Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Báo cáo đánh giá tác động môi trường phát triển bền vững ở việt nam (nhóm 4)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (390.87 KB, 14 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG



KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG

Môn học

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
BTKN
Chủ đề : PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Nhóm: 4
Sinh viên

Mã số sinh viên

1

Võ Bình Thuận

91202221

2

Trần Thanh Lam

91202104

3

Nguyễn Huỳnh Thanh Sơn



91202187

4

Nguyễn Huỳnh Thảo Uyên

91202262

5

Nguyễn Tú Trinh

91202244

6

Bùi Tấn Phong

91202173

Nộp bài: 23g30 ngày 3/9/2014

Tp. Hồ Chí Minh, 2014


MỤC LỤC
1. Các nguyên tắc cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam:...........1. .
1.1 Khái niệm:...................................................................... 1
1.2 Những nguyên tắc cho phát triển bền vững tại Việt Nam, Chương trình

Nghị sự 21..........................................................................................1
2. Phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ hai cho sự phát triển bền vững tại Việt
Nam....................................................................................................2
2.1 Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển
sắp tới:................................................................................................3
2.2 Bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển bền vững.... ..3
2.3 Bảo đảm an ninh lương thực ,vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân
dân......................................................................................................4
2.4 Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền.
..............................................................................................5
3. Việt Nam cần làm gì để phát triển bền vững:...............................5
3.1 Chuyển hướng tư duy hoạch định chính sách..................6
3.2 Gắn phát triển kinh tế với xã hội, môi trường.................6
3.3 Cải tổ bộ máy thực thi chính sách....................................7
4. Vấn đề môi trường.........................................................................8

1. Các nguyên tắc cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam:
1.1 Khái niệm:


Phát triển bền vững là sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn
phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là
mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc
thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... riêng để hoạch định chiến lược phù
hợp nhất với quốc gia đó

1.2 Những nguyên tắc cho phát triển bền vững tại Việt Nam, Chương
trình Nghị sự 21
• Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng

ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp
nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn
phát triển.
• Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn
phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát
triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân;
kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác
hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong
giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền.
Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi
trường đều cùng có lợi".
• Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là
một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển. Tích cực và
chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi
trường do hoạt động của con người gây ra. Cần áp dụng rộng rãi
nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì


phải bồi hoàn". Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực
về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt
buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch,
kế hoạch, chưương trình và dự án phát triển kinh tế-xã hội, coi yêu
cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá
phát triển bền vững.
• Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công
bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống
của các thế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi
cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp
cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những

lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá
tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài
nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường
sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường;
xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên
nhiên.
• Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền
vững đất nước. Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi
trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất,
trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực
sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát
triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác.
• Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp
chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh
nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân.
Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong
việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ
môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước. Bảo đảm cho
nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các
tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân
tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các
dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước.
• Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước. Phát
triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết
quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học
công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững. Chú
trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh
tranh. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với



môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây
ra.
• Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và
bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an
toàn xã hội.
2. Phân tích và chứng minh nguyên tắc thứ hai cho sự phát triển bền vững
tại Việt Nam
2.1 Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát
triển sắp tới:
Tháng 12 năm 2006. Việt Nam gia nhập tổ chức thế giới WTO- tổ
chức thương mại thế giới. Hội nhập quốc tế, Việt Nam đang đứng trước hàng ngàn
những cơ hội mới và cả những thách thức mới. Nhưng để đón nhận những cơ hội
đó cũng như giải quyết được những thách thức mới thì một tất yếu lịch sử của nền
kinh tế Việt Nam là phải đổi mới. Nhưng đổi mới cái gì và phải đổi mới như thế
nào?Trong hoàn cảnh hiện nay đổi mới đất nước là một vấn đề hết sức quan trọng
đươc đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân. Từ năm 1986,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã tiến hành đổi mới kinh tế. Từ những năm
1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ mang tính chất tự
cung, tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với những sai lầm
trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa đã làm cho nền kinh tế nước ta
lâm vào tình trạng lạc hậu, khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân bấp bênh khổ
cực thiếu thốn. Chính vì vậy, Đảng ta đã tìm ra con đường đúng đắn nhất để đổi
mới đất nước dựa trên cơ sở quan điểm triết học là đổi mới phải toàn diện nhưng
đổi mới kinh tế là trọng tâm.
Để thực hiện tốt mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm
2014, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo điều
hành, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính
phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014. Ngay từ đầu
năm, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ tập trung chỉ đạo quyết liệt các
ngành, các cấp và địa phương triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ
và giải pháp nhằm sớm khắc phục những hạn chế, vượt qua thách thức để ổn định
vĩ mô, tạo tăng trưởng bền vững, bảo đảm đời sống dân cư.
Ví dụ như:
Trong hai ngày 27 và 28-8, tại Trụ sở Chính phủ, dưới sự chủ trì của
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 8/2014, thảo
luận các giải pháp nhằm đạt kết quả cao nhất các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra cho
năm 2014, tạo tiền đề, nền tảng cho phát triển và tăng trưởng cao hơn trong năm
2015 và những năm tiếp theo. Theo các thành viên Chính phủ, trên cơ sở những kết
quả đạt được của năm 2014, đặc biệt là tăng trưởng GDP dự kiến đạt 5,8%, việc đề


xuất chỉ tiêu tăng trưởng GDP khoảng 6-6,2% cho năm 2015 là hợp lý. Các thành
viên Chính phủ nhấn mạnh để đạt được con số tăng trưởng này, các nhiệm vụ, giải
pháp đề ra cần hết sức quan tâm đến tăng tổng cầu của nền kinh tế; tháo gỡ khó
khăn cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh; mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm ở cả trong và ngoài nước; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia...
Các thành viên Chính phủ đề xuất, trong xây kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
2015, cần đặc biệt quan tâm đến các định hướng, giải pháp thúc đẩy tái cơ cấu kinh
tế với trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng, nông
nghiệp; các giải pháp thúc đẩy đầu tư, sản xuất các sản phẩm công nghiệp có lợi
thế so sánh; phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng
nền nông nghiệp có ứng dụng mạnh khoa học-kỹ thuật, tạo giá trị gia tăng cao, phát
triển theo hướng bền vững; thúc đẩy cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu
tư, kinh doanh; các giải pháp thu hút đầu tư, đặc biệt là thu hút đầu tư nước
ngoài…



2.2 Bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển bền vững
Vào năm 2013 mức tiêu thụ năng lượng của Việt Nam khoảng 57
triệu tấn dầu quy đổi và dự báo sẽ tiếp tục gia tăng ở mức cao vào khoảng
7%/năm trong giai đoạn 2010-2020, xấp xỉ 5% giai đoạn 2020-2030. Do vậy,
để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển các nguồn điện theo hướng
năng lượng sạch thì thủy điện đang là một hướng đi của Việt Nam. Việt Nam
hiện có 75 công trình thủy điện lớn và khoảng hơn 470 công trình thủy điện vừa
và nhỏ có công suất từ 1.000-3.000 MW. Nước ta có 2.360 con sông đây sẽ là
điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện, góp phần bảo đảm an ninh năng
lượng quốc gia.

2.3 Bảo đảm an ninh lương thực ,vệ sinh và an toàn thực phẩm cho
nhân dân;
Mặc dù đã là nước xuất khẩu gạo, an ninh lương thực vẫn được coi
là mục tiêu hàng đầu ở Việt Nam. Chính phủ Việt nam đã ban hành nghị quyết
về An Ninh Lương Thực Quốc Gia vào ngày 23-12-2009. Nghị quyết khẳng
định: “Đến năm 2020, bảo vệ đất lúa 3,8 triệu héc ta để có sản lượng 41-43
triệu tấn, tăng diện tích trồng ngô lên 1,3 triệu héc ta, sản lượng 7,5 triệu tấn;
diện tích cây ăn quả 1,2 triệu héc ta, sản lượng 12 triệu tấn; rau các loại 1,2
triệu héc ta, sản lượng 20 triệu tấn; sản lượng thịt hơi 8 triệu tấn, sữa tươi 1
triệu tấn, trứng gia cầm 14 tỉ quả, 2,4 triệu tấn thủy sản khai thác và 4 triệu tấn
thủy sản nuôi trồng”.


