lạc, với thời
gian là 6 tiết.
3. 2. Phạm vi nghiên cứu
Người mẹ trong văn học có nhiều tác phẩm thuộc cả thơ và văn xuôi. Ở
chuyên đề này, chúng tôi chọn ba truyện ngắn: Vợ nhặt của Kim Lân, Một
người Hà Nội của Nguyễn Khải, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
để khảo sát. Đây là nhóm tác phẩm xây dựng thành công hình tượng nhân vật
người mẹ và là những tác phẩm có trong cấu trúc đề thi Đại học, tốt nghiệp
THPT của Bộ giáo dục và Đào tạo.
4. Phương pháp thực hiện:
Để thực hiện chuyên đề này, chúng tôi trong đã sử dụng những phương pháp
sau:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích


3


Nội Dung
Phần 1:
Nhân vật người mẹ trong các truyện ngắn: Vợ nhặt (Kim
Lân), Một người Hà Nội (Nguyễn Khải), Chiếc thuyền
ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
I. Về số phận của nhân vật
1. Cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ
Gánh nặng của kiếp mưu sinh là một chủ đề lớn trong các tác phẩm văn
học của loài người nói chung và của văn học Việt Nam nói riêng. Trong nền
cảnh chung của kiếp nhân sinh nhọc nhằn vì những lo toan kiếm sống thì nhân
vật người mẹ của nhà văn Việt Nam hiện đại đã gợi cho người đọc bao cảm
thương. Số phận của họ gộp cả vào đấy những lam lũ của kiếp người và của
người phụ nữ. Điều đó được thể hiện rõ nét qua hai tác phẩm Vợ nhặt - Kim
Lân và Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu.
1. 1. Đói nghèo làm hủy hoại ngoại hình, dáng vẻ
Kim Lân là nhà văn xuất thân từ tầng lớp bình dân. Ôm mộng trở thành
họa sĩ nhưng vì nhà nghèo không có tiền ăn học nên ông đã đến với văn chương
như một duyên nợ. Chính cuộc sống nghèo khổ đã giúp Kim Lân có cái nhìn
4


rưng rưng, thấu cảm với những kiếp nhân sinh nhọc nhằn. Ông đã xây dựng
thành công nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo khổ trên bối cảnh của nạn
đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Khó có thể hình dung truyện ngắn Vợ nhặt sẽ thế
nào nếu thiếu đi nhân vật người mẹ này. Nhân vật bà cụ Tứ xuất hiện ở nửa sau
của truyện. Kim Lân đã dùng những chi tiết ấn tượng để miêu tả sự xuất hiện
của nhân vật. Nhà văn để cho Tràng ngóng mẹ với trạng thái nôn nóng, sốt ruột.

Người con trai bồn chồn đứng ngồi không yên mong mẹ về bởi anh đang lo
lắng, sợ hãi vì tự ý dẫn người đàn bà về làm vợ - điều mà trước anh chưa nghĩ
đến. Giống như Tràng, bạn đọc hẳn cũng hồi hộp, mong chờ sự xuất hiện của
người mẹ. Kim Lân không tả nhiều, chỉ bằng mấy câu “Ngoài ngõ có tiếng
người húng hắng ho, một bà lão từ ngoài rặng tre lọng khọng đi vào. Bà lão vừa
đi vừa lẩm bẩm, tính toán gì trong miệng” [7. 27] cũng đủ để nhân vật nhanh
chóng đi vào tâm trí của người đọc. Từ láy “lọng khọng” gợi hình ảnh một bà
lão già yếu, hẳn là còng lưng. Đồng thời, nó cũng đánh thức trong lòng người
đọc bao xót thương. Người mẹ ấy đến già vẫn chưa hết lo toan, chưa có lúc nào
được thanh thản qua dáng vẻ “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán”. Cuộc sống mưu
sinh vất vả hiện lên qua dáng đi, đậm nét trên khuôn mặt “bủng beo u ám” của
bà. Suốt cả đời cực khổ kiếm miếng ăn, bà cụ Tứ chưa lúc nào thoát khỏi nỗi lo
về đói nghèo. Do vậy, trước tình cảnh con trai “nhặt” được vợ vào lúc đói,
người mẹ ấy lại một lần nữa chua xót nghĩ đến đời mình “Bà lão nghĩ đến cuộc
đời cực khổ dài dằng dặc của mình” [7. 28].
Đến với nhà văn Nguyễn Minh Châu, người đọc khó có thể quên được hình
tượng người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (1983). Đây là
sáng tác thuộc giai đoạn thứ hai trong sự nghiệp văn học của nhà văn. Bằng
khát vọng đổi mới nghệ thuật và tài năng thiên bẩm, Nguyễn Minh Châu đã tự
vượt mình trong giai đoạn văn học trước 1975 và trở thành một trong nhưng
cây bút cách tân, mở đường xuất sắc cho con đường đổi mới văn học nước ta,
được đánh giá là “người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc). Tác
phẩm Chiếc thuyền ngoài xa chứa đựng nhiều quan niệm tiến bộ của nhà văn về
nghệ thuật và cuộc đời. Những tìm tòi mới mẻ của Nguyễn Minh Châu về con
5


người có thể thấy qua những hình tượng nhân vật trong đó có người đàn bà
hàng chài.
Người đàn bà hàng chài xuất hiện ở phát hiện thứ hai của người nghệ sỹ,

