Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ hồ CHÍ MINH với sự NGHIỆP xây DỰNG hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM HIỆN NAY (TT)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 24 trang )

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh (1890-1969) là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là nhà tƣ
tƣởng, nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, ngƣời đã đƣa Việt Nam bƣớc vào kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh nói chung, trong đó có tƣ tƣởng chính trị của Ngƣời, là kim chỉ nam hƣớng
dẫn cách mạng Việt Nam thành công vang dội. Đặc biệt, dƣới sự lãnh đạo của Hồ
Chí Minh, hệ thống chính trị dân chủ ở Việt Nam đƣợc hình thành, phát triển và
từng bƣớc đƣợc hoàn thiện cùng với tiến trình phát triển của cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta từ đầu thế kỷ XX đến
nay. Đó là một hệ thống chính trị kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân và
đại biểu cho lợi ích của toàn dân tộc. Trong hệ thống đó, Đảng Cộng sản Việt Nam
là hạt nhân và giữ vai trò lãnh đạo; “Nhà nƣớc ta là cột trụ của hệ thống chính trị, là
công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân”1, là ngƣời tổ chức, quản lý, điều hành
xã hội, thực hiện rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân. “Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận
động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân; đƣa các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc, các
chƣơng trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp
phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội”2. Sự vững mạnh (hay suy yếu) của hệ
thống chính trị có vai trò quyết định đến thắng lợi (hay thất bại) của công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, các thành tố trong hệ thống chính trị
có vai trò to lớn đối với những thắng lợi vĩ đại của đất nƣớc. Đảng ta là một Đảng
cầm quyền, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên cƣờng và dày dạn trong đấu tranh
cách mạng; một đảng có tầm trí tuệ cao nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; giải quyết một cách đúng đắn và sáng
tạo các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân
tố quyết định thắng lợi trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc


và đƣa đất nƣớc bƣớc vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong những năm đổi mới, dƣới sự
lãnh đạo của Đảng, Nhà nƣớc đã có những bƣớc trƣởng thành vƣợt bậc trong việc
thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình đối với tổ chức, quản lý, điều
hành các quá trình kinh tế - xã hội, đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội; các tổ chức đoàn thể nhân dân không ngừng phát
triển và ngày càng nâng cao vai trò làm chủ của mình trong mọi lĩnh vực… Thế
nhƣng, bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc, thực tế còn tồn tại nhiều vấn đề cả
về lý luận và thực tiễn cần tập trung giải quyết nhƣ lý luận về chủ nghĩa xã hội và
con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Đảng lãnh đạo và cầm quyền chƣa
1

Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr.44.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.124.


2

đƣợc làm rõ; vấn đề quyền lực thuộc về nhân dân còn mang tính hình thức; hệ
thống pháp luật vừa thừa vừa thiếu, chƣa đồng bộ và còn chồng chéo; quyền lực
nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc
trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp còn có những nhận thức
khác nhau; đặc biệt là những khuyết tật trong đạo đức công mà sinh thời Hồ Chí
Minh đã phê phán nhƣ căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, hách dịch, tham ô,
lãng phí… làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân, làm xói
mòn lòng tin của nhân dân, làm phƣơng hại lớn đến nền dân chủ nhân dân. Nghị
quyết Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tƣ tƣởng,

đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng
tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chƣa đƣợc ngăn
chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…”3. Trong tình hình ấy, việc
nghiên cứu, làm rõ nội dung và đặc điểm của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, từ đó
vận dụng đề xuất các giải pháp góp phần phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị
của đất nƣớc và làm cho nó vận hành đồng bộ, nhịp nhàng và có hiệu quả là hết sức
cần thiết và cấp bách, nhất là trong bối cảnh Đảng và nhân dân ta đang đẩy mạnh
việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị và coi đó là một nội dung trọng tâm
của quá trình đổi mới đất nƣớc.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sĩ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có Tư tưởng chính trị của Ngƣời
là một vấn đề lớn, chứa đựng rất nhiều nội dung sâu sắc, mang tính cách mạng,
khoa học và nhân văn cao cả. Chính vì vậy, vấn đề này đã và đang thu hút sự quan
tâm của đông đảo các nhà khoa học trong nƣớc và trên thế giới với nhiều công
trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến trao đổi. Khái quát lại, các công
trình nghiên cứu về tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đƣợc tập trung theo các hƣớng:
Những công trình nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và những nội dung
cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh; Nghiên cứu vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí
Minh trong thời kỳ đổi mới.
Hướng nghiên cứu thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ
Chí Minh qua tiến trình lịch sử với nội dung tƣ tƣởng cơ bản của Ngƣời. Liên quan
đến chủ đề này có các công trình tiêu biểu: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường
cách mạng Việt Nam” của Võ Nguyên Giáp (Chủ biên) (Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2003); “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” của Trần Văn
Giàu (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); “Những nhận thức cơ bản về tư
tưởng Hồ Chí Minh” của Phạm Văn Đồng (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1998); Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ƣơng biên soạn công trình “Chủ tịch
3

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr.173.


3

Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp” (Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960); Tác giả Đinh
Xuân Lâm có công trình: “Góp phần tìm hiểu tư tưởng và cuộc đời Hồ Chí Minh”
(Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005)… và nhiều công trình khác. Các công
trình tiêu biểu kể trên đã làm rõ các mốc lớn có tính quyết định, mang ý nghĩa bƣớc
ngoặt lịch sử trên con đƣờng hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh và đặc điểm
của quá trình hình thành và phát triển của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, sản
phẩm của chủ nghĩa yêu nƣớc Việt Nam truyền thống và tinh hoa văn hóa thế giới.
Hướng thứ hai là các công trình nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau về tư
tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Các công trình này đã khai thác từng mặt, từng nội
dung tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời nêu lên những giá trị và bài học
lịch sử đối với dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trƣớc đây cũng
nhƣ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc hiện nay. Tiêu biểu là các
công trình: “Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam”, của Vũ Đình Hòe - Bùi Đình Phong đồng chủ biên (Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2010); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam” của Phạm Hồng Chƣơng (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng”, của Nguyễn Quốc Bảo (Nxb. Lao động,
1999); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới, sự hình thành và phát triển”
của Hoàng Văn Hảo (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Đại cương lịch sử
các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới” của Nguyễn Thế Nghĩa (Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999); “Phương pháp nhân nghĩa Hồ Chí Minh” của Vũ

Đình Hòe (Nxb. Trẻ, TP.HCM, 2006); “55 xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì
dân” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa
phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1998); “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh – Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm
ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Xây
dựng Đảng và rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2000); “Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh” (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2012); “Nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân
loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Triết
lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Nguyễn Hùng
Hậu (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí
Minh” của Vũ Đình Hòe (Nxb. Trẻ, TP.HCM, 2006)… và những công trình khác.
Trong các công trình tiêu biểu nói trên, các tác giả đã phân tích khá kỹ các phƣơng
diện khác nhau liên quan trực tiếp (hay gián tiếp) đến tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh với tƣ cách là học thuyết chính trị chỉ đạo nhất quán và
xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.
Hướng thứ ba là các công trình nghiên cứu vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh trong thời kỳ đổi mới, có các công trình tiêu biểu: “Hồ Chí Minh - một
con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” của Phạm Văn Đồng (Nxb.
Sự thật, Hà Nội, 1990); “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” (Học viện


4

Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế
kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010); “Hồ Chí Minh và minh triết Hồ Chí Minh” (Bùi Đình Phong, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ

Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” của Bùi Đình Phong (Nxb. Lao động, Hà Nội,
2007); “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam” của Mạch Quang Thắng (Nxb. Lao động, Hà Nội, 2010); “Vận
dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới”
của tác giả Bùi Đình Phong - Phạm Ngọc Anh đồng chủ biên (Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006); “Phát huy các nguồn lực của dân, làm lợi cho dân theo tư
tưởng Hồ Chí Minh” của Phạm Ngọc Anh (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2012). “Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và công cuộc đổi mới đất nước” của
Nguyễn Thế Nghĩa - Nguyễn Thanh Bình chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2000); “Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường chúng ta đi”của Ngô Văn
Thạo chủ biên (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Tư tưởng nhân văn Hồ
Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay” của Hoàng Trang
- Phạm Ngọc Anh, (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Hồ Chí Minh giải
phóng dân tộc và đổi mới của F.Motoo (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997);
“Giải phóng dân tộc và đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” (Bùi Đình
Phong, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Hồ Chí Minh - Nhà dự báo thiên
tài” của Trần Dƣơng, (Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2008... Trong các công trình trên,
các tác giả chủ yếu phân tích ý nghĩa của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh trong sự
nghiệp đổi mới ở các khía cạnh giáo dục con ngƣời, xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng văn hóa mới và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân… Tuy nhiên, các tác giả chƣa đi sâu phân tích và khái quát hóa
những bài học có giá trị đối với sự nghiệp phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị
trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.
Nhƣ vậy, việc nghiên cứu Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh và Xây dựng hệ
thống chính trị Việt Nam hiện nay đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu dƣới
nhiều khía cạnh khác nhau, nhƣng chƣa có công trình mang tính chuyên biệt, tập
trung nghiên cứu làm rõ Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng
hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những công trình tiêu biểu kể
trên là những tài liệu quý báu để tác giả tiếp thu, kế thừa trong luận án này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án

Mục đích:
Mục đích của luận án là trên cơ sở làm rõ nội dung và đặc điểm cơ bản của tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, đề xuất và luận chứng các giải pháp góp phần xây
dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích và khái quát những điều kiện và tiền đề hình thành tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh.


