Tải bản đầy đủ (.pdf) (140 trang)

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần Thuyết động học phân tử vật chất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (915.74 KB, 140 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 KHOA VẬT LÝ 

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài :

GVHD : Thạc Sĩ Lương Hạnh Hoa
SVTH : Đỗ Thành Nhân
Khóa học : 2004 - 2008

TP.HCM, Tháng 5 - 2008


PHẦN I : MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài :
Trong quá trình dạy học, truyền đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho
người học là rất quan trọng. Bên cạnh đó thì kiểm tra và đánh giá kết quả học
tập của người học tuy là khâu cuối cùng trong quá trình dạy học nhưng cũng
đóng vai trò quan trọng không kém. Vì có kiểm tra và đánh giá kết quả học tập
thì người dạy mới nhận thấy được tính hiệu quả về công việc của mình trong
quá trình dạy học. Còn người học biết được mình cần phải bổ sung những kiến
thức và kỹ năng nào trong chương trình học. Từ đó mà người dạy mới phát huy
hay là điều chỉnh lại phương pháp dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng dạy
học hơn nữa, còn người học tự điều chỉnh lại phương pháp học để hoàn thiện
thêm kiến thức và kỹ năng cho mình.
Mặt khác để đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực
có chất lượng cao cho đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay đòi hỏi
nhà trường và đội ngũ những người làm công tác giảng dạy phải có chuyên
môn, nghiệp vụ, năng lực và phải tiếp cận với các phương pháp giáo dục tiên


tiến trên thế giới. Muốn vậy nền giáo dục Việt Nam cần phải có sự đổi mới về
mọi mặt, trong đó việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập là một trong những
mũi nhọn của sự đổi mới.
Trước đây, trong dạy học người ta thường dùng hình thức thi tự luận để kiểm
tra và đánh giá, tuy nhiên hình thức thi này còn nhiều hạn chế như : người học
có thể gian lận trong lúc làm bài, việc chấm điểm còn phụ thuộc vào yếu tố chủ
quan của người chấm, bài kiểm tra không bao quát hết nội dung chương trình
dẫn đến tình trạng học tủ. Bên cạnh đó có một hình thức thi có thể khắc phục
được những mặt hạn chế của hình thức thi tự luận đó là hình thức thi trắc
nghiệm khách quan. Với một bài thi nhiều câu hỏi thì hình thức thi trắc nghiệm
và khách quan có thể bao quát hết nội dung của chương trình học, từ một đề thi
gốc có thể tạo ra nhiều đề thi khác mà chất lượng mỗi đề vẫn thi như nhau, từ
đó hạn chế được sự gian lận trong thi cử, thêm vào đó có thể chấm bài thi rất
nhanh mà lại rất khách quan.
Từ những ưu điểm của hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập bằng
trắc nghiệm khách quan cùng với xu hướng của giáo dục hiện nay thì hình thức
thi trắc nghiệm khách quan đã và đang được áp dụng ở mọi cấp học. Trong các
kỳ thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng những năm gần đây Bộ Giáo Dục Và
Đào Tạo cũng đã sử dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan. Các trường Đại
Học trong cả nước, cũng như ở trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM và Khoa Vật
Lý của em cũng đã áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan này.
Nhận thấy được nhiều ưu điểm của hình thức thi trắc nghiệm khách quan, và
với mong muốn được giúp cho các bạn sinh viên trong khoa Vật Lý có thêm tài
liệu tham khảo về hình thức thi trắc nghiệm khách quan trong lónh vực Nhiệt
Học nên em đã quyết đònh chọn đề tài nghiên cưú là : Xây dựng hệ thống câu
hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Nhiệt Học phần “ Thuyết Động
1


Học Phân Tử Của Vật Chất ” cho sinh viên Khoa Vật Lý trường Đại Học

Sư Phạm TP.HCM .

2/ Mục đích của đề tài :
- Nghiên cưú cách thức soạn thảo và sử dụng phương pháp trắc nghiệm
khách quan nhiều lựa chọn.
- Ứng dụng cách thức soạn thảo câu trắc nghiệm để xây dựng hệ thống câu
hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn phần : “ Thuyết động học phân tử của vật chất
”.
- Soạn ra một đề thi giữa kỳ cho sinh viên Khoa Vật Lý làm bài, từ đó lấy số
liệu phân tích và đánh giá lại hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đã soạn.
- Nâng cao khả năng soạn thảo câu trắc nghiệm để phục vụ hoạt động dạy
học sau này.

3/ Nhiệm vụ của đề tài :
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hình thức đánh giá kết quả học tập bằng trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn .
- Phân tích nội dung kiến thức của phần : “ Thuyết động học phân tử của vật
chất ”
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần : “ Thuyết động học phân tử
của vật chất ”.
- Thực nghiệm sư phạm cho sinh viên năm I Khoa Vật Lý.
- Xử lý kết quả để đánh giá lại chất lượng câu hỏi trắc nghiệm từ đó sửa
chữa và hoàn thiện lại hệ thống câu hỏi.

4/ Đối tượng của đề tài :

Nghiên cứu việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập bằng hình thức thi trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn.

5/ Phạm vi của đề tài :

- Nghiên cứu việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập phần : “ Thuyết động
học phân tử của vật chất ” bằng hình thức thi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn.
- Đề tài được tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với sinh viên năm I hệ
chính quy và hệ cử nhân Khoa Vật Lý của trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM.

6/ Phương pháp nghiên cứu :
- Về mặt lý luận :
+ Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến hình thức kiểm tra và đánh
giá bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan .
+ Tham khảo các tài liệu chuyên môn liên quan đến phần “ Thuyết động
học phân tử của vật chất ”
+ Tham khảo các sách trắc nghiệm đã soạn sẵn của các tác giả.
- Về mặt thực nghiệm :
2


+ Tổ chức thi trắc nghiệm với hệ thống câu trắc nghiệm đã soạn sẵn cho
sinh viên năm I hệ chính quy và cử nhân Khoa Vật Lý của trường Đại Học Sư
Phạm TP.HCM.
+ Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê để đánh giá lại hệ thống câu
hỏi trắc nghiệm.
- Về phương tiện :
+ Tìm kiếm tài liệu thông qua sách giáo trình và mạng Internet.
+ Các đề thi trắc nghiệm trước đây.
+ Máy vi tính và phần mềm soạn đề trắc nghiệm.

PHẦN II : NỘI DUNG

3



Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN
I/ Tổng quan về đo lường và đánh giá kết quả học tập :
1/ Đo lường là gì ?
- Đo lường là quá trình thực hiện một lối mô tả để xác đònh mức độ của một
đặc điểm hay một tiêu chí nào đó, và mức độ này được biểu diễn bằng một chỉ
số của thang đo.
- Đo lường thành quả học tập là lượng giá mức độ đạt được các mục tiêu cuối
cùng hay tiêu chí trong một khoá học, một giai đoạn học.
Chú ý : Trong bất kì sự đo lường nào cũng cần có thước đo, trong đo lường
thành quả học tập thì điểm số là số đo, tuy nhiên điểm số không phải là một
thang đo vật lý với những tỉ lệ nhất đònh. Một học sinh 9 điểm không phải là
người có trình độ gấp 3 lần người có điểm 3, một người có điểm 0 không phải là
người chẳng có chút kiến thức nào.
2/ Đánh giá là gì ?
- Đánh giá là quá trình hình thành những nhận đònh, phán đoán về kết quả
của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với
những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết đònh thích hợp
để nâng cao chất lượng công việc.
- Đánh giá là phương tiện để xác đònh các mục đích và mục tiêu của một
công việc có đạt được hay không.
- Đánh giá là quá trình thu thập, phân tích, và giải thích thông tin một cách
có hệ thống nhằm xác đònh mức độ đạt đến các mục tiêu giảng dạy về phía học
sinh.
- Các loại đánh giá :
+ Đánh giá khởi sự : là lối đánh giá liên quan đến thành tích ban đầu,
những kiến thức, kỹ năng nào mà học sinh đang có để bước vào nội dung giảng

mới.
+ Đánh giá hình thành : được dùng để theo dõi sự tiến bộ của học sinh
trong quá trình giảng dạy, nhằm giúp giáo viên điều chỉnh lại hoạt động dạy.
+ Đánh giá chẩn đoán : liên quan đến sự khó khăn của học sinh trong quá
trình học tập mặc dù giáo viên đã cố gắng sửa chữa bằng mọi cách, lúc này
người giáo viên phải đánh giá chẩn đoán chi tiết hơn nữa nhằm phát hiện ra
nguyên nhân và biện pháp sửa chữa.
+ Đánh giá tổng kết : thường được thực hiện vào cuối thời kỳ giảng dạy
một khoá học. Đánh giá loại này nhằm xác đònh mức độ đạt được các mục tiêu
giảng huấn của học sinh đến đâu, từ đó xem xét lại hiệu quả của việc giảng
dạy.
3/ Trắc nghiệm là gì ?
Trắc nghiệm là một hoạt động để đo lường năng lực của các đối tượng nào
đó nhằm những mục đích xác đònh. Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành
thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối
4


với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hay là
tuyển chọn những người có năng lực nhất vào một khoá học .
a/ Các phương pháp trắc nghiệm :