dưới điểm nhìn trần thuật của nhân vật Phùng. Bước ra từ con thuyền như mơ
lại là người đàn bà xấu xí, thô kệch “Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một
thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô
kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái
ngắt”, “tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng” [7. 91].
Người đàn bà đó không có tên, chỉ được giới thiệu về tuổi tác, vóc dáng. Ngoại
hình người đàn bà gợi đến cuộc sống khốn khó, lam lũ của những người lao
động nghèo. Cái đói, cái nghèo kéo dài nhiều năm, nhiều tháng đã hủy hoại
dáng hình, vẻ đẹp của của người phụ nữ và dường như ở chị không còn sinh
khí. Ngay cả cái dáng vẻ sợ sệt của chị khi đến tòa án gặp Đẩu cũng gợi cho
chúng ta biết bao điều. Người mẹ của đàn con đông đúc ấy có cảm giác mặc
cảm, tự ti trước người đại diện cho pháp luật. Chính cuộc sống cực khổ đẩy chị
vào cảnh nhếch nhác về hình hài, kèm theo đó là tâm lí mặc cảm dày vò.
1. 2. Bi kịch do cuộc sống khốn quẫn
Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, người đàn bà hàng chài là hiện
thân của những đau khổ. Nhan sắc xấu xí, chị lấy chồng trong niềm biết ơn với
người chồng đã cho mình cuộc sống đàn bà đúng nghĩa: được làm mẹ, làm vợ.
Tuy nhiên, cả đời chị phải lao động nhọc nhằn với nghề chài lưới để nuôi con
với điều kiện “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả vùng phá mênh mông. Cưới
xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm
giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây trời nước chứ không cố kết
vào một khoảnh đất nào.” [10. 253]. Vất vả, cực khổ là vậy mà con chị vẫn đói,
vào những lúc biển động sóng gió cả gia đình phải ăn toàn “xương rồng luộc
chấm muối” và chồng chị vẫn cay nghiệt. Người đàn bà hàng chài phải gánh
chịu những trận đòn chồng vô lí “Bất cứ lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra
đánh”, “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Người đàn bà chịu nỗi
đau về thể xác cùng với đó là nỗi đau đớn về tinh thần. Bị đối xử dã man, chị
cảm thấy đau đớn, nhục nhã. Mặt khác, người mẹ ấy luôn nơm nớp lo sợ cho sự
6



phát triển nhân cách của các con, sợ chúng bị tổn thương về tâm hồn khi chứng
kiến cảnh bạo lực gia đình. Bị chồng đánh, người đàn bà hàng chài “không hề
kêu lên một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy” khiến cho
người nghệ sỹ nhiếp ảnh Phùng không thể nào hiểu nổi “trong mấy phút đầu cứ
đứng há mồm ra mà nhìn”. Tuy vậy, khi thằng Phác xuất hiện, đánh trả bố để
bảo vệ mẹ thì người mẹ ấy mới bộc lộ nỗi đau đớn vô cùng. Điều chị muốn
giấu, muốn bảo vệ các con là không thể, cái điều chị e ngại đã xảy ra. Hành
động “mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, chắp tay
vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy” [7. 92] có thể lí giải là chị muốn cầu xin con
không dùng thói côn đồ đối với người bố dữ dằn, không được thù ghét bố.
Thằng Phác còn quá nhỏ để hiểu bao cái rối rắm, cái đa đoan trong kiếp sống
của những người lao động khổ cực. Như vậy, người đàn bà vô danh trong tác
phẩm đã đại diện cho biết bao kiếp người nheo nhóc, lênh đênh trên đại dương
cuộc đời mà Nguyễn Minh Châu muốn phản ánh.
2. Những nỗi đau do chiến tranh
Văn học Việt Nam 1945- 1975 phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt
của dân tộc. Đất nước oằn mình gánh trên vai hai cuộc chiến tranh chống thực
dân Pháp và đế quốc Mĩ. Trong hoàn cảnh ấy, văn học nước nhà đã hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ: là nguồn lực tinh thần cho cả dân tộc. Đó là lí do vì sao ta ít
gặp những giọt nước mắt, nỗi đau khi phải chia li bởi “Nước mắt để dành cho
ngày gặp mặt” (Nam Hà). Vậy nên, “Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như
nhau” (Chế Lan Viên). Trong không khí cởi mở của văn học sau 1975, nhiều
nhà văn viết về chiến tranh với những nhận thức lại, không né tránh khi viết về
mất mát, đau thương. Nguyễn Khải là một trong số đó.
Truyện ngắn Một người Hà Nội khá tiêu biểu cho tính triết luận trong phong
cách văn xuôi của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác từ cuối những năm bảy
mươi của thế kỷ XX. Nhân vật người mẹ trong tác phẩm được nhà văn tái hiện
trong nỗi đau do chiến tranh gây ra. Khi Dũng con trai lớn của bà Hiền lên
đường vào Nam chiến đấu, người mẹ trong tác phẩm không hề giấu giếm cảm

xúc thực của mình với người cháu “Tao đau đớn mà bằng lòng”. Trách nhiệm
công dân được bà Hiền - một người Hà Nội thanh lịch, bộc lộ không ồn ào, giả
7