5

Hai là, phân tích những nội dung và đặc điểm cơ bản của tƣ tƣởng chính trị
Hồ Chí Minh.
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh
vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Nội dung tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh sâu sắc, phong phú, sinh động đƣợc
Đảng ta xác định là nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động cách mạng.
Do đó, trong luận án này, tác giả chỉ tập trung vào việc làm rõ những nội dung cơ
bản trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh trên các mặt: tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
mục tiêu chính trị và đƣờng lối chính trị của cách mạng Việt Nam; tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về quyền lực chính trị; Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị, từ đó
vận dụng vào việc xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
và hội nhập quốc tế.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phƣơng pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò
và ý nghĩa của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng Đảng Cộng sản Việt

Nam, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và hoàn thiện hệ thống chính trị của Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án, tác giả sử dụng các phƣơng
pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, sử
dụng các phƣơng pháp cụ thể nhƣ: hệ thống cấu trúc, lịch sử và lôgích, phân tích và
tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hóa…
Về tài liệu, tác giả sử dụng bộ sách Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000 làm tƣ liệu gốc để nghiên cứu luận án. Bên cạnh đó, tác giả
lấy các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và Hiến pháp nƣớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm tài liệu chuẩn định hƣớng cho việc nghiên cứu
luận án; đồng thời tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, về xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
6. Cái mới của luận án
- Luận án phân tích những điều kiện, tiền đề hình thành, phát triển tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh gắn liền với các sự kiện lịch sử xuyên suốt quá trình hoạt
động cách mạng của Hồ Chí Minh.
- Luận án phân tích và trình bày một cách có hệ thống tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh. Trong đó làm nổi bật những nội dung cơ bản và đặc điểm đặc sắc có ý
nghĩa thời đại trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh.
- Trên cơ sở đó, luận án đã luận chứng những giải pháp vận dụng sáng tạo tƣ


6

tƣởng chính trị Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính
trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý ngha k oho k hcc
Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm rõ những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh trên các mặt: tƣ tƣởng về mục tiêu chính trị và đƣờng lối
chính trị của cách mạng Việt Nam; tƣ tƣởng về quyền lực chính trị; tƣ tƣởng về hệ
thống chính trị.
Ý ngha k hḥc hĩn
Những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh là những bài học
bổ ích góp phần vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công
tác giảng dạy và nghiên cứu về Lịch sử tƣ tƣởng, về tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và xây
dựng Đảng.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc
kết cấu thành 3 chƣơng, 7 tiết, 24 tiểu tiết.
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
1.1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

1.1.1. Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành
tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh
Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tƣ bản đã phát triển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa trên phạm vi thế giới. Lúc
này, chủ nghĩa đế quốc là một hiện tƣợng quốc tế, một hệ thống thế giới, chúng vừa
tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa liên kết với nhau để nô dịch các dân tộc thuộc
địa. Để mở rộng thị trƣờng, khai thác sức lao động, xuất khẩu tƣ bản…, chủ nghĩa
đế quốc đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lƣợc các quốc gia, các dân tộc nhỏ
yếu, biến các quốc gia, các dân tộc đó thành thuộc địa và thực hiện đàn áp, bóc lột
tàn bạo “nhằm mục đích cƣớp bóc các nƣớc khác, bóp nghẹt các dân tộc nhƣợc

tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa”4.
Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây
ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Cuộc chiến tranh hao ngƣời
tốn của ấy đã khơi sâu, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nƣớc tƣ bản chủ
nghĩa, làm cho chủ nghĩa tƣ bản thế giới suy yếu, tạo điều kiện cho cách mạng xã
hội chủ nghĩa Tháng Mƣời Nga giành thắng lợi. Thắng lợi này đã tác động mạnh
mẽ, làm thay đổi tƣ duy của nhiều dân tộc, nhiều nhà tƣ tƣởng, trong đó có nhà tƣ
4

V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 31, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.18.


7

tƣởng vĩ đại của cách mạng Việt Nam - Hồ Chí Minh, tạo nên sự biến chuyển sâu
sắc trong tƣ duy chính trị của Ngƣời, trở thành bƣớc ngoặt quan trọng trong cuộc
đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh.
1.1.2. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX với việc hình thành tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh
Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam,
biến Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập thành một nƣớc thuộc địa nửa
phong kiến. Thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành cuộc
khai thác thuộc địa nhằm bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị và nô dịch về văn
hóa. Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chƣơng trình khai thác thuộc địa lần
thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chƣơng
trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dƣơng với số vốn đầu tƣ trên quy mô
lớn, tốc độ nhanh. Về kinh tế, bên cạnh việc duy trì kinh tế nông nghiệp, thực dân
Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa: Khai thác vơ vét tài nguyên thiên
nhiên, nông sản, thủy hải sản… Chúng kết hợp hai phƣơng thức bóc lột tƣ bản và
phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì vậy, nền kinh tế Việt Nam bị kìm

hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp. Về chính trị, chúng
đặt ách cai trị thực dân, thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.
Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị ngƣời Pháp, biến vua
quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay
đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Chúng tiếp
tục thi hành chính sách “chia để trị” rất thâm độc... xóa tên nƣớc ta trên bản đồ thế
giới. Về văn hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự
ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục. Chúng
mở nhà thờ, các tụ điểm ma túy, mại dâm, cờ bạc… nhiều hơn trƣờng học và bệnh
viện. Chúng tìm mọi cách bƣng bít và ngăn chặn ảnh hƣởng của nền văn hóa tiến
bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị...
Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tình hình
xã hội Việt Nam. Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn. Ngoài các
giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam nhƣ giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp
nông dân, giờ đây xã hội Việt Nam còn xuất hiện thêm nhiều giai cấp mới nhƣ giai
cấp tƣ sản, tầng lớp tiểu tƣ sản và giai cấp công nhân.
1.1.3. Các phong trào yêu nƣớc, chống thực dân Pháp xâm lƣợc
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta, với truyền thống chống ngoại
xâm đã có từ hàng nghìn năm, nhân dân Việt Nam liên tục đấu tranh chống ách
thống trị của thực dân Pháp. Với ý thức hệ phong kiến, các sĩ phu lãnh đạo phong
trào Cần Vƣơng (1958-1896) dƣới chiếu cần vƣơng của vua Hàm Nghi đã hăng hái
phát động phong trào chống Pháp, chủ trƣơng khôi phục lại nƣớc Việt Nam cũ. Các
cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân do các sĩ phu lãnh đạo liên tục
nổ ra. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa Trƣơng Định (1859 – 1864);
khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861); khởi nghĩa Nguyễn Thiện Thuật (1885);
khởi nghĩa Hƣơng Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885); khởi nghĩa Đinh


8


Công Tráng (1886); khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo...
Thế nhƣng, tất cả các cuộc khởi nghĩa đó đều thất bại.
Đầu thế kỷ XX, một làn gió tƣ tƣởng mới - tƣ tƣởng tƣ sản - thổi vào Việt
Nam. Lịch sử dân tộc Việt Nam đứng trƣớc sự lựa chọn con đƣờng cứu nƣớc mới
theo ngọn cờ tƣ sản mà đại diện tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.
Hệ tƣ tƣởng và đƣờng lối cách mạng theo khuynh hƣớng dân chủ tƣ sản mặc dù có
những mặt tiến bộ nhƣng không phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam và vì
vậy đã không trở thành hiện thực.
Sau thất bại của hai cụ Phan, con đƣờng cứu nƣớc theo ngọn cờ tƣ sản còn
tiếp tục đƣợc lịch sử dân tộc khảo nghiệm thông qua vai trò của Việt Nam quốc dân
đảng - một chính đảng của giai cấp tƣ sản Việt Nam. Tuy nhiên, do thiếu một
đƣờng lối chính trị rõ ràng và không xây dựng đƣợc một tổ chức chính trị chặt chẽ,
nhất quán nên các phong trào tƣ sản đều không tránh khỏi thất bại. Sự thất bại của
các cuộc vận động cách mạng và của Việt Nam quốc dân đảng đầu thế kỷ XX đã
chứng tỏ rằng nền chính trị tƣ sản, mô hình nhà nƣớc tƣ sản không phải là mô hình
phù hợp ở Việt Nam, bởi lẽ nhà nƣớc đó chỉ có thể mang lại quyền lợi và dân chủ
cho một số ít ngƣời trong xã hội - đó là giai cấp tƣ sản và tiểu tƣ sản. Trong khi đó,
yêu cầu cấp bách nhất, chủ yếu nhất của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ lại là giải
phóng kiếp ngƣời nô lệ và đem lại cuộc sống mới cho đại đa số nhân dân lao động.
Chính trong bối cảnh bế tắc nhƣ vậy của sự nghiệp giải phóng dân tộc, lại tận
mắt chứng kiến thời kỳ cả dân tộc đang rên xiết dƣới ách đô hộ của thực dân Pháp,
Hồ Chí Minh đã quyết tâm ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc.
1.2. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