Các loại trắc nghiệm

Quan sát

Viết

Trắc nghiệm khách quan


Đúng
sai

Ghé
p đôi

Điền
khuyết

Vấn đáp

Trắc nghiệm tự luận

Nhiều
lựa

Tiểu
luận

Giải đáp vấn
đề đặt ra

- Quan sát :
+ Giúp xác đònh những thái độ, những phản ứng vô thức, những kỹ năng
thực hành và một số kỹ năng về nhận thức. Chẳng hạn cách giải quyết vấn đề
trong một tình huống nào đó.
+ Quan sát sư phạm : Sử dụng trong trường hợp cần ghi lại những nét độc
đáo về tình cách, thái độ, hành vi, tình huống xảy ra trong dạy học.
+ Phương pháp này thường không có tiêu chuẩn đồng nhất khi đánh giá,
được sử dụng chủ yếu để đánh giá học nhỏ tuổi hoặc có hứng thú đặc biệt.

+ Nhược điểm : kết quả đánh giá bò ảnh hưởng bởi tính chủ quan của
người chấm.
- Vấn đáp :
+ Là phương pháp kiểm tra đánh giá mức độ thu nhận kiến thức cũng như
khả năng tư duy của học sinh thông qua việc đối thoại trực tiếp giữa giáo viên
và người học.
+ Có tác dụng tốt khi nêu lên các câu hỏi phát sinh trong một tình huống
cần kiểm tra. Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người
chấm và người học là quan trọng . Chẳng hạn như nhà tuyển dụng cần xác đònh
thái độ khi phỏng vấn ...
+ Nhược điểm : ảnh hưởng bởi tính chủ quan của người chấm, tốn nhiều
thời gian và không thể kiểm tra một lúc hết tất cả nội dung.
- Viết
5


+ Luận đề : đây là bài đo lường dưới dạng những câu hỏi bắt buộc người
học trả lời theo dạng mở, người học phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết
dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra.
+ Trắc nghiệm khách quan : là phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả
học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan, mỗi câu
hỏi nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho người học chỉ
phải trả lời vắn tắt cho từng câu.
+ Ưu điểm của phương pháp viết là có thể kiểm tra nhiều người cùng một
lúc và có thể đo lường được tư duy ở mức độ cao.
b/ Lòch sử nghiên cứu về trắc nghiệm khách quan :
- Phương pháp đo lường thành quả học tập bằng phương pháp trắc nghiệm
khách quan đầu tiên được tiến hành vào thế kỉ XVII - XVIII tại Châu Âu. Sang
thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được chú ý
nhiều hơn.

- Năm 1904 nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet trong quá trình nghiên
cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã nghiên cứu một số bài trắc nghiệm về trí
thông minh. Vì vậy trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm
Stanford-Binet.
- Vào đầu thế kỉ XX, E. Thorm Dike là người đầu tiên dùng phương pháp
trắc nghiệm khách quan để đo lường trình độ học sinh trong môn đại số và sau
đó là một số môn khác.
- Ở Việt Nam trắc nghiệm khách quan được sử dụng muộn hơn. Năm 1960
đã có một số tác giả sử dụng trắc nghiệm khách quan trong ngành học tâm lý.
- Năm 1969 tác giả Dương Thiệu Tống đã đưa một số môn trắc nghiệm
khách quan vào giảng dạy tại lớp cao học ở trường đại học Sài Gòn.
- Năm 1974 ở miền Nam đã thi tú tài bằng phương pháp trắc nghiệm khách
quan.
- Tháng 7 năm 1996 phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được thí điểm
trong kì thi tuyển sinh đại học tại trường Đại Học Đà Lạt và đã thành công.
- Hiện nay hình thức thi trắc nghiệm đã được sử dụng rộng rãi tại các trường
đại học cũng như phổ thông.

4/ Các loại trắc nghiệm :
- Trắc nghiệm tâm lý và trắc nghiệm giáo dục :
+ Trắc nghiệm tâm lý là các trắc nghiệm dùng để đo phẩm chất và khả
năng tâm lý của con người. Chẳng hạn như : trắc nghiệm trí tuệ, trắc nghiệm
nhân cách...
+ Trắc nghiệm giáo dục là các trắc nghiệm liên quan đến đo lường các
thành quả học tập các môn học của học sinh.
6


- Trắc nghiệm chuẩn mực và trắc nghiệm tiêu chí :
+ Trắc nghiệm chuẩn mực là trắc nghiệm được soạn ra nhằm cung cấp

một số đo lường thành tích mà người ta có thể giải thích được căn cứ trên vò thế
tương đối của một cá nhân so với một nhóm người nào đó đã được biết .
+ Trắc nghiệm tiêu chí là trắc nghiệm được soạn ra nhằm cung cấp một
số đo lường mức độ thành thạo mà người ta có thể giải thích được căn cứ trên
một lónh vực các nhiệm vụ học tập đã được xác đònh và được giới hạn .
- Trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo và trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá :
+ Trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo : là loại trắc nghiệm thành tích
được dùng để đo lường tri thức hoặc kỹ năng của học sinh trong một giai đoạn
học tập về một môn học hay một lónh vực khoa học cụ thể nào đó. Những bài
trắc nghiệm này thường được giáo viên soạn thảo vào cuối học kỳ hay khóa học
nào đó chứ không có sẵn.
+ Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá là loại trắc nghiệm do các chuyên gia về
trắc nghiệm soạn thảo, sau đó được đưa đi thử nghiệm và chỉnh sửa nhiều lần.
Trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa được xem như là chuẩn mực, nên nó có tính tin cậy
rất cao và được phân phối trên thò trường.
Bảng so sánh
Trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa
- Được soạn thảo dựa trên nội dung và
mục tiêu của một quốc gia, vùng rộng
lớn.
- Đề cập đến những phần rộng của tri
thức

Trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo
- Được soạn thảo dựa trên nội dung và
mục tiêu của một lớp học .
- Đề cập đến một chủ đề hay một kỹ
năng chuyên biệt nào đó.
- Được soạn thảo bởi một giáo viên.


- Được soạn thảo bởi các chuyên gia
trắc nghiệm.
- Sử dụng câu trắc nghiệm đã được thử
nghiệm.
- Có độ tin cậy cao
- Cung cấp các chuẩn mực cho nhiều
nhóm người khác nhau.

- Dùng những câu trắc nghiệm chưa
được kiểm chứng.
- Có độ tin cậy không cao
- Thường được giới hạn trong lớp học
hay một trường.