tạo. Tiễn những đứa con thân yêu, những khúc ruột của mình vào nơi hòn tên
mũi đạn, lòng người mẹ nào mà chẳng đớn đau, mà nỗi đau như rút cả tim gan.
Bên cạnh nhân vật bà Hiền, Nguyễn Khải cũng tạo dựng chân dung của một bà
mẹ Hà Nội khác qua chi tiết nhỏ nhưng đắt giá. Câu chuyện về mẹ của Tuất
được Dũng kể trong bữa tiệc mừng chiến thắng của những người Hà Nội thành
danh. Người lính trở về từ chiến trường khốc liệt không biết nên nói thế nào với
người mẹ có con hi sinh. Dũng mang trong mình cái mặc cảm của người sống
trong khi đồng đội của mình không còn. Anh gặp mẹ của Tuất, chưa nói được
điều phải nói đã khóc, còn người mẹ ấy “run bần bật nhưng không khóc”. Sự
đau đớn tột cùng được diễn tả thật đắt qua cụm từ chỉ trạng thái cảm xúc của
người mẹ “ người …run bần bật” “nói run rẩy”. Không có giọt nước mắt nào
nhỏ xuống, nỗi đau mất con của người mẹ đã lặn vào trong tâm khảm, ghìm nén
mà đau đớn vô cùng. Ta quí trọng những giọt nước mắt của người lính và càng
cảm phục trước phản ứng của người mẹ. Điều này, một lần nữa cho thấy cống
hiến thầm lặng, không màu mè, ầm ĩ của những người mẹ Việt Nam trong chiến
tranh. Đồng thời, nó cũng khiến người ta ngậm ngùi nghĩ đến cái giá quá đắt
của chiến thắng. Chẳng có ai có thể đo đếm được những vết thương sâu thẳm
trong lòng những người mẹ và trong những người lính phải kinh qua những trận
“mưa bom bão đạn” trong chiến tranh.
II. Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật người mẹ
1. Giàu đức hi sinh, vị tha, bao dung
Qua tác phẩm Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân đã để lại trong lòng bạn đọc một
ấn tượng sâu đậm bằng một tình huống éo le, cảm động: Tràng “nhặt” được vợ
vào nạn đói khủng khiếp. Cái tài của nhà văn chính là trong tình huống ấy phẩm
giá của con người được bộc lộ rõ nét nhất. Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm

cho thấy điều đó. Trước việc con trai dẫn về nhà một người đàn bà đồng nghĩa
với việc thêm một miệng ăn trong cảnh “tối sầm vì đói khát”, người mẹ già ấy
đã chấp nhận người đàn bà đói, bỏ qua những việc tối cần thiết vào lúc dựng vợ
gả chồng cho con. Bà có trái tim nhân hậu khi vượt qua nỗi ám ảnh của cái đói
để cưu mang, đùm bọc, xót thương người “vợ nhặt” với suy nghĩ “ Người ta có
gặp bước khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy đến con mình” [7. 28]. Người
8


mẹ chồng ấy nhìn con dâu với ánh mắt xót xa và ái ngại. Bằng tình thương của
mình, bà đã xua đi cái cảm giác mặc cảm của người con dâu qua câu nói “Ừ
thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng” [7. 28].
Mừng lòng chứ không phải bằng lòng, bà Tứ nhân hậu là ở chữ ấy, Kim Lân
sâu sắc cũng là chữ đấy. Người mẹ nghèo khổ trong tác phẩm đã không vì cái
đói, cái cực của kiếp người tha hương cầu thực mà chai sạn tâm hồn, dửng
dưng, vô cảm với tình cảnh khốn cùng của người khác. Bà nói với người con
dâu mới với giọng “thân mật”, chân tình biết bao khi mời người đàn khốn khổ
theo không con trai bà “Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”
[7. 28]. Đọc đến đây người đọc hẳn thấy mình rưng rưng xúc động cũng như
cảm phục tấm lòng nhân ái của người mẹ trong truyện. Đồng thời, ta cảm nhận
được tình người thật ấm áp bởi trong cái đói thê thảm, những người nghèo vẫn
giang rộng vòng tay, che chở, yêu thương nhau. Giá trị nhân đạo của tác phẩm
được thể hiện rõ ở nhân vật này là vì thế.
Bên cạnh tình yêu thương với người cùng cảnh ngộ, bà cụ Tứ hiện lên là
một người mẹ có lòng yêu thương con vô bờ. Con trai có vợ vào lúc đói kém,
người chết vì đói “như ngả rạ” đã tác động mạnh đến tâm lí của người mẹ. Bà
cụ Tứ có những cảm xúc đan xen phức tạp, bà vui vì con có được vợ nhưng
buồn, lo lắng “Biết rằng chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát
này không.” [7. 28]. Hơn nữa, nỗi tủi của người mẹ không lo được chuyện trăm
năm cho con cứ đầy lên uất nghẹn “Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo

lắng được cho con…” [7. 28]. Người đọc nhận thấy sự thay đổi của người mẹ
ấy vào sáng hôm sau. Không còn khuôn mặt bủng beo u ám mà thay vào đó là
nét “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường” “rạng rỡ hẳn lên”, vượt lên cả cái
mệt mỏi của dáng đi “lọng khọng” là hàng động hoạt bát “xăm xắn thu dọn,
quét tước nhà cửa”. Trong bữa ăn đầu tiên của gia đình có nàng dâu mới, bà cụ
nói chuyện ngăn nhà nuôi gà với bao nhiêu là hi vọng. Người nói đến tương lai
nhiều nhất trong truyện lại là bà mẹ gần đất xa trời. Phải chăng người mẹ muốn
gieo vào lòng con trai, con dâu niềm tin vào sự đổi thay, vào sự sống bất diệt?
Cũng trong buổi sáng hôm ấy, bà cụ nấu nồi chè khoán để đãi nàng dâu mới.
Cái dáng lật đật, lễ mễ và hành động vừa khuấy khuấy vừa tươi cười đon đả
9


mới đáng kính và xúc động làm sao. Tình cảm của người mẹ được Kim Lân
diễn tả đầy đủ và tinh tế qua những từ láy đó. Phải chăng bà vội vã để níu kéo
niềm hạnh phúc mong manh mà bà cảm nhận đang mất đi trước thực tại đói
khổ? Có thể thấy, mọi suy nghĩ, hành động của bà cụ Tứ đều xuất phát từ lòng
thương con vô bờ. Người mẹ già ít nghĩ đến mình. Bà lo, thương, trĩu nặng, trăn
trở vì con. Đức hi sinh của bà thật cao cả.
Với nhân vật người mẹ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa lòng bao
dung, vị tha, đức hi sinh được thể hiện trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Bị chồng
đánh dã man nhưng chị không hề trách chồng mà nhận lỗi về mình “cái lỗi
chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá”. Cái lí do chị đưa ra mang trong nó
bao nhiêu là bao dung bởi chị cũng như những người đàn bà khác đâu có đẻ
một mình được. Điều đáng nói ở đây là người phụ nữ ấy nhận hết lỗi về mình
xuất phát từ niềm cảm thương sâu sắc dành cho chồng. Còn đối với những đứa
con, người đàn bà hàng chài là người mẹ yêu con đến mức có thể chịu mọi đau
đớn tủi cực vì con. Chị cần một đàn ông chèo chống lúc phong ba để nuôi đàn
con đông đúc lớn lên, dù có phải sống với một người chồng tàn ác, phải chịu
những trận đòn đau đớn. Hạnh phúc của người mẹ ấy thật giản dị nhưng cũng

rất hiếm hoi “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…” [7.
96]. Với chị, thiên chức của người mẹ gắn liền trách nhiệm bổn phận “Ông trời
sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi con khôn lớn cho
nên phải gánh lấy cái khổ” [7. 96]. Vì vậy, người đàn bà có một lựa chọn đầy
cay đắng, chị xin chồng “đưa lên bờ mà đánh”. Không phải chị không biết đến
quyền được giải thoát khỏi người chồng vũ phu. Ở đây chị khước từ nữ quyền
để thực hiện bổn phận làm mẹ với những đứa con. Câu nói “Cá chuối đắm đuối
vì con” quả là không sai. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã phát hiện và tôn vinh
cái đẹp trong hoàn cảnh nghiệt ngã của số phận. Tình mẫu tử cao cả được đặt
trong thử thách ghê gớm khiến người ta liên tưởng đến người mẹ trong tiểu
thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn, nhà văn đoạt giải thưởng Nobel năm
2012. Trong tác phẩm của nhà văn Trung Quốc, người mẹ già đi làm thuê
nhưng không đủ sức nuôi người con gái mù lòa và đứa cháu ngoại nên đã ăn
cắp. Bà nuốt những hạt đậu một cách vụng trộm rồi về nhà đau đớn móc ra.
10


Những hạt đậu nuôi con, nuôi cháu có dính cả máu, dịch nhờn của dạ dày. Mạc
Ngôn đã tìm cái đẹp ngay trong cái xấu, mĩ hóa cái xấu. Làm được điều đó phải
là một cây bút điêu luyện và một trái tim yêu thương con người, tôn vinh con
người ngay cả những giây phút cơ cực, nhọc nhằn nhất của kiếp nhân sinh.
Người mẹ trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn làm ta nhận ra
một điều: tình yêu của người mẹ thật diệu kì như câu danh ngôn “Vũ trụ có
nhiều kỳ quan nhưng tuyệt mĩ nhất chính là trái tim của người mẹ”
2. Sắc sảo, hiểu đời và trải đời
Nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ là
người mẹ có trái tim nhân hậu mà còn là người sắc sảo, hiểu đời. Bà ngạc
nhiên, “phấp phỏng” trước thái độ vồn vã, trang trọng của người con trai và
còn ngạc nhiên hơn khi trong nhà mình có một người đàn bà, lại chào bà “U đã
về ạ”. Bao suy đoán làm cho bà mẹ cứ phân vân, băn khoăn, điều bà không bao