2.4 Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên
thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường
lâu bền.
Điều 4 nguyên tắc bảo vệ môi trường của Luật bảo vệ môi trường
55/2014/QH13 đã nêu rõ : Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát
triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ

môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.

3. Việt Nam cần làm gì để phát triển bền vững:
3.1 Chuyển hướng tư duy hoạch định chính sách
Đây là giải pháp cơ bản và toàn diện để phát triển bền vững. Về kinh tế,
phát triển bền vững đã được Nghị quyết của Đảng khẳng định là chuyển hướng
đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, chủ yếu phát triển theo
chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất
lượng, hiệu quả của nền kinh tế. Song với bệnh thành tích về tăng trưởng đã ăn
sâu hơn thập kỷ qua thì việc chuyển hướng này chắc chắn sẽ gặp nhiều khó
khăn, đặc biệt ở các cơ quan thực thi chính sách ở cấp cơ sở. Muốn vậy, ngay từ
cấp hoạch định chính sách ở trung ương cần quyết tâm rất cao với những giải
pháp quyết liệt và được quán triệt tư duy ở tất cả các cơ quan xây dựng và thực
thi chính sách ở cả trung ương và địa phương.
Hoàn thiện thể chế làm cơ sở cho sự phát triển của kinh tế thị trường cần được
khởi động lại với các chính sách giải phóng các nguồn lực trong nước, đặc biệt
là khu vực tư nhân với nguồn nội lực to lớn và huy động tối đa các nguồn lực từ
bên ngoài. Việt Nam với địa thế rất thuận lợi trong khu vực để phát triển giao
thương và du lịch với bãi biển dài hàng ngàn mét có đủ cả 3S (sun - sea - sand)
nhưng chưa có chính sách chiến lược đầu tư để phát triển các lợi thế, mang lại
hiệu quả kinh tế cao, cạnh tranh được với các nền kinh tế trong khu vực. Cần
thay đổi tư duy phát triển 63 nền kinh tế địa phương với cơ cấu kinh tế tương tự
nhau, khu kinh tế, khu công nghịêp mở khắp nơi nhưng hiệu quả rất thấp.
Bên cạnh đó, cũng cần ban hành một số chính sách “nói không” với những dự
án đầu tư không mang lại nhiều hiệu quả hoặc có thể gây ra những tác động bất


lợi, kể cả về mặt xã hội hơn là những khoản lợi nhuận kinh tế trước mắt. Năm
2010, Quốc hội đã từng “nói không” với dự án đường sắt cao tốc. Đến nay cần
tiếp tục nghiên cứu, phân tích lợi - hại để đưa ra các quyết sách kịp thời với