5/ Cơ sở để đánh giá bài trắc nghiệm :
a/ Tính tin cậy :
- Là một khái niệm cho biết mức độ ổn đònh, tính vững chãi của các kết quả
đo được khi tiến hành đo vật thể đó nhiều lần.
Ví dụ : Khi cân một gói đường, lần đầu tiên cân được 105 gam, lần hai cân
được 100gam, lần thứ ba cân được 95 gam , ta nói cái cân có tính tin cậy.
- Một bài trắc nghiệm được xem là đáng tin cậy khi nó cho ra những kết quả
có tính cách vững chãi. Có nghóa là nếu làm bài trắc nghiệm ấy nhiều lần, mỗi
học sinh vẫn giữ được thứ hạng tương đối của mình trong nhóm.
7


- Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tin cậy :
+ Chọn mẫu các câu hỏi : một bài trắc nghiệm chỉ có khoảng mấy chục
câu, trong khi đó có hàng ngàn câu hỏi trắc nghiệm có thể dùng để khảo sát
kiến thức đó. Do đó một điểm số duy nhất dựa trên một mẫu các câu trắc

nghiệm không phải là hoàn toàn đáng tin cậy.
+ Yếu tố may rủi trong việc chọn đáp án : nếu học sinh càng có nhiều
câu phỏng đoán may rủi thì khi học sinh đó làm lại bài trắc nghiệm nhiều lần thì
điểm số có thể khác nhau nhiều, dẫn đến bài trắc nghiệm không đáng tin cậy.
+ Độ khó của bài trắc nghiệm : nếu bài trắc nghiệm có nhiều câu dễ thì
điểm số tập trung vào đầu mút cao, hoặc là nếu bài trắc nghiệm toàn câu khó
thì điểm số tập trung vào đầu mút thấp dẫn đến giáo viên không phân biệt được
trình độ khác nhau của học sinh, do đó bài trắc nghiệm không còn đáng tin cậy.
- Những điều cần làm để gia tăng tính tin cậy :
+ Hạn chế sử dụng câu trắc nghiệm hai lựa chọn .
+ Viết những lời chỉ dẫn sao cho thật rõ ràng để học sinh khỏi nhầm lẫn
+ Chuẩn bò trước các bảng điểm, ghi rõ câu đúng.
+ Nên tham khảo các đồng nghiệp về các câu trắc nghiệm trước khi cho
kiểm tra
b/ Tính giá trò :
- Tính giá trò của một dụng cụ đo là một khái niệm chỉ ra rằng dụng cụ này
có khả năng đo đúng được cái cần đo.
Ví dụ : Khi cân gói đường 100 gam, nếu bỏ lên cân thấy 100gam thì cái cân
có tính giá trò, nếu cân nhiều lần thấy 80gam thì cái cân có tính tin cậy chứ
không có tính giá trò.
- Phân loại tính giá trò của các câu trắc nghiệm :
+ Giá trò đồng thời : nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm
với một tiêu chí khác đồng thời, đã có sẵn mà bài trắc nghiệm muốn đo lường.
+ Giá trò tiên đoán : nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm
với một tiêu chí khác căn cứ vào khả năng ở thời điểm tương lai.
+ Giá trò nội dung : là mức độ bao trùm được nội dung môn học, bài học .
+ Giá trò khái niệm tạo lập : là giá trò liên quan đến các loại học tập được
quy đònh trong các mục tiêu dạy và học như : mục tiêu biết, thông hiểu, phân
tích ...
+ Giá trò thực nghiệm : là loại giá trò nói lên sự tương quan giữa các điểm

số trắc nghiệm với một tiêu chí ( hay một loại đo lường nào khác) về khả năng
mà bài trắc nghiệm muốn đo lường .
+ Giá trò yếu tố : là sự tương quan giữa bài trắc nghiệm ấy với yếu tố
chung cho cả một nhóm gồm nhiều bài trắc nghiệm.
Chú ý : Một bài trắc nghiệm có thể có tính tin cậy mà không có tính giá trò
Nhưng một bài trắc nghiệm không có tính tin cậy thì chắc chắn không có tính
giá trò.
6/ So sánh về tự luận và trắc nghiệm khách quan
a/ Điểm giống nhau :
8


- Đều có thể đo lường hầu hết mọi thành quả học tập quan trọng mà một bài
khảo sát bằng phương pháp viết có thể khảo sát được.
- Đều có thể được sử dụng để khuyến khích học sinh học tập nhằm đạt đến
các mục tiêu : hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, ứng
dụng kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề.
- Đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phán đoán chủ quan.
- Gía trò của cả hai loại trắc nghiệm và luận đề tuỳ thuộc vào tính khách
quan và tính tin cậy của chúng.
b/ Điểm khác nhau
Luận đề
- Đòi hỏi người học phải tự soạn câu
trả lời và diễn tả nó bằng ngôn ngữ
của chính mình.
- Ít câu hỏi, nhưng câu hỏi mang tính
chất tổng quát với câu trả lời dài dòng.
- Người làm bài phải tốn nhiều thời
gian để suy nghó và viết.
- Chất lượng của bài luận đề phụ thuộc

vào kỹ năng của người chấm bài.
- Dễ soạn đề tự luận nhưng khó chấm
bài, khó cho điểm chính xác.
- Người làm bài có nhiều bộc bạch cá
tính của mình trong câu trả lời, người
chấm bài có thể tự do cho điểm theo
xu hướng của mình.
- Các mục tiêu trong học tập không thể
hiện được rõ ràng.
- Cho phép và đôi khi khuyến khích sự
“lừa phỉnh”. Vì người học có thể dùng
các từ ngữ hoa mỹ, các phát biểu khó
xác đònh được.
- Sự phân bố điểm số của một bài thi
luận đề có thể được kiểm soát một
phần lớn do người chấm.

Trắc nghiệm khách quan
- Bắt buộc người học phải lựa đáp án
đúng nhất trong một số câu có sẵn.
- Gồm nhiều câu hỏi mang tính chất
chuyên biệt với câu trả lời ngắn.
- Người làm bài phải tốn nhiều thời
gian để đọc và suy nghó.
- Chất lượng của bài trắc nghiệm phụ
thuộc vào kỹ năng của người soạn đề.
- Khó soạn đề trắc nghiệm nhưng dễ
chấm bài, dễ cho điểm số chính xác
hơn.
- Người soạn đề được tự do bộc lộ kiến

thức và kỹ năng của mình qua việc đặt
các câu hỏi, người làm bài thì không
được tự do trả lời theo ý kiến riêng của
mình.
- Các mục tiêu trong học tập được
người giáo viên thẩm đònh rõ ràng hơn.
- Cho phép và đôi khi khuyến khích sự
phỏng đoán. Vì ngøi học có thể chọn
một đáp án bất kỳ mà không biết chắc
là đúng hay sai.
- Sự phân bố điểm số của bài trắc
nghiệm phần lớn hoàn toàn phụ thuộc
vào bài trắc nghiệm đó.

c/ Sử dụng luận đề trong những trường hợp sau :
- Khi nhóm học sinh dự thi hay kiểm tra không quá đông, và đề thi chỉ được
sử dụng một lần, không dùng lại nữa.
- Khi giáo viên cố gắng để khuyến khích và khen thưởng sự phát triển kỹ
năng diễn tả bằng văn viết của học sinh.
9


- Khi giáo viên muốn tìm hiểu thêm về quá trình tư duy và diễn biến tư tưởng
của học sinh về một vấn đề nào đó ngoài việc khảo sát kết quả học tập.
- Khi giáo viên tin tưởng vào khả năng phê phán và chấm bài luận đề một
cách vô tư và chính xác.
- Khi không có nhiều thời gian soạn thảo bài kiểm tra nhưng lại có thời gian
để chấm bài.
d/ Sử dụng trắc nghiệm khách quan trong những trường hợp sau :
- Khi ta cần khảo sát kết quả học tập của một số đông học sinh, hay muốn sử

dụng lại bài khảo sát ấy vào một lúc khác.
- Khi ta muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc phần lớn vào
chủ quan của người chấm bài.
- Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác được coi là những yếu tố quan
trọng nhất của việc thi cử.
- Khi ta có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn để có thể lựa chọn
và cấu trúc lại một bài trắc nghiệm mới.
- Khi ta muốn chấm nhanh và công bố kết quả sớm.
- Khi ta muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt, và gian lận trong thi cử của học
sinh.

II/ Trắc nghiệm khách quan :

1/ Ưu điểm :
- Với nội dung bài trắc nghiệm khoảng 40-60 câu, và mỗi câu lại có nhiều
phương án lựa chọn do đó bài trắc nghiệm có thể kiểm tra được nhiều nội
dung của môn học.
- Với đáp án của mỗi bài trắc nghiệm đã có sẵn, hoặc là đúng hoặc là sai do
đó điểm số của bài trắc nghiệm không phụ thuộc vào sự chủ quan của người
chấm bài.
- Nội dung kiến thức trong bài kiểm tra trắc nghiệm tương đối rộng do đó
người học khó có thể học tủ.
- Mỗi câu hỏi có nhiều lựa chọn, và có thể tạo ra nhiều đề thi bằng cách tráo
câu hỏi do đó người học khó có thể gian lận trong thi cử .
- Có thể kiểm tra nhiều người mà thời gian chấm bài lại nhanh chóng.
- Ít tốn công chấm bài.
2/ Nhược điểm :
- Tốn nhiều công sức để soạn đề trắc nghiệm.
- Không đánh giá được khả năng diễn đạt, khả năng tư duy.
- Học sinh dễ đoán mò.