giờ dám nghĩ tới - con trai bà có vợ, lại đến vào lúc bà không ngờ nhất. Do vậy,
bà cụ Tứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tuy nhiên, chỉ nghe mấy
câu nói của người con trai “Nhà tôi mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi
phải duyên phải kiếp với nhau…Chẳng qua nó cũng là cái số cả…” [7. 27], bà
mẹ ấy “cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu
biết bao cơ sự”. Cái cúi đầu nín lặng của bà cụ Tứ hàm chứa tất cả những éo le
mà bà đã đoán ra. Bà không hỏi con trai về điều Tràng đang tránh nói, không
dám kể và người phụ nữ lạ kia đang bẽ bàng, tủi hổ. Bằng sự từng trải, người
mẹ đã không tra xét mà bà nhìn, nghe và thấu thị những uẩn khúc trong câu
chuyện “nhặt” vợ để con trai đỡ căng thẳng và người đàn bà theo con trai mình
không bị tổn thương. Cách ứng xử của bà cụ Tứ vừa thông minh, vừa nhân ái
vô cùng.
Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu là nhân vật khá đặc trưng, tiêu biểu cho những khám phá
về con người của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Một kiểu nhân vật đa
diện mà ta khó có thể đánh giá kết luận bằng một mệnh đề đơn giản. Bề ngoài
chị là một người thất học, lạc hậu nhưng thực ra ở nhân vật này có sự trải đời,
thấu hiểu lẽ đời. Nếu như Đẩu và Phùng cho rằng người đàn ông đáng bị lên án
11


vì hành động thô bạo của anh ta thì người đàn bà hàng chài lại có những lí lẽ
riêng để thấy rằng người chồng của mình đáng được cảm thông. Chị không bỏ
người chồng dữ tợn của mình vì nhận thấy những biến đổi trong tính cách của
anh ta có căn nguyên từ cuộc sống đói nghèo. Anh phải lao động vất vả ở trên
một con thuyền chật mà con lại đông, nheo nhếch, khổ sở. Trong cảnh túng
quẫn, bức bối, bi phẫn người chồng thay đổi tâm tính từ người cục tính nhưng
hiền lành, không bao giờ đánh đập vợ trở thành người chồng vũ phu. Sự thâm
trầm trong việc thấu trải lẽ đời của người đàn bà làm cho Đẩu và Phùng có thêm
những vỡ lẽ về con người, cuộc đời và nghệ thuật. Vấn đề được Nguyễn Minh

Châu gợi ra ở đây là con người cần có cái nhìn đa diện và thấu đáo về cuộc đời.
Bà Hiền trong sáng tác Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải là một
người mẹ trí tuệ và đầy bản lĩnh - bản lĩnh mang cốt cách văn hóa. Lúc còn là
thiếu nữ, cô Hiền đã chọn bạn đời theo một tiêu chí riêng về mái ấm gia đình
khiến cả “Hà Nội phải kinh ngạc”. Trở thành mẹ, người phụ nữ ấy chú ý dạy
con biết tự trọng trong tư cách của người Hà Nội có văn hóa. Giữa những biến
động của thời cuộc, bà Hiền không a dua theo thời, thẳng thắn bày tỏ suy nghĩ
của mình “Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ” [7. 76]. Tuy có bộ
mặt rất tư sản, lối sống rất tư sản nhưng bà Hiền không phải đi học tập cải tạo
bởi bà đã khôn khéo bán ngôi nhà ở Hàng Bún, ngăn không cho chồng mua
máy in để kinh doanh. Người phụ nữ thanh lịch ấy chọn nghề làm hoa giấy vì
“rất đủ ăn, lại nhàn”. Những việc làm đó cho thấy sự thích ứng của con người
mang bản lĩnh văn hóa trước những biến động lớn của xã hội. Khép lại tác
phẩm là câu chuyện về cây si cổ thụ của bà Hiền khiến người cháu trầm trồ
ngưỡng mộ “Bà vẫn giỏi quá, khiêm tốn và rộng lượng quá” [7. 82]. Trước sự
băng hoại, xuống cấp của văn hóa Hà Nội do ảnh hưởng của nền kinh tế thị
trường, bà vẫn thể hiện niềm tin vào sự trường tồn của văn hóa đất kinh kì. Sự
sắc sảo ấy của bà có cội nguồn của sự từng trải. Qua Một người Hà Nội,
Nguyễn Khải muốn gửi gắm khám phá của ông về bản sắc văn hóa Hà Nội, cái
quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là nền tảng cho
bước phát triển của nó trong tương lai.
III. Nghệ thuật khắc họa nhân vật
12


1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật bà cụ Tứ
Kim Lân xây dựng nhân vật người mẹ trong tác phẩm của mình bằng một
tình huống truyện độc đáo. Việc Tràng dẫn người vợ “nhặt” về nhà giữa cảnh
người chết như ngả rạ vì đói đã tác động mạnh mẽ đến tâm lí của nhân vật
người mẹ. Những cảm xúc vui, buồn, âu lo, thương xót… đan xen nhau trong