thủy điện, điện hạt nhân, khai thác tài nguyên (bauxite, than…), bất động sản,
tiền tệ, dịch vụ tài chính, ngân hàng... Thời gian qua, kinh tế phát triển với tốc
độ nhanh chủ yếu vẫn dựa vào các nguồn lực từ bên ngoài và các chính sách
“bong bóng”. Nếu không có can đảm “xì hơi” dần thì những bong bóng này
chắc chắn sẽ gây ra hậu quả và không thể mang đến sự phát triển bền vững.
3.2 Gắn phát triển kinh tế với xã hội, môi trường
Muốn phát triển bền vững, không chỉ có chính sách kinh tế quyết định mà cần
gắn với chính sách kinh tế với an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực và bảo
vệ môi trường. Nút thắt về nguồn nhân lực đã được các nhà hoạch định chính
sách nhìn thấy song đến nay vẫn chưa có chiến lược nào được thực thi để tháo
gỡ. Suốt hàng thập kỷ qua giáo dục cũng phát triển với tốc độ “bong bóng”, tỷ
lệ có bằng đại học thuộc loại cao nhất thế giới nhưng chất lượng nguồn nhân
lực thì không được thị trường công nhận. Nguồn nhân lực giá rẻ chứng tỏ chất
lượng lao động thấp, chỉ thu hút đầu tư vào những ngành sử dụng lao động giản
đơn, hiệu quả thấp, ít sử dụng công nghệ cao. Thành quả của nền giáo dục
chính là tương lai của nền kinh tế, song với chất lượng giáo dục thấp như vậy
thì kinh tế không thể cất cánh được.
Nền kinh tế phát triển có bền vững hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố xã
hội và môi trường. Sự phát triển kinh tế trên cơ sở nhu cầu và các mối quan hệ
xã hội, đồng thời thúc đẩy các lực lượng xã hội phát triển. Việc hài hòa các lợi
ích về kinh tế và xây dựng các mối quan hệ xã hội tuy khó nhưng không thể
tách rời. Nếu hoạch định chính sách kinh tế thiếu gắn kết với chính sách an sinh
xã hội chắc chắn sẽ không thể duy trì được tăng trưởng mà có thể gây ra những
tác động bất lợi cho sự phát triển ổn định.
Thời gian qua, đã có nhiều chính sách được ban hành để kích thích phát triển
kinh tế nhưng vẫn thiếu các chính sách thúc đẩy các lĩnh vực xã hội như y tế,
giáo dục, môi trường… phát triển theo hướng tạo nền tảng cho kinh tế phát
triển chứ không phải phát triển tương tự như một ngành kinh tế. Nhiều mối
quan hệ xã hội được nảy sinh cùng với tốc độ phát triển nhưng chưa có chính
sách, thể chế đầy đủ để định hướng phát triển như chính sách về hội, về báo chí,

về lao động…
Gần đây, biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm của các nhà hoạch định
chính sách. Tuy nhiên, những nhận thức đó chưa được thể hiện nhiều trên thực
tế, hiện tượng phá hoại môi trường sống đang diễn ra khắp nơi, ở tất cả mọi lĩnh
vực của đời sống. Việt Nam vẫn thiếu những kế hoạch hành động cụ thể và khả
thi để bảo vệ môi trường cũng chính là mang lại lợi ích kinh tế. Nếu mỗi chính


sách được ban hành đều tính toán đến lợi ích về môi trường thì lợi ích kinh tế sẽ
thu được nhiều hơn và bảo đảm tính bền vững hơn.
3.3 Cải tổ bộ máy thực thi chính sách
Để thực hiện các chính sách đã được hoạch định thì cần cải tổ bộ máy
thực thi chính sách ở tất cả các lĩnh vực theo hướng Nhà nước phục vụ dân, đáp
ứng nhu cầu của thị trường, của cuộc sống. Đây là giải pháp cuối cùng và thiết
thực nhất nhưng cũng gian nan nhất để đưa chính sách vào cuộc sống. Đặc biệt
là cải cách thể chế và hệ thống tư pháp để pháp luật được thực thi một cách
công khai, minh bạch và bình đẳng, để người dân được hưởng các quyền một
cách chính đáng, phát huy được khả năng và đóng góp cho sự phát triển của xã
hội.
Việc hoạch định chính sách cần nhắm tới mục đích cuối cùng là phát triển bền
vững với chiến lược 30, 50 năm chứ không chỉ vì mục tiêu 5, 10 năm tới, nhưng
nếu không kiên trì xây dựng và thực thi từng bước ngay từ hôm nay thì không
thể có tương lai tươi sáng của đất nước.
Ngoài ba nhiệm vụ quan trọng trên chúng ta cũng cần phải chúng ta
cũng cần phải:
Trọng dụng nhân tài
Kinh nghiệm quốc tế và những nghiên cứu khoa học cho thấy, các quốc gia
phát triển nhanh và bền vững đều có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao và chính sách sử dụng nhân tài. Việt Nam muốn tăng trưởng nhanh
và phát triển bền vững cũng cần phải có những chính sách đúng đắn để tạo ra

nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài có hiệu quả.
Một thực tế rất đáng suy ngẫm là nguồn nhân lực của nước ta trong nhiều năm
qua không đáp ứng yêu cầu của những ngành kinh tế kỹ thuật mới, trong khi
nhiều học sinh, sinh viên Việt Nam đoạt giải cao ở các kỳ thi quốc tế. Có thể
nêu một số thí dụ: Hãng Intel của Mỹ vào Việt Nam đầu tư có tổ chức thi tuyển
dụng nhân viên công nghệ thông tin, trong số 2.000 ứng viên dự thi để vào làm
việc cho cơ sở sản xuất của hãng tại TP Hồ Chí Minh thì chỉ có 90 người tức
5% đạt chuẩn chuyên môn, trong đó chỉ có 40 người đủ trình độ tiếng Anh để
tuyển dụng, kết quả cuối cùng là chỉ có 2% được tuyển dụng. Hoặc như Hãng
Renesas chuyên thiết kế và sản xuất vi mạch hàng đầu của Nhật Bản đầu tư vào
TP Hồ Chí Minh muốn tuyển 500 kỹ sư cho giai đoạn đầu hoạt động của hãng,
vậy mà hai năm liền 2007 và 2008 chỉ tuyển được có 60 người... Ngay như một
số dự án và công trình xây dựng trên khắp đất nước ta cũng phải thuê nhân lực
quốc tế. Những việc nêu trên cảnh báo cho chúng ta một vấn đề về những bất
cập của hệ thống giáo dục, nhất là giáo dục ở bậc đại học và dạy nghề. Chiều
hướng phát triển giáo dục, đào tạo trong những thập niên vừa qua đã không thể
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước khi đi vào công nghiệp hóa, hiện đại


hóa mặc dù đầu tư của Nhà nước và của nhân dân rất lớn. Chúng ta cần phải đổi
mới một cách căn bản tư duy và cải cách giáo dục, đào tạo theo hướng phải thật
sự coi trọng đào tạo tư duy sáng tạo, đào tạo kỹ năng và đào tạo chuyên môn
nghề nghiệp.
Theo đó, giáo dục đại học cần thiết chuyển hướng sang đào tạo nhân lực có
trình độ và kỹ năng làm việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển của đất nước
trong dài hạn mà thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và phát triển kinh tế trí
thức yêu cầu. Cơ chế giáo dục đại học và trên đại học cần thiết phải tạo ra được
các cộng đồng sinh viên được tổ chức sao cho trên cái nền kiến thức giáo dục
cơ bản thật sự khuyến khích tính linh hoạt và sáng tạo của sinh viên, nghiên cứu
sinh; tạo ra cho mỗi chủ thể sinh viên một môi trường học tập, nghiên cứu mà