1.2.1. Giá trị truyền thống và tƣ tƣởng chính trị của dân tộc Việt Nam
Dân tộc Việt Nam trải qua hơn bốn ngàn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, đã hình
thành một bề dày văn hóa rất đáng tự hào, đặc biệt là các giá trị tinh thần truyền
thống. Theo thời gian, các giá trị tinh thần đó đã đƣợc các thế hệ ngƣời Việt Nam
liên tục kế thừa và phát triển, làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc. Trong
hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, một trong những giá trị tinh thần cốt

lõi nhất, đƣợc hình thành sớm nhất và thƣờng xuyên đƣợc củng cố, kế thừa, phát
huy và phát triển từ thời dựng nƣớc đến tận ngày nay là tinh thần yêu nước. Qua
các cuộc chiến tranh chống xâm lƣợc bảo vệ nền độc lập của dân tộc, tinh thần yêu
nƣớc ngày càng lớn lên và trở thành chủ nghĩa yêu nước trong tâm hồn mỗi ngƣời
dân Việt Nam. Tinh thần yêu nƣớc của ngƣời Việt Nam không tách rời tinh thần, ý
thức bảo vệ độc lập dân tộc, cũng có thể xem đó là hai mặt của cùng một vấn đề.
Bên cạnh đó, truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái; phẩm chất
cần cù, thông minh, sáng tạo và lạc quan yêu đời của ngƣời Việt Nam đã góp phần
làm nên cái thông minh, sáng tạo và tạo dựng niềm tin vào sức mạnh của bản thân,
sức mạnh của cộng đồng, của chính nghĩa và Hồ Chí Minh chính là hiện thân của
trí thông minh, tính sáng tạo và tinh thần lạc quan yêu đời ấy.
Kế thừa và phát triển tƣ tƣởng chính trị “lấy dân làm gốc”, “khoan dân” “nhân nghĩa” trong truyền thống lịch sử của dân tộc - một nền chính trị tìm thấy


9

sức mạnh ở dân, thấy đƣợc vai trò to lớn của nhân dân để phát huy sức mạnh của
dân trong công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc, Hồ Chí Minh luôn quán triệt và nêu
cao tƣ tƣởng cách mạng là của dân, do dân và vì dân. Bên cạnh đó, sự hình thành tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hƣởng của giá trị truyền thống quê
hương và gia đình của Ngƣời. Những phẩm chất, nhân cách đƣợc hình thành từ nền
giáo dục của gia đình, những truyền thống của quê hƣơng đã dẫn dắt Hồ Chí Minh
nhận thức đƣợc tội ác của thực dân phong kiến, sự thối nát của chế độ chính trị mà
chúng đặt trên đất nƣớc Việt Nam. Đây là hành trang chuẩn bị của Hồ Chí Minh
trên bƣớc đƣờng tìm kiếm chân lý giải phóng dân tộc, cũng là cơ sở hình thành tƣ
tƣởng chính trị của Ngƣời.
1.2.2. Tƣ tƣởng chính trị và tinh hoa văn hoá Đông - Tây
Tiếp hhu hư hưởng chính trị và văn hó k phương Đông
Có thể nói, trong số các học thuyết chính trị lớn ở phƣơng Đông có ảnh hƣởng
đến sự hình thành tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thì Nho giáo có ảnh hƣởng sâu

đậm nhất. Những mặt tích cực trong tƣ tƣởng chính trị của Nho giáo là tinh thần
nhập thế, hành đạo, giúp đời, đó là lý tƣởng về một xã hội bình trị, một thế giới đại
đồng, là triết lý nhân sinh tu thân dƣỡng tính, chủ trƣơng từ thiên tử đến thứ dân ai
cũng phải lấy tu thân làm gốc. Khi kế thừa và vận dụng tƣ tƣởng Chính danh của
Nho giáo, Hồ Chí Minh đã loại bỏ tính chất duy tâm thiên mệnh, khôi phục lại
quan hệ bình đẳng hai chiều tự nhiên trong quan hệ ngƣời với ngƣời. Tƣ tƣởng
Thân dân trong học thuyết chính trị của Nho giáo cũng đƣợc Hồ Chí Minh vận
dụng nhuần nhuyễn. Kế thừa tƣ tƣởng “Pháp trị” của trƣờng phái Pháp gia, Hồ Chí
Minh có ý thức sớm về tầm quan trọng của pháp luật trong quản lý xã hội. Coi
trọng nhân tố pháp luật nhƣng, ở Hồ Chí Minh, chúng ta có thể thấy sự hòa quyện
việc giáo dục đạo đức, nâng cao trình độ giác ngộ, tự giác của nhân dân. Bản chất
của vấn đề là sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật, điều này tạo nên nhân nghĩa
pháp quyền riêng có ở Hồ Chí Minh. Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh còn chứa
đựng tinh thần nhân văn của Phật giáo. Nhƣng nếu tƣ tƣởng Phật giáo hƣớng đến
giải thoát con ngƣời khỏi nỗi khổ bằng sự tu luyện tinh thần đạo đức, thì Hồ Chí
Minh luôn quan tâm đến việc giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động
bằng con đƣờng hoạt động chính trị thực tiễn. Khi đã trở thành ngƣời mácxít,
Nguyễn Ái Quốc vẫn nghiên cứu về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm
thấy trong đó những tƣ tƣởng phù hợp với thực tiễn chính trị nƣớc ta, chế độ dân
chủ ở cách mạng Tân Hợi có ảnh hƣởng mạnh mẽ đối với tƣ duy chính trị của
Ngƣời.
Tiếp hhu hư hưởng chính trị và văn hó k phương Tây
Trong ba mƣơi năm hoạt động cách mạng ở nƣớc ngoài, Hồ Chí Minh đã có
dịp tiếp xúc với những tƣ tƣởng chính trị nhân văn tƣ sản đƣợc nảy sinh từ thời đại
Phục hƣng và thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập của nƣớc Mỹ và Tuyên ngôn về
nhân quyền và dân quyền của Cách mạng tƣ sản Pháp (1789). Chính những tƣ
tƣởng tiến bộ này đã giúp Hồ Chí Minh có động lực sáng tạo cái mới, tìm thấy mặt
hợp lý cũng nhƣ các giá trị nhân đạo và tinh thần dân chủ trong thời đại cách mạng



10

tƣ sản nhằm bổ sung, đồng thời phát triển hệ thống tƣ tƣởng chính trị của mình.
Bên cạnh đó, các học thuyết chính trị phương Tây và thực tiễn tổ chức hoạt
động chính trị của Hồ Chí Minh ở các quốc gia hiện đại có ảnh hƣởng nhất định
đến quá trình Hồ Chí Minh tìm kiếm một đƣờng lối chính trị phù hợp cho cách
mạng Việt Nam. Sống trên quê hƣơng của lý tƣởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái,
Nguyễn Ái Quốc đƣợc tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tƣ tƣởng Khai
sáng: Vônte, Rútxô, Môngtexkiơ... Nguyễn Ái Quốc còn tiếp thu đƣợc tƣ tƣởng
dân chủ và hình thành đƣợc phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực
tiễn. Nhờ đƣợc rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực
tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã trƣởng
thành từng bƣớc và cùng với thực tiễn hoạt động cách mạng ấy, tƣ tƣởng chính trị
Hồ Chí Minh cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện.
1.2.3. Tƣ tƣởng chính trị Mác - Lênin
Học thuyết chính trị Mác - Lênin là một học thuyết khoa học, ra đời trên cơ sở
tiếp thu, phát triển tri thức của nhân loại. Đó là học thuyết về con đƣờng đấu tranh
để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con ngƣời, vì vậy nó mang
bản chất chính trị sâu sắc. Học thuyết Mác - Lênin đã lý giải một cách sâu sắc,
đúng đắn những vấn đề cốt lõi liên quan đến chính trị, quyền lực chính trị và nhà
nƣớc kiểu mới của nhân dân lao động. Xây dựng và thực hiện quyền lực của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động là mục tiêu, là động lực của cách mạng xã hội
chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng sáng
tạo lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn sáng tạo ra lý luận cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - gắn
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải
phóng giai cấp và giải phóng con ngƣời.
1.2.4. Phƣơng pháp tƣ duy của Hồ Chí Minh
Trong suốt hành trình tìm đƣờng cứu nƣớc của mình, ngoài thế giới quan khoa
học, tri thức vững chắc về lý luận và lấy kinh nghiệm thực tiễn làm cơ sở, chính