nội tâm của bà cụ Tứ. Nhờ có tình huống truyện mà tâm lí nhân vật được diễn
tả thật tự nhiên, sống động. Vì thế, hình ảnh bà mẹ nhân hậu đọng lại trong trí
nhớ và để lại ấn tượng khó phai trong lòng bạn đọc.
Để miêu tả tâm lí nhân vật, nhà văn còn dùng phương thức trần thuật theo
ngôi thứ ba của người trần thuật giấu mình nhưng lời kể lại theo giọng điệu của
nhân vật (lời nửa trực tiếp) “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?
Người đàn nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào
mình bằng u? …” [7. 27]. Những suy nghĩ thầm kín của bà cụ Tứ đã cho thấy
sự tinh tế của nhà văn trong khắc họa phẩm chất của nhân vật. Tìm hiểu nhân
vật này khó có thể bỏ qua những lời độc thoại nội tâm cảm động như thế.
Mặt khác, trong sáng tác truyện ngắn, Kim Lân luôn coi trọng chi tiết.
Miêu tả nhân vật bà cụ Tứ, nhà văn đã tạo dựng được những chi tiết đắt giá như
chi tiết về ngoại hình nhân vật, chi tiết về nồi chè khoán…
2. Nghệ thuật miêu tả nhân vật bà Hiền và nhân vật mẹ của Tuất
Khi xây dựng nhân vật bà Hiền, nhân vật bà mẹ của Tuất, nhà văn Nguyễn
Khải sử dụng phương thức trần thuật ở ngôi thứ nhất. Nhân vật kể chuyện xưng
“tôi” là người cháu họ của bà Hiền, mang dáng dấp của chính tác giả. Sử dụng
cách trần thuật ở ngôi thứ nhất, ngòi bút Nguyễn Khải được tự do lựa chọn chi
tiết, không quá lệ thuộc vào một cốt truyện chặt chẽ. Hơn nữa, nhà văn có thể
thoải mái xen vào những lời bình luận nhận xét của người kể chuyện ví như
người “cháu” đánh giá về vẻ đẹp văn hóa Hà Nội ở nhân vật bà Hiền qua hình
ảnh “hạt bụi vàng”. Trong truyện, nhiều đoạn văn có những lời bình luận như
thế. Nhờ có phương thức trần thuật này, tác giả tạo được một ngữ cảnh gần gũi
với độc giả, gợi không khí một cuộc trò chuyện trực tiếp, lại dễ làm cho người
đọc tin vào những điều được kể. Nhân vật “tôi” khi kể lại những điều mình thấy
về bà Hiền còn luôn tự đối sánh, nhìn lại để phản tỉnh những quan niệm ấu trĩ,
13


giản đơn của mình để từ đó làm nổi bật những giá trị văn hóa bền vững trong

lối sống, cách ứng xử của bà Hiền.
Nhân vật mẹ Tuất được kể qua điểm nhìn của Dũng, con trai lớn của bà
Hiền. Người mẹ Hà Nội ấy được hiện lên qua những suy ngẫm của Dũng vừa
cảm động vừa mang những chiêm nghiệm sâu sắc.
3. Nghệ thuật miêu tả nhân vật người đàn bà hàng chài
Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu cũng sử dụng
cách trần thuật ở ngôi thứ nhất. Nhân vật Phùng đóng vai trò là người kể
chuyện. Câu chuyện về người đàn bà hàng chài được Phùng kể lại với những
nhận thức của người nghệ sỹ về nghệ thuật và con người. Mặt khác, hình tượng
người đàn bà được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn khác nhau: của Đẩu - chánh án
tòa án huyện, của thằng Phác - con của người đàn bà và của chính người đàn
bà ấy. Sự di chuyển điểm nhìn trần thuật khiến cho đối tượng hiện ra từ nhiều
phía, đồng thời cũng cho thấy những quan điểm khác nhau, thái độ khác nhau
qua cùng một sự kiện. Nhà văn qua đó khám phá được vẻ đẹp khuất lấp của
người đàn bà, tránh cái nhìn đơn giản, một chiều về con người. Đây chính là
thành công của Nguyễn Minh Châu trong hành trình tự vượt mình, đem lại
tiếng nói mới góp phần làm thay đổi văn học Việt Nam những năm 80 của thế
kỉ trước.

Kết Luận
14


Tóm lại, nhân vật người mẹ ở cả ba tác phẩm đều mang trong mình những
phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: giàu đức hi sinh, vị tha, tình
mẫu tử cao đẹp, trí tuệ… Khi miêu tả, phát hiện và tôn vinh những vẻ đẹp đó
của nhân vật người mẹ, các nhà văn đã đem lại cho tác phẩm giá trị nhân đạo
sâu sắc, gợi trong lòng độc giả những rung cảm thẩm mĩ có sức ám ảnh và lan
tỏa.
Tuy nhiên, văn chương không bao giờ chấp nhận lối mòn, bất cứ sự lặp lại

nào (người khác hay chính mình) sẽ dẫn đến con đường khai tử cho nghệ thuật.
Thấu hiểu điều đó, các nhà văn Kim Lân, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu
đều có những khám phá riêng ở hình tượng người mẹ. Bà cụ Tứ trong truyện
ngắn của Kim Lân được đặt vào bối cảnh của nạn đói 1945. Từ đó nhà văn làm
nổi bật lên chủ đề “Những người đói họ không nghĩ đến cái chết mà họ nghĩ
đến cái sống” và lòng nhân ái, tình mẫu tử cao đẹp của bà mẹ nghèo chính là
tình người nhà văn muốn gửi gắm tới bạn đọc. Còn Nguyễn Khải, trong tác
phẩm của mình đã đặt nhân vật vào những biến cố lịch sử của dân tộc qua hai
cuộc kháng chiến và thời kì đổi mới. Chính những sự kiện đó góp phần tô đậm
bản lĩnh văn hóa của người Hà Nội. Đến với tác phẩm của Nguyễn Minh Châu,
người đọc nhận thấy nhân vật người mẹ được phản ánh trong cuộc sống mưu
sinh đời thường. Qua đó, nhà văn phát hiện, tôn vinh vẻ đẹp của con người
ngay cả trong hoàn cảnh nghiệt ngã của số phận.