họ có thể tự đào tạo, tự vươn lên phù hợp với những biến đổi của xã hội luôn
thay đổi trong điều kiện khoa học, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ thay đổi nhanh
chóng ở thế kỷ 21. Muốn vậy cần phải thay đổi cách dạy trong các cơ sở đào
tạo đại học. Dạy ở bậc đại học và trên đại học không chỉ là truyền đạt những gì
đã biết mà quan trọng hơn là dạy cho sinh viên, nghiên cứu sinh cách duy trì
việc cập nhật kiến thức, phương pháp tư duy, cách xử lý các vấn đề nảy sinh
trong thực tiễn... để họ có thể biết cách làm mới kỹ năng làm việc của mình để
thích ứng với môi trường, điều kiện luôn thay đổi.
Hiện nay, nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế, chính trị toàn cầu.
Nhu cầu về nhân lực ngày càng lớn, do đó giáo dục đại học của nước ta phải
làm sao nhanh chóng đáp ứng yêu cầu này. Ngoài những kỹ năng chuyên môn
cấp thiết phải tăng số lượng và trình độ ngoại ngữ. Đây quả thật là một thách
thức lớn đối với giáo dục của nước ta. Cùng với việc xây dựng các trung tâm
đào tạo có chất lượng quốc tế, cần thiết có những chính sách để đưa nhiều sinh
viên học tập ở nước ngoài, có chiến lược và những cơ chế, chính sách trọng
dụng nhân tài, kể cả các nhân tài quốc tế đến làm việc, cống hiến cho đất nước
Việt Nam.
Dạy nghề đáp ứng nhu cầu phát triển
Để đất nước phát triển nhanh và bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng
và triển khai nhiều chương trình, chiến lược kinh tế - xã hội, các chính sách an
sinh xã hội, bảo vệ môi trường. Đặc biệt đầu tư rất lớn cho giáo dục, đào tạo để
phát triển nguồn nhân lực. Trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế thế giới
cạnh tranh quyết liệt thì như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: Nguồn
lực con người là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yếu tố quyết định sự phát triển
của quốc gia... Do đó cần phải tập trung sức phát triển giáo dục và đào tạo, nhất
là đào tạo đại học và dạy nghề để có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ cấu hợp
lý nhằm đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình
tăng trưởng.



Như vậy, việc tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trước
hết là nâng cấp cơ cấu công nghiệp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều
sâu nhằm sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn,
nhanh chóng thích nghi với những công nghệ mới và phương pháp quản lý hiện
đại đòi hỏi phải có một hệ thống giáo dục dạy nghề hiệu quả hơn và rộng lớn
hơn. Nhu cầu về nguồn nhân lực được đào tạo nghề ngày càng trở nên cấp thiết
song giáo dục dạy nghề lại chưa đáp ứng cả về số lượng và kỹ năng nghề
nghiệp.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt
Nam chỉ đạt 3,79 trên thang điểm 10, xếp hạng thứ 11 trong 12 quốc gia được
khảo sát tại khu vực châu Á. Ở Việt Nam chưa có trường dạy nghề nào được
định chuẩn là đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và khu vực. Một số doanh nghiệp
Việt Nam đã phải thuê lao động có kỹ năng từ nước ngoài... Tuy vậy, điều ghi
nhận những cố gắng của đào tạo nghề ở nước ta là quy mô đào tạo nghề tăng
khá nhanh. Trong vòng 10 năm từ 1998 đến 2008, tỷ lệ sinh viên theo học tại
các trường trung học và cao đẳng, đại học dạy nghề đã tăng gấp bốn lần. Năm
2009 đạt con số 1,7 triệu người và năm 2010 có tới gần một nửa số quận, huyện
trong cả nước có ít nhất một trung tâm đào tạo nghề. Từ năm 1997, tỷ lệ công
nhân được đào tạo nghề tăng từ 10% lên 30%.
Hạn chế chính của đào tạo nghề ở nước ta trong thời gian qua là thiếu một đội
ngũ giáo viên giỏi và sự quản lý công tác dạy nghề yếu kém, chưa thống nhất
vào một ngành mà phân tán, mạnh ai nấy làm đã làm cho chất lượng dạy và cơ
sở vật chất dành cho giảng dạy xuống cấp. Vấn đề quan trọng hàng đầu đối với
dạy nghề cho nguồn nhân lực của nước ta là kỹ năng và kiến thức nghề. Để đạt
được những yêu cầu ấy người được đào tạo nghề phải trải nghiệm trong công
việc (học trong công việc và làm việc) và kiến thức từ quá trình đào tạo chính
thức. Theo đó các trung tâm dạy nghề cần phải cung cấp cho người học nghề cả
việc học nghề thực hành và hướng dẫn lý thuyết. Chính vì vậy sự hợp tác giữa
các trường, trung tâm dạy nghề với các công ty, doanh nghiệp là yêu cầu
thường xuyên. Chỉ thông qua việc hợp tác này mới có thể tạo ra nguồn nhân lực