phƣơng pháp tƣ duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, biện chứng của Hồ Chí Minh là nhân
tố chủ quan có ý nghĩa định hƣớng cho mọi hoạt động, từ nhận thức đến hành động
chính trị cũng nhƣ cách thức để thực hiện mục tiêu và đƣờng lối chính trị của
Ngƣời.
Nét đặc sắc nhất trong phƣơng pháp tƣ duy Hồ Chí Minh là tinh thần độc
lập, tự chủ, sáng tạo. Với phƣơng pháp tƣ duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, biện
chứng, Hồ Chí Minh đã lấy thực tế Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến
đổi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu cho mọi hoạt động chính trị. Đồng thời, cũng
nhờ lối tƣ duy ấy mà Hồ Chí Minh đã nắm vững thời cơ, giải quyết đúng đắn mối
quan hệ giữa thời, thế và lực; “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì trong nguyên tắc
kết hợp với mềm dẻo, linh hoạt trong phƣơng pháp... Nhờ vậy, Hồ Chí Minh đã
thấu hiểu quy luật khách quan để hành động đúng đắn và thành công.


11

1.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ
CHÍ MINH

Cùng với quá trình hoạt động chính trị, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh dần
đƣợc hình thành và phát triển. Trƣớc hết, những phẩm chất, nhân cách đƣợc hình
thành từ nền giáo dục của gia đình, những truyền thống của quê hƣơng đã dẫn dắt
Hồ Chí Minh nhận thức đƣợc tội ác của thực dân phong kiến, sự thối nát của chế
độ chính trị mà chúng đặt trên đất nƣớc Việt Nam. Đây là hành trang chuẩn bị của
Hồ Chí Minh trên bƣớc đƣờng tìm kiếm chân lý giải phóng dân tộc, cũng là cơ sở
hình thành tƣ tƣởng chính trị của Ngƣời.
1.3.1. Giai đoạn Hồ Chí Minh tìm tòi, lựa chọn, thể nghiệm con đƣờng
hoạt động chính trị (1911-1920)
Lớn lên trong cảnh nƣớc mất nhà tan, nhân dân lầm than khổ cực dƣới ách
thống trị của thực dân đã khơi dậy trong ngƣời thanh niên tinh thần yêu nƣớc và ý

chí tìm con đƣờng giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới độc lập, tự do, hạnh
phúc cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Qua các cuộc khảo sát khắp các lục địa, qua
tiếp xúc quảng giao, hoạt động xã hội và cách mạng, Hồ Chí Minh đã chú trọng cả
hai phƣơng diện hoạt động chính trị là lý luận và thực tiễn để xây dựng đường lối
cách mạng Việt Nam, xây dựng một thể chế chính trị, một mô hình tổ chức nhà
nước kiểu mới đối lập với mô hình nhà nước của chính quyền thuộc địa.
Về thực tiễn, nhờ đƣợc rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ
vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp, Nguyễn Ái
Quốc đã trƣởng thành từng bƣớc và cùng với thực tiễn hoạt động cách mạng ấy, tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện.
1.3.2. Giai đoạn Hồ Chí Minh xúc tiến chuẩn bị các tiền đề để thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam (1920-1930)
Tiếp thu chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và bài học kinh nghiệm của
Cách mạng tháng Mƣời Nga, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy muốn cách mạng thành
công phải có Đảng vững mạnh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động lãnh đạo.
Ngƣời đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, phong trào
yêu nƣớc và huấn luyện cán bộ chuẩn bị cho việc ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
trên tất cả các mặt tƣ tƣởng, chính trị, tổ chức và phƣơng pháp cách mạng. Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời đã khẳng định sự trƣởng thành chín muồi của tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh, mở ra trang sử mới cho cách mạng Việt Nam.
1.3.3. Giai đoạn Hồ Chí Minh tiếp tục chuẩn bị các tiền đề, thiết lập các
tổ chức chính trị để giải phóng dân tộc (1930-1945)
Sau 30 năm bôn ba tìm đƣờng cứu nƣớc, năm 1941, Hồ Chí Minh về nƣớc
chỉ đạo phong trào cách mạng. Ngƣời đã chủ trì Hội nghị Trung ƣơng 8, chuyển
hƣớng chỉ đạo chiến lƣợc, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và gắn liền
cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc với xây dựng thiết chế dân chủ, xây dựng chính
quyền cách mạng của nhân dân. Tại Hội nghị này, Hồ Chủ tịch và Trung ƣơng đã
chủ trƣơng thành lập Chính phủ Cộng hòa. Nhƣ vậy, đến đây, tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh thể hiện ở quyết tâm xây dựng nhà nƣớc kiểu mới: phát triển từ chính



12

phủ công - nông - binh đến chính phủ nhân dân của nƣớc Việt Nam dân chủ cộng
hòa - nhà nƣớc cộng hòa dân chủ nhân dân.
1.3.4. Giai đoạn Hồ Chí Minh thành lập, củng cố, hoàn thiện bộ máy
Đảng, Nhà nƣớc và tập hợp, đoàn kết các tổ chức chính trị của quần chúng
trong Mặt trận Tổ quốc (1945-1969)
Lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại,
ngày 2/9/1945, tại Quảng trƣờng Ba Đình, Hồ Chí Minh độc bản Tuyên ngôn độc
lập, khai sinh nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập là văn kiện
chính trị - pháp lý do Hồ Chủ tịch trực tiếp soạn thảo, thể hiện một cách sâu sắc tƣ
tƣởng của Ngƣời về một nhà nƣớc độc lập, tự chủ, thống nhất, cộng hòa dân chủ
nhân dân.
Nhƣ vậy, đến đây, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đƣợc bổ sung, phát triển
và hoàn thiện trên một loạt những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam: về xây
dựng Đảng Cộng sản với tư cách là Đảng cầm quyền; về xây dựng Nhà nước kiểu
mới của dân, do dân, vì dân; về củng cố và tăng cường đoàn kết nhất trí của khối
đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc...
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đƣợc hình thành từ những tiền đề lý luận
vững chắc, có cơ sở lý luận và thực tiễn phong phú, sinh động, thông qua trí tuệ
thiên tài và nhân cách cao cả của Hồ Chí Minh. Trƣớc hết, tình hình thế giới và
trong nƣớc giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tạo nên những mâu thuẫn
trong xã hội cần có một đƣờng lối chính trị đúng đắn, giải phóng dân tộc thoát khỏi
ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân. Hoàn cảnh lịch sử ấy đã thôi thúc Hồ
Chí Minh ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc, tìm một đƣờng lối chính trị phù hợp với xã hội
Việt Nam. Về mặt lý luận, tƣ tƣởng chính trị của Hồ Chí Minh đã kế thừa và tiếp
thu tƣ tƣởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam trong đó nổi bật

lên là chủ nghĩa yêu nƣớc, truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cƣờng vì độc lập,
tự do của nhân dân Việt Nam. Tƣ tƣởng chính trị của Ngƣời còn kế thừa truyền
thống chính trị và tinh hoa văn hóa phƣơng Đông, trong đó nổi bật là đƣờng lối
“đức trị” của Nho gia, “pháp trị” của Pháp gia và tinh thần nhân ái, vị tha, cứu khổ
cứu nạn của Phật giáo... Ngƣời còn tiếp thu tƣ tƣởng “tự do, bình đẳng, bác ái”
cùng cách thức tổ chức, quản lý xã hội của các nƣớc tiên tiến phƣơng Tây. Đặc
biệt, tƣ tƣởng chính trị Mác - Lênin chính là nền tảng của tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí
Minh.
Chƣơng 2
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN
CỦA TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
Chính trị là sự phản ánh tập trung đời sống kinh tế - xã hội. Sự phản ánh ấy
trƣớc hết biểu hiện dƣới hình thái tƣ tƣởng chính trị, trên cơ sở đó hình thành các
thiết chế, tổ chức chính trị. Vì vậy, các học thuyết chính trị là nền tảng tƣ tƣởng để
xây dựng các mô hình hệ thống chính trị. Từ xƣa đến nay, các nhà sáng lập ra các
triều đại mới, các chính thể mới đều phải dựa trên những học thuyết nhất định. Đối