Phần 2: Luyện tập
I. Đề bài :
1. Phân tích nhân vật bà Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội của nhà văn
Nguyễn Khải.
2. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn
Vợ nhặt của Kim Lân.
15


3. Có ý kiến cho rằng: sự nhẫn nhục của Từ (Đời thừa - Nam Cao) không đáng
trách chỉ đáng thương, còn sự nhẫn nhục của người đàn bà hàng chài (Chiếc
thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu) thì vừa đáng thương vừa đáng trách.
Từ cảm nhận về hai nhân vật này, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.
(Đề thi Đại học Khối C năm 2013)
4. Nhận xét về truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, có ý
kiến cho rằng: “Trên trang viết của Nguyễn Minh Châu hiện lên cả một hiện

thực bộn bề, ngổn ngang và trên những mảng tối của cuộc sống vẫn lấp lánh
bao vẻ đẹp bình dị”. Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, anh chị hãy làm
sáng tỏ ý kiến trên.
5. Cảm nhận của anh /chị về vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ
nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xaNguyễn Minh Châu).
(Đề thi Đại học Khối C năm 2009)
6. Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật bà cụ Tứ (Vợ nhặt- Kim Lân) và người
đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu).

II. Hướng dẫn giải đề
Đề 4:
A. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả:
+ Cây bút tiên phong trong đổi mới văn học sau 1975
+ Nhà văn có nỗ lực đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người
- Giới thiệu tác phẩm: truyện ngắn tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác thứ hai của
Nguyễn Minh Châu, cho thấy những tìm tòi khám phá của nhà văn về nghệ
thuật và con người.
- Trích dẫn ý kiến
B. Thân bài
16


1. Giải thích ý kiến
- “ Một hiện thực bề bộn, ngổn ngang” tức là hiện thực đời sống như nó vốn có:
phức tạp, đa sự, tầng tầng lớp lớp, khó có thể nắm bắt hết được.
- “mảng tối” : cái ác, cái xấu còn tồn tại
- “vẻ đẹp bình dị”: cái đẹp ở đời thường
Ý của câu nói: khẳng định giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu. Dẫu trong cái nền cảnh tối tăm, u ám của đời sống, nhà

văn vẫn tin vào vẻ đẹp của con người. Đây là một ý kiến đúng.
2. Chứng minh ý kiến qua hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài
a. Một hiện thực bề bộn, ngổn ngang và những mảng tối của cuộc sống
- Cuộc đời lao động cực nhọc, lam lũ của người phụ nữ làm nghề lưới vó
+ Thức trắng đêm kéo lưới “mặt tái ngắt”, mệt mỏi, buồn ngủ.
+ Phải chống trọi với biển động, sóng gió, có khi không bắt được cá cả nhà phải
ăn xương rồng luộc chấm muối.
+ Vất vả, cực khổ mà vẫn nghèo vẫn đói, con không được ăn no, tấm áo chị
mặc “bạc phếch có miếng vá”.
- Cuộc đời nhiều đau khổ, đắng cay
+ Nỗi đau thể xác: bị chồng đánh đạp tàn bạo “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày
một trận nặng”.
+ Nỗi đau tinh thần: đau đớn vì bị đối xử tàn tệ, xấu hổ và nhục nhã khi có
người chứng kiến, nơm nớp lo sợ con bị tổn thương.
* Như vậy hiện thực cuộc sống được thể hiện qua hình tượng người đàn bà
hàng chài là cuộc sống mưu sinh quá cơ cực. Chính cuộc sống ấy đã hủy hoại
dáng vẻ, ngoại hình của người phụ nữ này. Nó cũng gây ra bao nỗi bất hạnh
trong chị. Qua đó, nhà văn bày tỏ những khắc khoải, lo âu trước cái ác, cái xấu
có trong cuộc đời.
- Hiện thực về thái độ đánh giá nhìn nhận con người
+ Những suy nghĩ của người đàn bà về người chồng trái ngược với những đánh
giá của Đẩu và Phùng.

17


+ Nhà văn muốn nói con người không dễ hiểu cũng như tầng tầng lớp lớp hiện
thực khó có thể thấu suốt. Do vậy, ta cần có cái nhìn đa chiều, thấu đáo về con
người và cuộc đời.
b. Vẻ đẹp bình dị