III/ Các hình thức câu trắc nghiệm khách quan

Các câu trắc nghiệm khách quan có thể được đặt ra dưới nhiều hình thức
khác nhau. Hình thức nào cũng có những ưu khuyết điểm riêng, người soạn câu
trắc nghiệm phải nắm rõ công dụng, cũng như ưu khuyết điểm của từng loại để
soạn được bài trắc nghiệm theo mục đích sử dụng của mình. Dưới đây là các
hình thức câu trắc nghiệm thông dụng.
1/ Loại câu trắc nghiệm Đúng - Sai :
10


- Loại câu trắc nghiệm này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và
yêu cầu người làm bài phải chọn Đúng hoặc Sai.
Ví dụ : Theo quan điểm vi mô, nhiệt độ là đại lượng đặc trưng cho mức
độ nóng hay lạnh của vật .
 Đúng
 Sai
a/ Ưu điểm :
+ Rất dễ dàng soạn được câu trắc nghiệm loại này, vì người soạn đề
không cần phải suy nghó nhiều câu phát biểu khác để người làm trắc nghiệm có
thể so sánh và chọn lựa. Do đó soạn câu trắc nghiệm loại này tốn ít thời gian.
+ Có thể đặt được nhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm với thời gian
làm bài nhất đònh. Như vậy một bài trắc nghiệm có nhiều câu sẽ làm tăng tính
cậy của bài trắc nghiệm ấy nếu bài trắc nghiệm được soạn thảo đúng cách.
b/ Khuyết điểm :
+ Loại câu trắc nghiệm này chỉ có 2 phương án trả lời nên có độ may rủi
là 50 phần trăm, độ may rủi cao như vậy dễ khuyến khích người làm bài đoán
mò.
+ Các câu trắc nghiệm loại này được cho là tầm thường vì người soạn đề

thường lấy sẵn những câu có trong sách.
+ Loại câu trắc nghiệm này thường được trích sẵn trong sách nên người
làm bài trắc nghiệm chỉ cần học vẹt. Như vậy là chưa đánh giá được khả năng
hiểu thấu đáo của người học.
+ Những câu phát biểu loại này nếu dùng lời văn không chính xác, hay là
thiếu thông tin sẽ gây khó khăn cho người làm trắc nghiệm.
+ Câu phát biểu loại này thường không có câu phát biểu khác để so sánh,
do đó nó có thể đúng trong trường hợp này nhưng sai trong trường hợp khác.
c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :
+ Những câu phát biểu loại này phải dựa trên những kiến thức căn bản,
và phải chắc chắn là kiến thức đó là đúng hay sai. Không được dựa trên cảm
tính đúng hay sai của người soạn câu trắc nghiệm.
+ Chọn câu phát biểu nào mà một người có khả năng trung bình không
thể nhận ra ngay là đúng hay sai, mà phải có chút suy nghó mới có thể nhận ra.
+ Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn đạt một ý, tránh dùng những câu
phức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết.
+ Không nên chép nguyên văn những câu trích từ sách, như vậy dễ
khuyến khích người học thuộc bài một cách máy móc.
+ Tránh dùng những từ như “tất cả”, “không bao giờ”, “không thể nào”,
“luôn luôn” ... những từ này thường diễn đạt một phát biểu sai. Cũng như tránh
những từ “thường thường”, “đôi khi”, “ có khi”...những từ này thường diễn đạt
một phát biểu đúng.
2/ Loại câu trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi
- Câu trắc nghiệm loại này cũng là một dạng đặc biệt của hình thức trắc
nghiệm nhiều lựa chọn. Loại câu trắc nghiệm này gồm 3 phần :
+ Phần chỉ dẫn cách trả lời
11


+ Phần gốc ( cột 1 ) : gồm những từ, cụm từ, câu phát biểu cần được làm

rõ hơn
+ Phần lựa chọn ( cột 2 ) : gồm những cụm từ, câu để diễn đạt phù hợp
nhất với phần gốc.
- Chẳng hạn bên trái ( cột 1) là các đại lượng vật lý, bên phải ( cột 2 ) là các
đònh nghóa tương ứng với các đại lượng đó.
Ví dụ : Hãy tìm ra các khái niệm ở cột bên phải tương ứng với các đại
lượng ở cột bên trái.
1. Áp suất cơ học
A. Là đại lượng vật lý đặc trưng cho mức độ
2. Áp suất nội tại
chuyển động nhanh hay chậm của phân tử.
3. Áp suất phụ
B. Là dạng áp suất được gây ra bởi mặt khum
4. Áp suất thuỷ tónh
của chất lỏng trong ống mao dẫn.
C. Là đại lượng vật lý đặc trưng cho lực tác
dụng của các phân tử khí lên 1 đơn vò diện
tích của bình chứa.
D. Là đại lượng vật lý đặc trưng cho độ lớn
của lực tác dụng vuông góc lên 1 đơn vò diện
tích.
E. Là dạng áp suất của chất lỏng có độ sâu
nào đó so với mặt thoáng.
F. Là dạng áp suất được gây ra bởi sự tương
tác giữa các phân tử khí thực.
a/ Ưu điểm :
+ Có độ may rủi rất thấp, người làm bài khó có thể đoán mò được.
+ Có thể hỏi người làm bài được nhiều vấn đề trong một câu hỏi, đòi hỏi
người làm phải có so sánh, phân tích trước khi chọn đáp án.
+ Nếu soạn đúng quy cách, kết quả bài trắc nghiệm có tính tin cậy và

tính giá trò cao.
+ Loại câu hỏi này dễ soạn, dễ dùng và phù hợp tâm lý học sinh.
+ Có hiệu quả trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức, hay
lập các mối tương quan.
b/ Nhược điểm :
+ Không hiệu quả cho việc kiểm tra đánh giá khả năng sắp đặt và vận
dụng của học sinh.
+ Học sinh tốn nhiều thời gian để đọc.
+ Đòi hỏi thời gian nhiều để soạn câu trắc nghiệm loại này.
+ Tốn nhiều thời gian chấm điểm cho câu trắc nghiệm loại này hơn.
c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :
+ Phải đặt số lựa chọn ở cột 2 nhiều hơn số câu hỏi ở phần gốc. Vì khi
người làm bài trả lời được gần hết đáp án chỉ còn một hai câu thì họ có thể
họ đoán đúng được câu còn lại.
+ Không nên soạn các lựa chọn cũng như các từ gợi ý ở cả 2 cột quá dài
dòng, làm cho người làm bài mất nhiều thời gian.
12


3/ Loại câu điền khuyết
- Là những câu phát biểu, mệnh đề, đònh nghóa.... còn chừa lại chỗ trống để
người làm bài có thể điền vào. Loại câu này có 2 dạng là :
+ Gồm những câu hỏi với lời giải đáp ngắn
Ví dụ : Theo quan điểm vi mô đại lượng vật lý đặc trưng cho mức độ
chuyển động nhanh hay chậm của phân tử là ...........................
+ Gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống mà người
làm bài phải điền vào bằng một từ hay một nhóm từ ngắn.
Ví dụ : Trong quá trình đẳng nhiệt của một lượng khí thì ................
của lượng khí tỉ lệ nghòch với...................... của lượng khí đó.
a/ Ưu điểm :