13

với nƣớc ta, Hồ Chí Minh là ngƣời sáng lập nên hệ thống chính trị hiện đại Việt
Nam, đồng thời, tƣ tƣởng chính trị của Ngƣời trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của hệ thống chính trị.
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện của
Người về mặt chính trị, phản ánh những mối quan hệ giữa các giai cấp, lực lượng
xã hội, dân tộc, quốc gia xung quanh việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính
trị, quyền lực nhà nước vì lợi ích khách quan của giai cấp công nhân, của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đó là tư tưởng thể hiện mục tiêu chính trị
và đường lối chính trị độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; tư tưởng về Đảng và

xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh; tư tưởng về xây dựng
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; tư tưởng về xây dựng Mặt trận dân
tộc thống nhất... nhằm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động.
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

2.1.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về mục tiêu chính trị và đƣờng lối chính trị
của cách mạng Việt Nam
Mục tiêu chính trị của Hồ Chí Minh
Dân tộc Việt Nam trải qua hàng thế kỷ sống dƣới ách thực dân phong kiến với
một cuộc sống không có quyền tự do tối thiểu nào, bị nô dịch và bị áp bức, bóc lột
làm cho nghèo đói đến cùng cực. Chính vì vậy, khát vọng “Không có gì quý hơn
độc lập tự do” - giải phóng dân tộc, giành độc lập cho dân tộc để đem lại cuộc sống
tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân trở thành mục đích thiêng liêng mà Hồ Chí
Minh theo đuổi trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Trong tƣ tƣởng
của Ngƣời, ý chí quyết tâm đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc gắn bó chặt chẽ
với tƣ tƣởng đấu tranh vì quyền tự do và hạnh phúc của nhân dân. Có thể nói, quan
điểm này quán xuyến toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Ngƣời và đƣợc thể hiện cụ
thể trong từng chiến lƣợc, sách lƣợc mà Ngƣời đề ra nhằm chỉ đạo cách mạng Việt
Nam.
Đường lối chính trị “độc lập dân tộc gắn liền với chủ ngha k xã hội”
Để thực hiện mục tiêu chính trị ấy, Hồ Chí Minh chủ động tìm con đƣờng cứu
nƣớc sao cho vừa giành đƣợc độc lập cho dân tộc, vừa xây dựng cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đó chính là đƣờng lối chính trị độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội mà Ngƣời đã lựa chọn.
Nội dung của độc lập dân tộc: Độc lập dân tộc trong tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh có nội dung phong phú, đó là quyền bình đẳng giữa các dân tộc; là sự tồn
tại và phát triển của dân tộc trong sự bảo đảm thống nhất về chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ của đất nƣớc; đồng thời, ý nghĩa và giá trị của quyền độc lập dân tộc phải
đƣợc thể hiện ở quyền tự do và hạnh phúc mà nhân dân đƣợc hƣởng và độc lập dân
tộc trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh luôn gắn với việc bảo vệ hòa bình.

Nội dung của chủ nghĩa xã hội: Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã
hội là những khái quát lý luận và đƣợc diễn đạt bằng những quan niệm cụ thể
những gì mà chủ nghĩa xã hội sẽ đƣa lại thật sự cho nhân dân, cho dân tộc: chủ


14

nghĩa xã hội là một chế độ chính trị do nhân dân lao động là chủ và làm chủ; chủ
nghĩa xã hội là một chế độ có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển
của khoa học - kỹ thuật; chủ nghĩa xã hội là không còn chế độ ngƣời bóc lột ngƣời;
chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa và đạo đức; chủ nghĩa xã
hội có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nƣớc trên thế giới.
Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì,
độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để đi tới chủ nghĩa xã hội. Chủ
nghĩa xã hội là mục tiêu hƣớng tới, là cơ sở đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc. Tƣ
tƣởng đó khẳng định cách mạng Việt Nam là một quá trình liên tục không ngừng
gồm hai giai đoạn gắn liền nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động lẫn nhau cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong đó,
việc đề ra và giải quyết những nhiệm vụ của giai đoạn trƣớc phải tạo tiền đề và
điều kiện cho việc đề ra và giải quyết những nhiệm vụ của giai đoạn sau. Và việc
đề ra và giải quyết những nhiệm vụ của giai đoạn sau phải đồng thời tiếp tục hoàn
thành và củng cố thắng lợi thắng lợi của giai đoạn cách mạng trƣớc. Cả hai giai
đoạn cách mạng đó đều nằm trong tiến trình cách mạng không ngừng giữa chúng
không có sự ngăn cách. Sự phát triển đó mang tính khách quan, là xu thế tất yếu
của cách mạng Việt Nam và cũng là xu thế của thời đại mới. Tuy nhiên, mỗi giai
đoạn cách mạng có nhiệm vụ cơ bản, trung tâm phải tập trung giải quyết trong mối
quan hệ mật thiết với mục tiêu chiến lƣợc lâu dài.
2.1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị là phạm trù trung tâm của chính trị học. Quyền lực chính
trị là quyền lực của một giai cấp (hay liên minh giai cấp), thể hiện khả năng thực tế

của một giai cấp trong việc thực hiện ý chí của mình trong chính trị, nhờ đó mà lợi
ích khách quan của giai cấp đƣợc hiện thực hóa trong cuộc sống. Cuộc đời hoạt
động chính trị của Hồ Chí Minh chính là hành trình gian khổ để đấu tranh cho độc
lập dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, cũng chính là quá trình Ngƣời
đấu tranh để hiện thực hóa quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động. Do vậy, có thể khẳng định rằng, vấn đề cốt tử trong tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh là vấn đề quyền lực của nhân dân. Giành quyền lực từ tay đế quốc,
phong kiến về tay nhân dân, bảo vệ và phát huy triệt để quyền lực của nhân dân
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội chính là sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng
sản và hệ thống chính trị cách mạng Việt Nam. Tƣ tƣởng ấy bắt nguồn từ cách nhìn
mang tính khoa học và cách mạng của Ngƣời về nhân dân - động lực của cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, quan niệm về vai trò, vị trí
của quần chúng nhân dân trong lịch sử thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ
Chí Minh xem quần chúng nhân dân là động lực của các cuộc cách mạng trong xã
hội, là ngƣời sáng tạo nên lịch sử thông qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất
nhƣ lao động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần. Thứ hai, trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, gắn với điều kiện lịch sử


15

cụ thể của dân tộc Việt Nam và mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng của Đảng trong từng
giai đoạn, nhân dân được xác định có phạm vi rất rộng, không chỉ có công nhân,
nông dân, trí thức, mà gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp có đóng góp thúc đẩy cho
tiến bộ của lịch sử dân tộc vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ mới.
Tất nhiên, phạm trù nhân dân không phải nhất thành bất biến mà mang tính lịch sử
- cụ thể, tƣ duy của Hồ Chí Minh rất uyển chuyển trong việc giải quyết mối quan
hệ giữa cá nhân - nhân dân - dân tộc. Trong mọi trƣờng hợp, Ngƣời đã khéo mở lối
thu hút mọi cá nhân, mọi lực lƣợng vào hàng ngũ nhân dân, cùng với nhân dân hợp
thành một khối đoàn kết thống nhất. Thứ ba, thừa nhận phạm vi rộng lớn của phạm

trù “nhân dân”, Hồ Chí Minh luôn chú ý một mặt, đảm bảo sự bình đẳng của các
giai cấp, tầng lớp, tránh rơi vào chủ nghĩa biệt phái; mặt khác, không xóa nhòa ranh
giới giữa các giai cấp, tầng lớp, mà vẫn hết sức nhấn mạnh “cái lõi” của nhân dân
là công nhân, nông dân và lao động trí óc, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh
đạo.
Từ nhận thức đúng đắn về nhân dân và vai trò của nhân dân trong lịch sử, Hồ
Chí Minh đi đến khẳng định quyền lực chính trị của dân trong chế độ mới là “dân
là chủ” và “dân làm chủ”. Khi nói dân là chủ là nói đến vị thế của dân, còn khái
niệm dân làm chủ đề cập đến năng lực và trách nhiệm của dân. Cả hai đi đôi với
nhau, thể hiện vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của dân. Tƣ tƣởng này phản ánh
thực chất quan niệm quyền lực chính trị của dân trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh chính
là nội dung dân chủ. Quyền hành và lực lƣợng đều thuộc về nhân dân và xã hội
đảm bảo điều đó đƣợc thực thi thì đó là một xã hội thực sự dân chủ.
Thứ nhất, theo Hồ Chí Minh, nội dung của dân chủ thể hiện trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội, dân chủ thể hiện ở việc bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công
dân, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thứ hai, dân
chủ còn thể hiện ở tổ chức hệ thống chính trị với cơ cấu quyền lực và phƣơng thức
tổ chức xã hội, trong đó ngƣời dân có thể thực hiện quyền làm chủ xã hội. Thứ ba,
xây dựng nền dân chủ không chỉ chú trọng xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ
rộng rãi, mà còn phải quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị để bảo
đảm dân chủ.
2.1.3. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị
Trong hệ thống tƣ tƣởng của mình, Hồ Chí Minh không dùng khái niệm hệ
thống chính trị mà bằng những lý giải riêng, Hồ Chí Minh xác định cơ cấu tổ chức
và vai trò của của từng tổ chức trong việc thực thi quyền lực chính trị của nhân dân.
Ngƣời luôn chú trọng xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự trong sạch, vững
mạnh; xây dựng nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân; xây dựng Mặt trận
Tổ quốc thực hiện đại đoàn kết toàn dân. Đó chính là cơ cấu tổ chức của hệ thống
chính trị theo cách hiểu hiện nay.
Tư hưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam và xây ḍng Đảng trở