- Vẻ đẹp của tình mẫu tử
+ Giàu đức hi sinh: Không bỏ chồng vì các con chị cần lớn lên, chị cần có
chồng để nuôi một đàn con đông đúc.
+ Nâng niu niềm hạnh phúc giản dị: trong cả cuộc đời bất hạnh của người mẹ
vẫn ánh lên niềm vui hiếm hoi là nhìn đàn con được ăn no.
+ Tránh làm tổn thương con khi có thể: thỏa thuận với chồng, xin chồng đưa
mình lên bờ mà đánh.
- Vẻ đẹp của tấm lòng bao dung, thấu hiểu lẽ đời
+ Không trách chồng, nhận lỗi về mình
+ Cảm thông với nỗi bí bách của chồng trong cuộc sống mưu sinh vất vả
3. Đánh giá
- Khẳng định lại một lần nữa ý kiến đúng
- Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa cho thấy cái nhìn mới mẻ của nhà văn về
hiện thực và con người. Đồng thời nó cũng cho thấy tấm lòng đôn hậu của nhà
văn khi tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh “vẻ đẹp người” còn tiềm ẩn. Đây chính là
giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
C. Kết bài
- Chiếc thuyền ngoài xa là một truyện ngắn hay, tiêu biểu cho nghệ thuật viết
văn của Nguyễn Minh Châu.
- Người đọc khó có thể quên hình tượng người đàn bà hàng chài với “vẻ đẹp
người” thấm đẫm chất nhân văn.
Đề 6:
A. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nhân vật
+ Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, là nhà văn của thuần hậu
nguyên thủy, một lòng đi về với đất và người ở thôn quê. Vợ nhặt là truyện
18


ngắn xuất sắc, tiêu biểu cho văn phong của Kim Lân. Tác phẩm đã xây dựng

thành công hình tượng nhân vật người mẹ - bà cụ Tứ.
+ Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên
phong thời đổi mới. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau,
thể hiện nỗi lo âu của nhà văn đối với con người và những trăn trở về trách
nhiệm của người nghệ sĩ. Trong tác phẩm, nhân vật người đàn bà hàng chài để
lại những ấn tượng đậm nét trong lòng độc giả.
B. Thân bài
1. Điểm gặp gỡ trong hai hình tượng
a. Cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ
- Đói nghèo làm hủy hoại ngoại hình, dáng vẻ.
- Đói nghèo gây ra bao cay đắng, bất hạnh.
b. Vẻ đẹp tâm hồn
- Giàu đức hi sinh, vị tha, bao dung đặc biệt là tình yêu con vô bờ.
- Trải đời, hiểu đời, sắc sảo.
2. Điểm khác biệt
- Bà cụ Tứ được nhà văn miêu tả gắn với khía cạnh chủ đề: “Những người đói
họ không nghĩ đến cái chết mà họ nghĩ đến cái sống” đồng thời thể hiện sự ngợi
ca của tác giả về tình yêu thương giữa người với người trong nạn đói khủng
khiếp 1945.
Người đàn bà hàng chài trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu với vẻ đẹp
khuất lấp đã cho thấy quan niệm mới về con người của nhà văn đó là không thể
nhìn nhận đánh giá con người một cách giản đơn, một chiều được.
- Chân dung bà cụ Tứ được hiện lên từ vẻ bề ngoài cho đến thế giới nội tâm
phong phú, nhiều diễn biến hết sức tinh tế. Nhà văn Kim Lân sử dụng phương
thức trần thuật theo ngôi thứ ba với ngôn ngữ đối thoại, độc thoại làm cho nhân
vật hiện lên sắc nét. Còn khi xây dựng nhân vật người đàn bà, Nguyễn Minh
Châu không chú trọng miêu tả diễn biến nội tâm của nhân vật. Tác giả sử dụng
phương thức trần thuật theo ngôi thứ nhất và dùng nhiều điểm nhìn trần thuật
để cho nhân vật này được hiện lên từ nhiều phía, đa diện có chiều sâu.
3. Lí giải vì sao có sự giống, khác nhau

19


- Giống nhau là do:
+ Cả hai nhà văn đều có cái nhìn đầy yêu thương với con người, đặc biệt là
những người mẹ tảo tần, giàu đức hi sinh.
- Khác nhau là do:
+ Cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn
C. Kết bài
- Bằng tài năng của mình, Kim Lân và Nguyễn Minh Châu đã tạc vào dòng
chảy thời gian hình tượng nhân vật người mẹ: bà cụ Tứ và người đàn bà hàng
chài.
- Một lần nữa ta thấy được sự diệu kì của tác phẩm văn chương qua những hình
tượng nhân vật có sức ám ảnh mạnh mẽ đối với tâm hồn con người.

Tài liệu tham khảo
1. Phan Huy Dũng, Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông một góc
nhìn, một cách đọc, NXB Giáo dục, 2009.
2. Hà Minh Đức (Chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, 1996.
3. Đỗ Kim Hồi- Bùi Minh Toán (Đồng Chủ biên), Ôn tập Ngữ văn 12, NXB
Giáo dục Việt Nam 2010.
20


4. Nguyễn Văn Long, Văn học Việt Nam trong thời đại mới, NXB Giáo dục,
2002.
5. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn,
NXB Giáo dục, 2004
6. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12
Nâng cao, NXB Giáo dục, 2007.

7. Trần Đình Sử (Tổng Chủ biên) Sách giáo khoa Ngữ văn 12, Nâng cao, tập 2,
NXB Giáo dục, 2012
8. Nguyễn Thành Thi (Chủ biên), Tư liệu Ngữ văn 12, NXB Giáo dục, 2009.
9. Lưu Đức Trung (Chủ biên), Chân dung các nhà văn thế giới, NXB Giáo dục,
2004.
10. Nguyễn Minh Châu truyện ngắn, NXB Văn học, 2003.
11. Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải, NXB Hội Nhà văn, 2002.

21



×