+ Câu trả lời rất ngắn do đó tiêu chuẩn đúng sai rất rõ rệt.
+ Khi không tìm được số mồi nhử cần thiết cho câu trắc nghiệm nhiều lựa
chọn thì có thể dùng loại câu này. Do đó rất dễ để soạn câu trắc nghiệm điền
khuyết.
+ Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy óc
sáng kiến.
+ Học sinh không có cơ hội đoán mò.
b/ Khuyết điểm :
+ Việc chấm điểm loại câu này thường khó khăn và tốn nhiều thời gian
+ Nhiều khi người soạn đề không lường trước hết những đáp án đúng có
thể điền vào chỗ trống. Người làm bài có thể trả lời nhiều cách khác nhau
nhưng vẫn hợp lý.
c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :
+ Nên soạn thảo các phần để trống sao cho những từ điền vào là duy nhất
đúng, không thể thay thế bằng các từ khác.
4/ Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn
- Loại câu trắc nghiệm này gồm có 2 phần : phần gốc và phần lựa chọn.
Phần gốc là một câu hỏi hay một câu chưa hoàn tất. Phần lựa chọn gồm một số
câu trả lời hay câu bổ sung ý còn thiếu của phần gốc.
- Phần gốc phải đưa ra ý muốn hỏi một cách rõ ràng, tránh dùng từ ngữ dài
dòng khiến người làm bài không biết chọn đáp án nào cho phù hợp.
- Phần lựa chọn gồm 4 hoặc 5 câu trả lời, trong đó có 1 câu là đúng nhất, các
câu còn lại làm mồi nhử cũng phải hấp dẫn, để những người chưa học bài hay
học chưa kỹ khó phát hiện được phương án đúng.
Ví dụ : Một lượng khí giãn đẳng nhiệt thì số phân tử khí trong một đơn vò
thể tích của lượng khí đó sẽ :
A. giảm tỉ lệ nghòch với áp suất
B. giảm tỉ lệ thuận với áp suất
C. tăng tỉ lệ nghòch với áp suất
D. tăng tỉ lệ thuận với áp suất

 Ở câu trắc nghiệm này, người học phải biết được quá trình đẳng nhiệt thì
áp suất chất khí tỉ lệ nghòch với thể tích, trong quá trình giãn nở thì thể tích chất
13


khí tăng dẫn đến áp suất giảm, nhưng thể tích tăng thì cũng dẫn đến mật độ
phân tử giảm do đó mật độ phân tử sẽ giảm tỉ lệ thuận với áp suất, do đó nếu
người học không học bài hoặc học bài không kỹ thì cũng khó biết được lựa chọn
nào là đúng.
a/ Ưu điểm :
- Câu hỏi trắc nghiệm loại này có nhiều hình thức lựa chọn hơn : phần
gốc có thể là câu hỏi, câu bỏ lửng, một đồ thò,... tuỳ theo mục tiêu đặt ra mà
người soạn trắc nghiệm có thể chọn cho phù hợp.
- Độ may rủi thấp hơn (25% đối với câu 4 lựa chọn,20% đối với câu 5 lựa
chọn)
- Nếu soạn đúng quy cách, kết quả bài trắc nghiệm có tính tin cậy và tính
giá trò cao.
- Có thể khảo sát thành quả học tập của một số đông học sinh, chấm
điểm nhanh, kết quả chính xác.
- Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra- đánh giá những
mục tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như :
+ Xác đònh mối tương quan nhân quả.
+ Nhận biết các điều sai lầm.
+ Ghép các kết quả hoặc các điều quan sát được với nhau.
+ Đònh nghóa các khái niệm.
+ Tìm nguyên nhân của các sự kiện.
+ Nhận biết điểm tương đồng giữa hay khác biệt giữa nhiều vật.
+ Xác đònh nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện.
+ Xác đònh thứ tự hay cách sắp đặt nhiều vật.
+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm.

b/ Nhược điểm :
Để soạn được bài trắc nghiệm loại này có tính tin cậy và giá trò cao cần
đòi hỏi tuân theo các bước soạn trắc nghiệm, do đó tốn nhiều thời gian.
Không đo được khả năng phán đoán tinh vi, hay là khả năng giải quyết
vấn đề khéo léo, sáng tạo của học sinh.
c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :
+ Câu hỏi hay câu bỏ lửng của phần gốc có ý nghóa rõ ràng, sáng nghóa.
+ Phần dẫn phải mang ý nghóa trọn vẹn, phần trả lời phải ngắn gọn.
+ Nên có 4 hay 5 lựa chọn cho mỗi câu hỏi.
+ Tránh dùng hai từ “không” liên tiếp trong một câu hỏi.
+ Tránh dùng câu dẫn dắt mang tính phủ đònh, nếu dùng thì phải chú ý
gạch dưới hoặc tô đậm từ “ không” .
+ Không nên dùng các câu hỏi không thể xảy ra trong thực tế.
+ Phải đảm bảo sao cho câu trả lời đúng là câu rõ ràng vàø đúng nhất .
+ Phải đảm bảo các câu dẫn và các câu trả lời là đúng cấu trúc ngữ pháp
+ Soạn các câu mồi nhử cũng phải hấp dẫn như đáp án đúng.
+ Không nên dùng loại câu trả lời “ Không một câu nào đúng cả”
+ Soạn các phương án trả lời có độ dài và văn phong giống nhau.
14


+ Không nên dùng mồi nhử để gài bẫy học sinh, mục đích của mồi nhử là
phân loại học sinh.
+ Có bốn bước phải làm khi soạn mồi nhử :
 B1: Ra các câu hỏi mở về nội dung dự đònh trắc nghiệm để học sinh tự
viết câu trả lời.
 B2: Thu các bản trả lời của học sinh, loại bỏ câu trả lời đúng, giữ lại
câu trả lời sai.
 B3: Thống kê phân loại các câu trả lời sai và ghi lại tần số xuất hiện
từng loại câu sai.

 B4: Ưu tiên chọn những câu sai làm mồi nhử.

IV/ Quy trình soạn thảo một bài trắc nghiệm

Thông thường khi soạn thảo một bài trắc nghiệm thì người soạn trắc nghiệm
phải biết mình muốn kiểm tra nội dung nào của môn học ? Mục tiêu của bài
trắc nghiệm là gì? Cần phải khảo sát những gì ở học sinh ? Phần quan trọng của
môn học cần khảo sát là phần nào ? Số câu hỏi cần khảo sát ? Hay là phải soạn
câu trắc nghiệm dưới hình thức nào là phù hợp ? ..... Do đó việc soạn thảo câu
trắc nghiệm không thể là việc tuỳ tiện được. Người soạn thảo cần phải làm theo
quy trình hợp lý, nếu không thì kết quả bài trắc nghiệm sẽ không đo lường được
cái mà người soạn thảo muốn, bài trắc nghiệm sẽ không có tính tin cậy và giá
trò. Dưới đây là một số vấn đề mà người soạn thảo trắc nghiệm cần phải làm
trước khi viết câu trắc nghiệm.
1/ Xác đònh mục đích của bài trắc nghiệm
- Xác đònh mục tiêu của từng môn học, từng phần của môn học là điều rất
quan trọng. Khi xác đònh rõ mục tiêu của bài trắc nghiệm chẳng hạn như : kỹ
năng, kiến thức mà học sinh cần đạt được để sau đó chúng ta xây dựng bài trắc
nghiệm phù hợp để đo lường xem học sinh có đạt được kiến thức hay kỹ năng
đó hay không ?
- Một bài trắc nghiệm có thể có nhiều mục đích khác nhau nhưng bài trắc
nghiệm có ích lợi nhất và hiệu quả nhất khi nó phục vụ cho một mục đích
chuyên biệt nào đó.
- Nếu bài kiểm tra là bài thi kiểm tra cuối học kỳ nhằm cho điểm và phân
loại học sinh trong quá trình học tập lâu dài thì cần soạn thảo bài trắc nghiệm có
độ phân tán khá rộng, như vậy mới có thể phát hiện được sự khác nhau giữa các
loại học sinh.
- Nếu bài kiểm tra chỉ là bài thi kiểm tra thông thường ( 15phút chẳng hạn)
chỉ dùng để kiểm tra một phần nhỏ của môn học thì phải soạn thảo bài trắc
nghiệm để hầu hết học sinh có thể làm bài được, nếu học sinh đã thực sự tiếp

thu được bài học.
- Hoặc là nếu chúng ta cần một bài trắc nghiệm để tìm ra kiến thức mà người
học hay nhầm lẫn để từ đó dùng phương pháp giảng dạy khác cho phần kiến
thức đó. Lúc này bài trắc nghiệm của chúng ta cần hướng vào những phần mà
học sinh nếu không học kỹ sẽ dễ mắc sai lầm.
15