hhành Đảng lãnh đạo và cầm quyền
Vai trò và bản chất của Đảng: Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh tạo
nên động lực cách mạng của nƣớc ta là ở nhân dân. Nhƣng, sức mạnh to lớn của


16

nhân dân không phải tự nhiên mà có; nhân dân phải đƣợc tập hợp lại, đƣợc giáo
dục và đƣợc lãnh đạo bởi một tổ chức tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó
là hai mặt gắn bó hữu cơ với nhau, thiếu một mặt không thể tạo nên sức mạnh và
cách mạng không thể thành công. Sự cần thiết phải xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh, theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo là một quá
trình, bao gồm nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn; mỗi thời kỳ, giai đoạn có những mục
tiêu, nhiệm vụ cụ thể và những yêu cầu riêng. Trƣớc diễn biến của điều kiện khách
quan, bản thân Đảng phải tự chỉnh đốn, tự đổi mới để vƣơn lên làm tròn trọng trách
trƣớc giai cấp và dân tộc. Hơn nữa, Đảng sống trong xã hội, là một bộ phận hợp
thành cơ cấu của xã hội; mỗi cán bộ, đảng viên đều chịu ảnh hƣởng, tác động của
môi trƣờng xã hội, các quan hệ xã hội, cả cái tốt và cái xấu. Do đó, xây dựng, chỉnh
đốn Đảng là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dƣỡng tốt
hơn, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, đặc biệt là giữ đƣợc
các phẩm chất đạo đức tiêu biểu. Do vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành nhu
cầu tự hoàn thiện, nhu cầu tự làm trong sạch nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên.
Nội dung xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh thể hiện: bảo vệ
hệ tƣ tƣởng của giai cấp công nhân trong xây dựng đƣờng lối, chiến lƣợc và sách
lƣợc đến xây dựng, tổ chức bộ máy của Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ vừa
hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng.
Mỗi nội dung trên lại bao gồm nhiều nội dung nhỏ, chi tiết hơn. Song về tổng thể,
các nội dung này đều nằm trong mối quan hệ biện chứng, chế định khăng khít lẫn
nhau, tạo thành tổng thể thống nhất trong mục tiêu xây dựng đảng cầm quyền trong
sạch, vững mạnh, có đầy đủ khả năng lãnh đạo cách mạng đi tới mục tiêu chung

của dân tộc.
Phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong tư tưởng chính trị Hồ Chí
Minh, Theo Hồ Chí Minh, yêu cầu trƣớc hết trong sự lãnh đạo đối với Đảng cầm
quyền là phải đề ra đƣợc đƣờng lối, chủ trƣơng đúng đắn. Đƣờng lối đó phải đƣợc
thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc. Đồng thời, với tƣ
cách là tổ chức chính trị cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra đƣờng lối,
chủ trƣơng và vận dụng, thuyết phục các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tham
gia vào các phong trào cách mạng biến chủ trƣơng, đƣờng lối thành hiện thực.
Mối quan hệ giữa Đảng với dân trong điều kiện Đảng cầm quyền. Trong quan
niệm của Hồ Chí Minh, quyền lực của Đảng không tự nhiên mà có. Quyền lực ấy
là của nhân dân; nhân dân ủy thác cho Đảng đứng ra lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng. Cơ sở xã hội đối với quyền lực của Đảng không chỉ là từ giai cấp công nhân
mà còn từ toàn thể nhân dân lao động. Trong mối quan hệ với dân, trước hết, Đảng
tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân là để lấy các ý kiến đó làm cơ sở cho việc
hoạch định đƣờng lối, chủ trƣơng đúng đắn của mình. Thứ hai, khi đã có đƣờng lối,
chủ trƣơng, chính sách đúng thì Đảng chỉ có thể đƣa đƣờng lối, chủ trƣơng, chính
sách đó vào cuộc sống nếu đƣợc sự tiếp nhận và tự giác thực hiện từ phía nhân dân,
từ đó mới có thể huy động đƣợc đông đảo nhân dân tham gia thực hiện bằng chính
nhân, tài, vật lực của chính nhân dân. Thứ ba, sự liên hệ mật thiết với nhân dân
giúp cho Đảng có thể dựa vào dân để tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng ta và đội ngũ


17

đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh. Bên cạnh đó, một trong những yếu tố
rất quan trọng để tăng cƣờng hơn nữa mối liên hệ giữa đảng viên và quần chúng
chính là việc phát huy mạnh mẽ vai trò gƣơng mẫu của đảng viên và đƣợc thể hiện
trƣớc tiên là ở tƣ cách đạo đức, lối sống trong sạch trong mỗi đảng viên và việc đấu
tranh với những biểu hiện tiêu cực, tha hóa trong Đảng.
Tư hưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền: Sau khi xâm lƣợc nƣớc ta,
thực dân Pháp đã duy trì bộ máy nhà nƣớc phong kiến từ Trung ƣơng đến các làng
xã. Dƣới sự cai trị hà khắc của nhà nƣớc thực dân phong kiến theo kiểu chuyên
chế, không có luật pháp dân chủ ở Đông Dƣơng, nhân dân ta không đƣợc hƣởng
một chút quyền lợi nào, dù là nhỏ nhất. Do vậy, để thực sự giải phóng nhân dân,
Hồ Chí Minh chủ trƣơng sau khi đất nƣớc giành đƣợc nền độc lập, tự do, phải thiết
lập, xây dựng một nhà nƣớc kiểu mới - nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân với nhiệm vụ trọng yếu nhất là đoàn kết toàn dân, lo làm lợi cho nhân
dân, trƣớc hết là nhân dân lao động; làm cho trong xã hội không còn tình trạng
ngƣời bóc lột ngƣời và quan hệ giữa ngƣời với ngƣời là quan hệ thân ái, bình
đẳng… Tính nhất quán trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thể hiện ở cả mục đích,
nguyên tắc tổ chức lẫn phƣơng thức hoạt động của Nhà nƣớc. Nhà nước đó phải
được tổ chức một cách hợp hiến, hợp pháp và có sự phân quyền trong thực hiện
quyền lực nhà nước; Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã
hội bằng pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị… Nó phải thực sự
là công cụ quyền lực của nhân dân lao động; phản ánh, thực hiện và bảo vệ lợi ích
của nhân dân.
Quyền lợi và trách nhiệm của công dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân: Trong khi cầm quyền, Hồ Chi Minh đã tuyên bố và từng
bƣớc tổ chức hệ thống chính trị và bộ máy nhà nƣớc thật sự là công cụ thể hiện và
thực hiện quyền lực chính trị - quyền làm chủ của dân. Đó là một chế độ chính trị
dân chủ, quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân, nhân dân làm chủ xã hội, làm chủ
nhà nƣớc, đồng thời cũng phải có nghĩa vụ với xã hội, với nhà nƣớc. Trong mối
quan hệ với Nhà nƣớc, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi dân là người “chủ”, nghĩa là
dân có quyền được hưởng mọi quyền con người, có quyền làm bất cứ việc gì mà
pháp luật không cấm, có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Trong tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh, dân không chỉ bầu ra nhà nƣớc mà còn là người kiểm soát nhà nƣớc. Nhân
dân không chỉ thành lập ra nhà nước mà còn phải tham gia công việc của nhà
nước.

Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân:
Trong nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân, để phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa người chủ (ngƣời dân) và
người đầy tớ (cán bộ chính quyền, Đảng). Hai mặt này có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Nếu chỉ khẳng định một mặt địa vị, quyền lợi, nghĩa vụ của ngƣời dân trong
quá trình làm chủ, thì ngƣời dân chƣa thể thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của


18

mình. Vai trò, trách nhiệm và cách làm việc của cán bộ từ cấp cơ sở đến Chính phủ
trung ƣơng là thành tố thứ hai không thể thiếu đƣợc trong quá trình thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân.
Về xây dựng bộ máy nhà nước và cán bộ công chức: Hồ Chí Minh rất chú
trọng đến việc xây dựng bộ máy nhà nƣớc tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với từng giai
đoạn để phục vụ đắc lực cho mục tiêu hoạt động của nhà nƣớc. Vì vậy, khi bàn về
xây dựng bộ máy nhà nƣớc mới, Hồ Chí Minh hƣớng đến xây dựng đội ngũ cán bộ
công chức đủ đức đủ tài, vừa hồng vừa chuyên. Trƣớc hết, cán bộ, công chức phải
là người trung thành, kiên cường bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhà nước.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ công chức phải là người giỏi chuyên môn nghiệp vụ
và phải được đào tạo chuyên nghiệp. Đồng thời, ngƣời cán bộ phải có mối liên hệ
mật thiết với nhân dân.
Tư hưởng Hồ Chí Minh về xây ḍng Mặt trận dân tộc thống nhất
Tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm để phát huy
sức mạnh cộng đồng nhằm chống thiên tai và giặc ngoại xâm là truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam đƣợc gìn giữ và phát huy từ đời này qua đời khác, từ thế
hệ này qua thế hệ khác. Đến Hồ Chí Minh, truyền thống ấy đƣợc phát triển cao
hơn, “đại đoàn kết đƣợc xây dựng trên cả một lý luận chứ không còn là đơn thuần
là tình cảm tự nhiên của ngƣời trong một nƣớc phải thƣơng nhau cùng”5. Điều đó
có nghĩa là, trong tƣ duy lý luận của Hồ Chí Minh, tƣ tƣởng đại đoàn kết đƣợc hình

thành và phát triển trên một nền tảng lý luận khoa học và thực tiễn phong phú, sâu
sắc. Hơn nữa, lý luận ấy đã đƣợc Hồ Chí Minh hiện thực hóa trong việc xây dựng
Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận dân tộc thống nhất chính là cái “vỏ” vật chất
để chuyển hóa sức mạnh, tinh thần đại đoàn kết trở thành sức mạnh vật chất của
đông đảo quần chúng đƣợc giác ngộ, tổ chức và rèn luyện trong đấu tranh. Đây là
nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Cả dân tộc hay toàn dân chỉ trở
thành lực lƣợng to lớn, trở thành sức mạnh vô địch khi đƣợc giác ngộ về mục tiêu
chiến đấu chung, đƣợc tổ chức lại thành một khối vững chắc và hoạt động theo một
đƣờng lối chính trị đúng đắn. Nếu không hàng triệu ngƣời chỉ là số đông không có
sức mạnh.
2.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

2.2.1. Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh mang tính khoa học, cách mạng,
triệt để
Tính khoa học trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện ở mỗi luận điểm
mà Ngƣời nêu ra đều thể hiện sinh động tinh thần và phƣơng pháp biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là những khái quát lý luận từ thực tiễn chính trị - xã hội
đƣợc Ngƣời cân nhắc một cách lịch sử - cụ thể, toàn diện, hệ thống và chỉnh thể.
Ngƣời đề cập tới nhiều khía cạnh, nhiều phƣơng diện khác nhau của chính trị, từ
đƣờng lối cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ lý luận
chính trị chống chủ nghĩa thực dân (cũ và mới), cách mạng giải phóng dân tộc ở
các nƣớc thuộc địa đến kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến tới chủ
5

Viện Hồ Chí Minh (1993), Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, tập 2, tr.34.


19

nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Khoa học là cơ sở, là tiền đề của lý luận cách mạng. Cách mạng là hệ quả tất
yếu nảy sinh từ khoa học, từ nhận thức khoa học mà đi tới hành động cách mạng
trong thực tiễn, từ giải thích đúng đắn, chân thực thế giới khách quan mà đi đến cải
tạo thế giới bằng cách mạng. Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh không những mang
tính khoa học, sáng tạo mà còn mang bản chất cách mạng, triệt để. Nói cách khác,
Chính trị Hồ Chí Minh là chính trị hành động, không dừng ở tƣ tƣởng, lời nói mà
tƣ tƣởng, lời nói phải đƣợc thể hiện bằng việc làm, bằng hành động cụ thể, thiết
thực. Nói cách khác, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện một kiểu mẫu của
chính trị hành động, trọng công việc thực tế, trọng sự thiết thực, có ích cho cuộc
sống của dân, cho sự phát triển của đất nƣớc, con ngƣời và xã hội, chống lại mọi
biểu hiện phô trƣơng, hình thức, sự hời hợt, giản đơn trong suy nghĩ và hành động.
Hành động để cứu dân, cứu nƣớc, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc cũng là để toan
tính, trù liệu cho cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Hành động vì
chân lý mà xem xét, từ chính trị mà đấu tranh cách mạng, từ phá cái cũ lạc hậu,
thối nát, hƣ hỏng, đổi sang cái mới tiến bộ, lành mạnh để nƣớc nhà có độc lập, dân
tộc đƣợc tự do, đồng bào có hạnh phúc thì phải hiểu chân lý là những gì tốt cho
dân, có lợi cho dân, phục tùng chân lý thì phải phục vụ nhân dân.
2.2.2. Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh có sự thống nhất giữa tính giai
cấp, tính dân tộc và tính thời đại
Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân
tộc và tính nhân loại. Khi nói về giai cấp là nói đến lực lƣợng lãnh đạo sự phát
triển tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa tiếp ngay sau cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân. Khi nói đến dân tộc là nói đến mục tiêu giải phóng các tầng lớp nhân
dân bị áp bức, huy động sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, đƣợc xây dựng trên
nền tảng công nông liên minh, dƣới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân.
Mục tiêu của giai cấp vô sản và dân tộc về cơ bản là thống nhất: độc lập cho dân
tộc, dân chủ cho nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ở Hồ Chí Minh, biết đặt
quyền lợi dân tộc lên trên hết là động lực giúp Hồ Chí Minh vƣợt qua mọi khó
khăn, thử thách trong cuộc đời hoạt động chính trị và là nền tảng cho đại đoàn kết
dân tộc, đảm bảo cho mọi thành công của cách mạng nƣớc ta. Đồng thời, tính dân

tộc trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh không tách rời tính thời đại. Hồ Chí Minh
đã nhận thức đƣợc yêu cầu, tính chất của thời đại và đã góp phần vào sự phát triển
lịch sử nhân loại. Sự cống hiến của Hồ Chí Minh đƣợc thế giới công nhận, một
phần không nhỏ là do Ngƣời đã đạt được sự thống nhất trong nhận thức về thời đại
và hành động theo xu thế chung, hợp quy luật của thời đại. Hồ Chí Minh không chỉ
nhận thức đƣợc quy luật phát triển của thời đại ngày nay - các dân tộc sớm hay
muộn tất yếu phải đi lên con đƣờng xã hội chủ nghĩa mà còn hiểu biết sâu sắc
nguyện vọng, mơ ƣớc lâu đời của nhân loại về một xã hội công bằng, hạnh phúc;
cho nên sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là yêu cầu tất yếu và tƣ tƣởng về chủ nghĩa
xã hội khoa học - kết quả hàng bao thế kỷ mơ ƣớc và đấu tranh của quần chúng cho
việc tự giải phóng, là thành tựu tƣ duy tiến bộ của con ngƣời về một xã hội nhân
đạo, chính nghĩa.