được đào tạo với nghề nghiệp thích ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh, gắn kết
được nhu cầu của thực tiễn với đào tạo nghề của các trường và các cơ sở dạy
nghề.
Động lực lớn và điều kiện thuận lợi cho công tác dạy nghề hiện tại là thực hiện
công nghiệp hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo chính sách tam
nông của Đảng. Chương trình đào tạo nghề cho nhân lực ở nông thôn đang
được triển khai với mục tiêu mỗi năm đào tạo một triệu nhân công nông thôn
bao gồm cả các viên chức làm việc ở khu vực nông thôn. Sự chỉ đạo quyết liệt
của Chính phủ và các cấp, ngành hữu quan yêu cầu mỗi quận, huyện và cấp xã
phải có một cán bộ chuyên trách chịu trách nhiệm về giáo dục dạy nghề và dạy
nghề miễn phí cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn mà sẵn sàng đi làm việc ở


nước ngoài đã tạo ra những điều kiện tốt cho công tác đào tạo nghề ở nông
thôn. Để chương trình đào tạo nghề ở nông thôn thật sự hiệu quả, thiết nghĩ các
chương trình đào tạo nghề nên coi trọng dạy nghề nông hơn nữa. Nên khuyến
khích các chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm tại những khu vực nông thôn
thông qua sự đa dạng hóa ngành, nghề và cách thức tổ chức lao động, quản lý
của doanh nghiệp gắn liền với đặc điểm của địa phương và nhu cầu phát triển
kinh tế, xã hội tại địa bàn.
Với lợi thế về cơ cấu dân số trẻ, chỉ số phát triển người cao, nguồn nhân lực dồi
dào có học vấn và được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, trình độ chuyên môn,
chúng ta có cơ sở để đất nước phát triển nhanh và bền vững.
4. Vấn đề môi trường
Chính phủ Việt Nam được sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế đã xác định
8 vấn đề môi trường bức bách nhất cần được ưu tiên giải quyết là:
• Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe doạ cả nước, và trong
thực tế tai hoạ mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã xảy ra ở nhiều
vùng, mất rừng là một thảm hoạ quốc gia.


• Sự suy thoái nhanh của chất lượng đất và diện tích đất canh tác theo
đầu người, việc sử dụng lãng phí tài nguyên đất đang tiếp diễn.
• Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật biển ở ven bờ đã bị
suy giảm đáng kể, môi trường biển bắt đầu bị ô nhiễm, trước hết do dầu
mỏ.


• Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, các hệ
sinh thái v.v... đang được sử dụng không hợp lý, dẫn đến sự cạn kiệt và làm
nghèo tài nguyên thiên nhiên.
• Ô nhiễm môi trường, trước hết là môi trường nước, không khí và đất
đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc đến mức trầm trọng, nhiều vấn đề về vệ
sinh môi trường phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn.
• Tác hại của chiến tranh, đặc biệt là các hoá chất độc hại đã và đang
gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên
và con người Việt Nam.
• Việc gia tăng quá nhanh dân số cả nước, sự phân bố không đồng đều
và không hợp lý lực lượng lao động giữa các vùng và các ngành khai thác
tài nguyên là những vấn đề phức tạp nhất trong quan hệ dân số và môi
trường.
• Thiếu nhiều cơ sở vật chất - kỹ thuật, cán bộ, luật pháp để giải quyết
các vấn đề môi trường, trong khi nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên không
ngừng tăng lên, yêu cầu về cải thiện môi trường và chống ô nhiễm môi
trường ngày một lớn và phức tạp.
Tài liệu tham khảo
-Trương Quang Học,2011,Phát triển bền vững- Chiến lược phát triển toàn cầu
thế kỷ XXI,Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc
gia HN.
-




×