- Tóm lại có nhiều mục đích khác nhau do đó người soạn đề trắc nghiệm
phải biết được mục đích bài trắc nghiệm của mình từ đó mà soạn nội dung bài
trắc nghiệm cho phù hợp từ đó bài trắc nghiệm mới có tính giá trò.
2/ Phân tích nội dung môn học và xác đònh mục tiêu học tập :
2.1/ Phân tích nội dung môn học :
- Phân tích nội dung môn học chủ yếu là xem xét và phân biệt 4 loại học tập.
Bao gồm : những thông tin mang tính chất sự kiện mà người học phải nhớ hay
nhận ra ; những khái niệm và ý tưởng mà người học phải giải thích hay minh
hoạ; những ý tưởng phức tạp cần được giải thích hay giải nghóa; những thông tin,
ý tưởng và kỹ năng cần được ứng dụng hay chuyển dòch sang một tình huống
hay hoàn cảnh mới.
- Chú ý : Trong việc phân tích nội dung một phần nào đó của môn học ta có
thể đảo ngược thứ tự các loại học tập nói trên đây như sau : tìm ra những điều
khái quát, ý tưởng cốt lõi của môn học trước, nội dung còn lại là minh họa và
giải nghóa cho ý tưởng cốt lõi đó.
- Như vậy các bước phân tích nội dung môn học là :
 Bước 1 : tìm ra những ý tưởng chính yếu của môn học ấy.
 Bước 2 : lựa chọn từ ngữ , nhóm từ, ký hiệu mà người học phải giải
nghóa được. Tìm ra các khái niệm quan trọng trong nội dung môn học để đem ra
khảo sát.
 Bước 3 : là phân loại hai hạng thông tin được trình bày trong môn học
: thứ nhất là những thông tin nhằm mục đích giải nghóa hay minh họa, thứ hai là

những khái luận quan trọng của môn học. Người soạn trắc nghiệm cần phải biết
những thông tin nào quan trọng mà học sinh cần phải nhớ.
 Bước 4: là lựa chọn những thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải
có khả năng ứng dụng những điều đã biết để giải quyết vấn đề trong những tình
huống mới. Những thông tin loại này có thể được khảo sát bằng nhiều cách,
chẳng hạn như đối chiếu, nêu ra những sự tương đồng và dò biệt, đặt ra những
bài toán, những tình huống đòi hỏi học sinh phải biết ứng dụng những thông tin
đã biết để tìm ra cách giải quyết.
2.2/ Xác đònh mục tiêu học tập
a/ Các loại mục tiêu học tập
- Mục tiêu học tập tổng quát : đây là mục tiêu được đưa ra khá tổng quát,
nó bao gồm nhiều mục tiêu học tập chuyên biệt. Những mục tiêu này thường
bao trùm một lónh vực hoặc một môn học nào đó. Chẳng hạn như : mục tiêu học
tập tổng quát của môn vật lý là giúp cho học sinh giải thích được các hiện tượng
vật lý trong đời sống.
- Mục tiêu học tập chuyên biệt : đó là những mục tiêu cụ thể mà người học
có thể đạt được khi họ đã đạt được mục tiêu học tập tổng quát. Chẳng hạn như
khi học sinh đã được học phần tónh điện thì học sinh có thể giải thích được tại
-sao
Thườnigdù
dànighạ
-ng.Thường xác đònh trong khoảng
cộnpt thu
ở cá
Mụcphả
tiêu họ
c tậ
tổnlô
g iquá
t c nhà cao tầMụ

c tiêu học tập chuyên biệt
gian
ngắunhọc tập riêng biệt :
- So sánh mục tiêu học tập tổng quátthờ
vài mụ
c tiê
16


- Hướng tới khả năng tư duy
- Khó đo lường
- Khái quát về nội dung

- Hướng tới khả năng hành động
- Dễ đo lường
- Cụ thể về nội dung

b/ Những thuận lợi khi xác đònh mục tiêu học tập
- Giúp cho người soạn trắc nghiệm biết được những mục tiêu nào quan trọng
và không quan trọng của môn học, hoặc của một phần kiến thức nào đó, từ đó
giúp người soạn phân bố câu trắc nghiệm cho phù hợp.
- Tạo dễ dàng cho việc kiểm tra và chấm điểm công bằng.
- Mục tiêu cho phép người đánh giá xác đònh hoạt động giảng dạy và tài liệu
học tập nào có hiệu quả.
- Cho thấy rõ ràng sự đối chiếu kết quả đào tạo giữa nội dung giáo viên
truyền đạt và nội dung học sinh tiếp thu.
- Khuyến khích học sinh hoàn thiện những tri thức còn thiếu, vì muốn đạt
được những mục tiêu cao hơn thì phải biết những kiến thức cơ bản trước.

c/ Đặc điểm của mục tiêu

- Mục tiêu cần phải cụ thể, phải nêu ra kết quả mà nó đạt được.
- Mục tiêu phải có thể đo được
- Mục tiêu cần phải đạt được, tránh nêu ra những mục tiêu xa vời, mơ hồ,
không thể đạt được.
- Mục tiêu cần phải hướng vào kết quả.
- Mục tiêu cần phải giới hạn thời gian.
d/ Phân loại mục tiêu giảng dạy
- Có nhiều cách phân loại mục tiêu, nhưng phổ biến nhất là cách phân loại
của Benjamin S.Bloom.
- Theo Benjamin S.Bloom đưa ra vào năm 1956 thì lónh vực tri thức được chia
làm 6 phạm trù chính là :
 Kiến thức ( Biết )
 Thông hiểu
 Áp dụng
 Phân tích
 Tổng hợp
 Đánh giá
 Kiến thức ( Biết ) : bao gồm những thông tin có tính chất chuyên biệt mà
một người học có thể nhớ hay nhận ra khi được đưa ra một câu hỏi hay một câu
trắc nghiệm loại điền thế, đúng sai, nhiều lựa chọn. Thí dụ người học có thể lặp
lại đúng đònh luật bảo toàn động lượng cho một hệ kín mà chưa cần phải giải
thích hay áp dụng đònh luật đó. Đây là mức độ thành quả thấp nhất trong lónh
vực kiến thức, vì nó chỉ đòi hỏi sự vận dụng trí nhớ mà thôi.
 Thông hiểu : bao gồm cả kiến thức , nhưng ở mức độ cao hơn là trí nhớ ,
nó có liên quan đến ý nghóa và các mối liên hệ của những gì người học đã biết,
đã học. Chẳng hạn khi một người học lặp lại đúng một đònh luật vật lý, người ấy
17


chứng tỏ đã biết đònh luật đó, nhưng để chứng tỏ sự thông hiểu, người học phải

giải thích được ý nghóa của những đại lượng, những mối liên hệ trong đònh luật.
Sự thông hiểu bao gồm : sự hiểu biết các khái niệm đơn giản và các ý tưởng
phức tạp.
 Bài trắc nghiệm nhằm đo lường sự thông hiểu các khái niệm, hay ý
nghóa đơn giản phải được diễn tả bằng các ngôn ngữ khác với những gì viết
trong sách vở. Ngoài ra người học có thể phải đưa ra những ý kiến, thí dụ để
minh họa thêm cho kiến thức đó nhằm chứng tỏ sự thông hiểu của mình.
 Sự thông hiểu các ý tưởng phức tạp bao gồm các nguyên lý , các mối
liên hệ, những điều khái quát hoá, trừu tượng hoá, mục tiêu loại này đòi hỏi
người học phải có những suy luận phức tạp để tìm ra ý đúng. Thông thường đòi
hỏi người học phải giải thích, phân biệt dữ kiện, lựa chọn thông tin cần thiết,
suy diễn từ dữ kiện để tìm ra kết quả.
 Áp dụng : khả năng này đòi hỏi người học phải biết vận dụng kiến thức,
sử dụng phương pháp, đònh luật hay ý tưởng để giải quyết vấn đề. Mục tiêu loại
này đòi hỏi người học phải biết di chuyển kiến thức quen thuộc sang một hoàn
cảnh mới, và quyết đònh dùng nguyên lý, đònh luật nào cần áp dụng để giải
quyết vấn đề.
 Phân tích : là khả năng chia thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao
cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó, và thiết lập mối quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau giữa chúng. Yêu cầu chỉ ra được bộ phận cấu thành, xác đònh
được mối liên hệ giữa các bộ phận, và hiểu được nguyên lý, cấu trúc của các bộ
phận cấu thành. Đây là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu về
cả nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật hiện tượng.
 Tổng hợp : Sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài
liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới. Yêu cầu tạo ra
được một chủ đề mới, một vấn đề mới, một mạng lưới các quan hệ trừu tượng.
Kết quả học tập trong lónh vực này nhấn mạnh vào các hành vi sáng tạo, đặc
biệt là trong việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới.
 Đánh giá : Nhận xét, nhận đònh, xác đònh được một giá trò của một tư
tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức. Đây là bước tiến mới trong

việc lónh hội tri thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất bên trong của
đối tượng, sự vật, hiện tượng. Yêu cầu xác đònh được các tiêu chí đánh giá và
vận dụng được để đánh giá. Đây là mức độ cao nhất của nhận thức vì nó chứa
đựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức trên.
Chú ý : Thông thường trong việc kiểm tra và đánh giá học sinh người ta chỉ
thường sử dụng 3 mục tiêu lớn là : Biết, thông hiểu và áp dụng .
e/ Các động từ hành động thường dùng để viết các mục tiêu nhận thức :
Kiến thức
Đònh nghóa
mô tả
thuật lại
viết
Nhận biết
nhớ lại
gọi tên
kể ra
Lựa chọn
tìm kiếm
tìm ra cái phù hợp kể lại
Chỉ rõ vò trí
chỉ ra
phát biểu
tóm lược
18


Thông hiểu
Giải thích
Chỉ ra
Cho ví dụ

Trình bày
Áp dụng
Sử dụng
Giải quyết
Dự đoán
Ước tính

cắt nghóa
minh họa
chỉ rõ
đọc

so sánh
suy luận
phân biệt

đối chiếu
đánh giá
tóm tắt

tính toán
ghi lại
tìm ra
sắp xếp trật tự

thiết kế
chứng minh
thay đổi
điều khiển


vận dụng
hoàn thiện
làm

Phân tích
Phân tích
phân loại
so sánh
tìm ra
Phân biệt
phân cách
đối chiếu
lập giả thuyết
Lập sơ đồ
tách bạch
phân chia
chọn lọc
Tổng hợp
Tạo nên
soạn
đặt kế hoạch
kết luận
Kết hợp
đề xuất
giảng giải
tổ chức
Thực hiện
làm ra
thiết kế
kể lại

Đánh giá
Chọn
quyết đònh
đánh giá
so sánh
Thảo luận
phán đoán
tranh luận
cân nhắc
Phê phán
ủng hộ
xác đònh
bảo vệ
3/ Xác đònh số câu hỏi trong bài trắc nghiệm :
- Số câu hỏi trắc nghiệm phần lớn phụ thuộc vào thời gian làm bài của học
sinh. Nếu kiểm tra trong lớp học thường là kiểm tra 45 phút, nếu trong kì thi học
kì chẳng hạn có thể là 90 phút hoặc 120 phút. Nếu thời gian càng dài thì số câu
trắc nghiệm càng nhiều, điểm số của bài trắc nghiệm càng có tinh cậy.
- Trong môn học có rất nhiều kiến thức, kỹ năng cần được kiểm tra nhưng số
câu trắc nghiệm trong bài thi sẽ có hạn chế nên người soạn đề làm sao phải
chọn số câu trắc nghiệm có tính tiêu biểu cho toàn bộ kiến thức đó.
- Mỗi câu trắc nghiệm đòi hỏi quá trình tư duy khác nhau, số câu trắc nghiệm
mỗi học sinh làm được trong một phút tuỳ thuộc vào loại câu trắc nghiệm đó là
khó hay dễ. Một học sinh làm nhanh nhất có thể làm xong bài trắc nghiệm chỉ
bằng nửa thời gian của học sinh làm chậm nhất.
- Do đó phương pháp tốt nhất để xác đònh số câu trắc nghiệm hợp lý cho thời
gian tương ứng là dựa vào kinh nghiệm.
- Nếu không có kinh nghiệm thì cứ bình quân 1 phút cho loại câu nhiều lựa
chọn và nửa phút cho loại câu đúng-sai.
Chú ý :

+ Thời gian làm bài trắc nghiệm tối đa là 120 phút
+ Số câu trắc nghiệm nên là một số chẵn.
4/ Mức độ khó của các câu trắc nghiệm
19


- Một bài trắc nghiệm gồm những câu quá dễ, tất cả học sinh đều làm được.
Hoặc những câu quá khó, mà không có học sinh nào trả lời được thì bài trắc
nghiệm đó hoàn toàn không có tính giá trò.
- Để đạt hiệu quả đo lường thì nên chọn lựa các câu trắc nghiệm sao cho
điểm trung bình trên bài trắc nghiệm xấp xỉ bằng 50% số câu hỏi. Tuy nhiên độ
khó của từng câu trắc nghiệm có thể biến thiên từ 15% đến 85%.
- Nếu bài trắc nghiệm dùng để tìm ra những người học yếu để phụ đạo thêm
thì nên soạn một đề trắc nghiệm có nhiều câu dễ.
- Nếu bài trắc nghiệm dùng để tìm ra những người học giỏi thì nên soạn một
đề trắc nghiệm có nhiều câu khó.
5/ Thiết lập dàn bài trắc nghiệm:
- Sau khi nắm vững mục đích của bài trắc nghiệm và phân tích nội dung cũng
như nắm được mục tiêu học tập của từng nội dung môn học, người soạn thảo có
thể thiết lập dàn bài trắc nghiệm.
- Dàn bài trắc nghiệm là bảng dự kiến phân bố hợp lý các câu hỏi của bài
trắc nghiệm theo mục tiêu và nội dung của môn học sao cho có thể đo lường
chính xác các khả năng mà ta muốn đo. Thông thường một dàn bài trắc nghiệm
là một bảng quy đònh 2 chiều : một chiều là nội dung, một chiều là mục tiêu.
Trong nội dung thì lại chia nhỏ từng phần, từng kiến thức của môn học, trong
mục tiêu cũng chia nhỏ thành các mục tiêu cụ thể tương ứng với từng kiến thức,
từng phần của môn học. Sau đó trong mỗi ô tương ứng với cả nội dung môn học
và mục tiêu ta ghi số câu trắc nghiệm dự trù cần khảo sát.
Ví dụ : Dưới đây là dàn bài trắc nghiệm gồm 100 câu
Nội dung : gồm 5 chủ đề

Mục tiêu : gồm 3 mục tiêu lớn là : Biết, Hiểu, Áp dụng
Tỉ lệ nội dung : Chủ đề 1 (14%), Chủ đề 2 (18%), Chủ đề 3 (16%),
Chủ đề 1 (36%), Chủ đề 1 (16%),
Tỉ lệ mục tiêu : Biết ( 28%) , Hiểu ( 32% ) , Áp dụng ( 40% )

20


Nội dung

Mục tiêu
1/ Biết
Nhớ các đònh
nghóa, kí hiệu,
quy ước
Phát biểu các
đònh luật, nguyên
tắc
Nhận ra các tính
chất, đặc điểm
2/ Hiểu
So sánh
Phân biệt
Suy luận
3/ Áp dụng
Giải thích
Tính toán
Tổng cộng

Chủ

đề
1

Chủ
đề
2

4

2

2
2
2
2

4

2
2
14

4
2
18

Chủ
đề
3


Chủ
đề
4

Chủ
đề
5

Tổng
cộng

4

2

12

2

6

2

10

2

2

6


4

2
4
4

2
2

8
12
12

4
4
16

4
10
36

4
4
16

18
22
100


4

Sau khi đã làm song các phần trên đây thì chúng ta có thể bắt tay vào để
soạn ra các câu trắc nghiệm phù hợp.

V/ Những điều cần lưu ý khi soạn câu trắc nghiệm :
- Diễn đạt câu hỏi càng sáng sủa càng tốt và chú ý đến cấu trúc ngữ pháp
- Chọn từ có nghóa chính xác
- Dùng những câu hỏi thật đơn giản
- Đưa tất cả những thông tin cần thiết vào trong câu dẫn nếu có thể được.
- Hãy đọc lại nhiều lần câu hỏi để tìm ra những chỗ gây hiểu lầm chưa phát
hiện được khi viết câu hỏi.
- Đừng cố tăng độ khó của câu trắc nghiệm bằng cách diễn đạt câu hỏi theo
cách phức tạp hơn.
- Tránh cung cấp những chi tiết dễ làm lộ đáp án.
- Tránh những câu rập khuôn hay những câu trích dẫn từ sách giáo khoa.
- Tránh nêu nhiều hơn một ý tưởng độc lập cho một câu dẫn.
- Tránh những từ dư thừa.
- Tránh những câu hỏi có nội dung đan xen, phụ thuộc lẫn nhau.
- Tránh những câu hỏi mang tính chất lừa bẫy.

VI/ Phân tích và đánh giá câu trắc nghiệm :

Phân tích và đánh giá câu trắc nghiệm là công việc rất cần thiết và hữu ích
đối với người soạn câu trắc nghiệm
1/ Mục đích của phân tích và đánh giá câu trắc nghiệm
21


- Biết được câu trắc nghiệm nào là quá khó, câu trắc nghiệm nào là quá dễ

để sử dụng sau này.
- Lựa ra các câu có độ phân cách cao, nghóa là phân biệt được học sinh giỏi
với học sinh kém.
- Biết được lý do vì sao câu trắc nghiệm không đạt được hiệu quả mong
muốn và phải loại bỏ hoặc sửa chữa như thế nào cho tốt hơn.
- Làm gia tăng tính tin cậy của bài trắc nghiệm.
2/ Cơ sở để đánh giá câu trắc nghiệm
2.1/ Độ phân cách
a/ Khái niệm
- Một bài trắc nghiệm dự tính là phải khó đối với học sinh yếu và tương đối
dễ hơn với học sinh giỏi, vì vậy bài trắc nghiệm đó là công cụ để phân biệt học
sinh giỏi và học sinh yếu.
- Độ phân cách câu trắc nghiệm là một chỉ số dùng để phân biệt học sinh
giỏi và học sinh kém. Câu trắc nghiệm có độ phân cách tốt đóng góp vào làm
gia tăng tính tin cậy và tính giá trò của bài trắc nghiệm đó.
b/ Cách tính độ phân cách của câu trắc nghiệm ( Kí hiệu độ phân cách là :
D)
- Sau khi đã chấm điểm bài trắc nghiệm xong ta làm các bước sau đây :
 B1: Xếp đặt các bảng trả lời đã được chấm theo thứ tự các điểm số từ
cao xuống thấp.
 B2: Phân chia các bảng trả lời theo hai nhóm : nhóm CAO gồm có xấp
xỉ 27% tổng số người làm bài mà có điểm số cao nhất, nhóm THẤP gồm có xấp
xỉ 27% tổng số người làm bài mà có điểm số thấp nhất.
 B3: Ghi số lần ( tần số ) trả lời của học sinh trong mỗi nhóm cao và
thấp cho mỗi lựa chọn của câu trắc nghiệm.
Ví dụ : Câu trắc nghiệm số 15 dành cho 50 người làm bài có bảng trả lời như
sau :
Nhóm CAO ( 27%) gồm khoảng 13 người
Nhóm THẤP ( 27%) gồm khoảng 13 người
A

B*
C
D
Tổng cộng
Nhóm CAO
13
1
9
2
1
( 13 người )
Nhóm THẤP
0
2
5
6
13
( 13 người )
 B4: Lấy số người làm đúng của nhóm CAO trừ cho số người làm đúng
của nhóm THẤP, rồi chia hiệu số này cho hiệu số tối đa ( số người trong mỗi
nhóm). Thương số này là chỉ số phân cách của câu trắc nghiệm
Trong ví dụ trên : (B* là đáp án đúng)
+ Số người làm đúng trong nhóm cao là: 9 người
+ Số người làm đúng trong nhóm thấp là: 2 người
+ Chỉ số phân cách : D =

92
= 0,54
13
22



c/ Phân loại chỉ số phân cách :
Chỉ số phân cách D
Từ 0,40 trở lên
Từ 0,30 đến 0,39
Từ 0,20 đến 0,29
Dưới 0,19

Đánh giá câu trắc nghiệm
Rất tốt
Khá tốt, nhưng có thể sửa chữa tốt hơn
Tạm được, có thể cần phải hoàn chỉnh
Kém, cần loại bỏ hoặc sửa chữa lại

Chú ý : Với hai bài trắc nghiệm tương đương nhau, bài trắc nghiệm nào có chỉ
số phân cách trung bình càng cao thì càng tốt, càng có tính tin cậy cao.
2.2/ Độ khó của câu trắc nghiệm
a/ Khái niệm
- Thông thường chúng ta không biết giải thích tại sao câu trắc nghiệm này lại
khó hơn câu trắc nghiệm khác. Từ đây các chuyên gia đo lường cho rằng nếu tất
cả mọi người đều làm đúng thì câu trắc nghiệm đó là rất dễ, nếu tất cả mọi
người đều làm sai thì câu trắc nghiệm đó là quá khó.
- Độ khó của câu trắc nghiệm cũng là chỉ số dùng để phân biệt được học sinh
giỏi và học sinh yếu.
b/ Cách tính độ khó của câu trắc nghiệm ( Kí hiệu độ khó là : p )

Độ khó p của câu trắc nghiệm i =

Số người trả lời đúng câu i

Số người làm bài trắc nghiệm

c/ Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm
- Một bài trắc nghiệm tốt là bài trắc nghiệm có nhiều câu trắc nghiệm độ
khó vừa phải.
100% + % may rủi kỳ vọng
- Cách tính : Độ khó vừa phải =
2
- Câu trắc nghiệm đúng-sai có 2 đáp án trả lời nên có tỉ lệ là 50% may rủi
kỳ vọng
Độ khó vừa phải là 75%
- Câu trắc nghiệm 4 lựa chọn có tỉ lệ là 25% may rủi kỳ vọng
Độ khó vừa phải là 62,5%
- Câu trắc nghiệm 5 lựa chọn có tỉ lệ là 20% may rủi kỳ vọng
Độ khó vừa phải là 60%
- Câu trắc nghiệm điền khuyết thì độ khó vừa phải là 50%
d/ Độ khó của câu trắc nghiệm
- Nếu độ khó của câu trắc nghiệm lớn hơn độ khó vừa phải thì ta kết luận
rằng : Câu trắc nghiệm đó là dễ so với trình độ học sinh của lớp làm trắc
nghiệm.
23


- Nếu độ khó của câu trắc nghiệm nhỏ hơn độ khó vừa phải thì ta kết luận
rằng : Câu trắc nghiệm đó là khó so với trình độ học sinh của lớp làm trắc
nghiệm.
- Nếu độ khó của câu trắc nghiệm xấp xỉ độ khó vừa phải thì ta kết luận
rằng : Câu trắc nghiệm đó là vừa sức so với trình độ học sinh của lớp làm trắc
nghiệm.


Độ khó vừa phải
Câu TN khó
Câu TN vừa phải
Câu TN dễ
2.3/ Phân tích đáp án và mồi nhử :
- Việc phân tích đáp án và mồi nhử cũng góp phần làm cho bài trắc nghiệm
tốt hơn.
- Đáp án là lựa chọn được xác đònh là đúng so với phần trả lời. Một đáp án
tốt làđáp án có số người trong nhóm CAO chọn nó nhiều hơn là số người trong
nhóm Thấp chọn nó ( tương quan thuận )
- Mồi nhử là lựa chọn được xác đònh là sai so với phần trả lời. Một mồi nhử
tốt là mồi nhử có số người trong nhóm CAO chọn nó ít hơn là số người trong
nhóm Thấp chọn nó. ( tương quan nghòch )
2.4/ Một số tiêu chuẩn để chọn được câu trắc nghiệm tốt :
- Những câu trắc nghiệm có độ khó quá thấp hay quá cao, đồng thời có độ
phân cách âm hoặc quá thấp là những câu kém cần phải xem lại để loại đi
hay sửa chữa cho tốt hơn.
- Với đáp án trong câu trắc nghiệm, số người nhóm cao chọn phải nhiều
hơn số người nhóm thấp.
- Với các mồi nhử trong câu trắc nghiệm, số người nhóm cao chọn phải ít
hơn số người nhóm thấp.
3/ Một số ví dụ về cách phân tích câu trắc nghiệm :
- Ví dụ 1 : Câu trắc nghiệm số 1 có bảng trả lời sau :
A
B*
C
D
Tổng cộng
Nhóm CAO
2

14
4
0
20
Nhóm THẤP 1
6
6
7
20
+ Chỉ số khó của câu này là p = (14+6) / 40 = 0,5
+ Độ phân cách của câu này là D = (14-6) / 20= 0,4
 Phân tích :
+ Câu này có p = 0,5 là hơi khó vì độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm
loại 4 lựa chọn là 0,625.
+ Câu này có độ phân cách D = 0,4 là câu có độ phân cách tốt
+ Về đáp án đúng B* có sự tương quan thuận (14-6) là có thể hài lòng
+ Về các mồi nhử C,D có sự tương quan nghòch ( số người trong nhóm
cao làm sai ít hơn) như ta mong muốn.
24


×