20

2.2.3. Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh mang tính nhân văn sâu sắc
Có thể khẳng định, bản chất nhân văn đƣợc xem là linh hồn trong tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh, nó không chỉ tác động chi phối các quan hệ chính trị mà
còn thấm vào mọi mặt của đời sống xã hội, vào các quan hệ đạo đức, vào việc biến
lý tƣởng thành hiện thực bằng hoạt động cách mạng. Là nhân văn bởi tƣ tƣởng
chính trị Hồ Chí Minh xoay quanh vấn đề con ngƣời, số phận và cuộc sống của
nhân dân lao động, làm cách mạng để đánh đổ đế quốc phong kiến, thực hiện giải
phóng giai cấp, dân tộc và xã hội để giải phóng con ngƣời. Xây dựng chế độ chính
trị dân chủ, phát triển kinh tế và văn hóa cũng không ngoài mục đích đem lại cuộc
sống tự do, ấm no và hạnh phúc, công bằng và bình đẳng cho tất cả mọi ngƣời. Xây
dựng chủ nghĩa xã hội, vì thế, nâng con ngƣời lên trình độ ngƣời, tạo điều kiện cho
con ngƣời thoát khỏi mọi sự tha hóa để có bản chất ngƣời tốt đẹp nhất. Tính nhân
văn trong tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất giữa lý tƣởng,
mục đích chính trị và các phƣơng pháp, phƣơng tiện đạt đến mục đích chính trị đó.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

Tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đã thể hiện phong phú, đa dạng và sâu sắc
trên một số nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chính trị và đƣờng lối chính trị là
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giành độc lập tự do cho dân tộc để
tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, Hồ Chí Minh đã xác định cơ cấu tổ
chức gắn liền với vai trò của từng tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức ấy
trong chế độ mới. Ngƣời luôn luôn chú trọng xây dựng các tổ chức chính trị ở nƣớc
ta, bao gồm: Đảng cầm quyền, Nhà nƣớc dân chủ nhân dân và các tổ chức chính trị
quần chúng. Đây chính là cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị theo cách hiểu hiện
nay. Thứ ba, từ việc tìm hiểu, nghiên cứu nội dung cơ bản của tƣ tƣởng chính trị
Hồ Chí Minh, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tƣ
tƣởng chính trị Hồ Chí Minh mang tính khoa học; Thứ hai, tƣ tƣởng chính trị Hồ
Chí Minh mang tính cách mạng, triệt để; Thứ ba, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh
mang tính nhân văn sâu sắc.
Chƣơng 3
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

3.1.1. Khái niệm và đặc điểm hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thƣợng tầng xã hội, bao gồm
các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong
việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đƣa ra các
quyết định chính trị.
Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam: Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống
chính trị” xuất hiện vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tại Văn kiện



21

Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VI, tháng 3 - 1989. Hệ thống
chính trị Việt Nam đƣợc tổ chức theo mô hình có đỉnh quyền lực. So với nhiều
nƣớc trên thế giới, ngay cả những nƣớc có cùng mô hình hệ thống chính trị thì hệ
thống chính trị Việt Nam có những đặc điểm khác biệt. Những đặc điểm chủ yếu
của hệ thống chính trị Việt Nam là: Một là, tính nhất nguyên và chỉ do một Đảng
Cộng sản lãnh đạo; Hai là, hệ thống chính trị nƣớc ta mang tính dân tộc sâu sắc; Ba
là, hệ thống chính trị mang tính nhân dân sâu sắc; Bốn là, hệ thống chính trị mang
định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đƣợc tổ chức rộng khắp, chặt chẽ theo nguyên tắc tập
trung dân chủ; Năm là, các thành viên của hệ thống chính trị có địa vị pháp lý vững
chắc.
3.1.2. Thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới
Thực trạng hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
Hệ thống chính trị ở nƣớc ta là một chỉnh thể thống nhất. Đảng Cộng sản Việt
Nam là một thành viên trong hệ thống chính trị nhƣng Đảng là hạt nhân lãnh đạo.
Trong quá trình lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã luôn chú trọng
thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trên cả ba mặt chính trị, tƣ tƣởng và tổ chức và
vì vậy, đã đạt đƣợc một số kết quả tích cực. Nhờ vậy, các chủ trƣơng, đƣờng lối
của Đảng đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia, biến chủ trƣơng, đƣờng lối của
Đảng thành hiện thực, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu đã đạt đƣợc, công cuộc xây dựng Đảng còn tồn tại những hạn chế:
Cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cơ
quan, tổ chức đảng, đảng viên chƣa đạt yêu cầu đề ra. Công tác nghiên cứu lý luận,
tổng kết thực tiễn chƣa làm sáng tỏ đƣợc một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ
nghĩa xã hội và con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta. Tính chiến đấu, tính
thuyết phục, hiệu quả của công tác tƣ tƣởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu
tranh chống âm mƣu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”. Công tác xây dựng Đảng còn

nhiều hạn chế, yếu kém, chậm đƣợc khắc phục: Tình trạng suy thoái về chính trị, tƣ
tƣởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình
trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chƣa đƣợc
ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp. Một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một
số cán bộ cao cấp, suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu
hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tƣởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội,
thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng
phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...
Thực trạng hoạt động của bộ máy Nhà nước
Trong quá trình đổi mới đất nƣớc, lĩnh vực tổ chức và quản lý nhà nƣớc là
lĩnh vực khó khăn nhất đối với một Đảng cầm quyền, “Đó là nhiệm vụ khó khăn
nhất, vì vấn đề là phải tổ chức theo phƣơng thức mới những cơ sở sâu xa nhất,
những cơ sở kinh tế của đời sống của hàng chục và hàng chục triệu con ngƣời”6.
6

V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 36, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr.210.


22

Trong quá trình đổi mới đất nƣớc, việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tƣ pháp7. Đồng thời, việc
xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa đƣợc đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu
quả hoạt động đƣợc nâng lên. Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc, tổ chức và
hoạt động của Nhà nƣớc còn một số khâu chậm đổi mới. Bộ máy quản lý nhà nƣớc
các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém. Tình trạng nhũng nhiễu cửa quyền, thiếu
trách nhiệm ở một bộ phận công chức nhất là ở cơ quan trực tiếp giải quyết công
việc của dân và doanh nghiệp chậm đƣợc khắc phục. Đặc biệt, tình trạng quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi, lợi ích nhóm... vẫn còn nghiêm trọng, với

những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chƣa đƣợc ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã
hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Thực trạng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội thời kỳ đổi mới
Hoạt động cùa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ngày càng
thiết thực. Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở đƣợc mở rộng và có hiệu quả hơn,
nhất là ở xã, phƣờng. Công tác dân tộc, tôn giáo, vận động ngƣời Việt Nam ở nƣớc
ngoài có tiến bộ... thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khối đại
đoàn kết toàn dân tộc - trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức dƣới sự lãnh đạo của Đảng - tiếp tục đƣợc mở rộng và
tăng cƣờng. Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc, hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi còn mang tính hành chính,
hình thức. Dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm. Việc tuyên truyền, vận động, tập
hợp, thu hút nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể nhân dân còn hạn chế. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân chƣa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở...
Từ thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam nhƣ trên, việc vận
dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh vào xây dựng hệ thống chính trị, làm cho nó
vận hành đồng bộ, nhịp nhàng và có hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn cấp bách.
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ VÀO SỰ
NGHIỆP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.2.1. Giải pháp xây dựng Đảng Cộng sản trong sạch, vững mạnh
Hệ thống chính trị ở nƣớc ta là một chỉnh thể thống nhất. Đảng là một thành
viên trong hệ thống chính trị nhƣng Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị.
Vì vậy, để tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo đất nƣớc, xứng đáng với vai trò của
một đảng cầm quyền có uy tín chiếm đƣợc lòng tin của nhân dân thì vấn đề quan
trọng nhất là sắp xếp lại bộ máy của Đảng; đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nƣớc và các đoàn thể; thực hiện chỉnh đốn Đảng, đặc biệt về tƣ

tƣởng chính trị, đạo đức và lối sống của đảng viên; cần phải xây dựng Đảng ta thực
7

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.60.


23

sự trong sạch, vững mạnh và xem việc “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là
khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới”8.
3.2.2. Giải pháp xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Để xây dựng Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, thật
sự là nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, cần tập trung
giải quyết một số nội dung cơ bản, cấp bách sau đây: Một là, bằng nhiều hình thức,
biện pháp phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân; Hai là, xây dựng đội
ngũ cán bộ, nhân viên nhà nƣớc có phẩm chất đạo đức và năng lực phù hợp với
chức trách, nhiệm vụ mà nhân dân tín nhiệm giao phó; Ba là, tăng cƣờng sự lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc.
3.2.3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội
Để xây dựng Mặt trận Tổ quốc theo tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh, trong
giai đoạn hiện nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức thành viên cần
làm tốt những nhiệm vụ sau: Một là, khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi ngƣời
có cơ hội lập thân, lập nghiệp; Hai là, góp phần tích cực vào việc mở rộng và tăng
cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng Nhà nƣớc sớm thể chế hóa các định
hƣớng chính sách đối với các giai cấp và tầng lớp, đảm bảo bình đẳng và công
bằng xã hội. Mở rộng dân chủ đi liền với việc tăng cƣờng trật tự, kỷ cƣơng, vận
động nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân; Ba là, tổ chức

động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia xây dựng và chỉnh
đốn Đảng, tăng cƣờng mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nƣớc.
Bốn là, kiện toàn bộ máy, tăng cƣờng đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện theo phƣơng
hƣớng và những nhiệm vụ cụ thể nêu trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ phát huy
đƣợc vai trò của mình, có ảnh hƣởng ngày càng to lớn trong đời sống chính trị của
nhân dân. Hoạt động của Mặt trận sẽ góp phần ngày càng tốt hơn việc đảm bảo dân
chủ và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3

Từ những nội dung đã trình bày và phân tích về mặt vận dụng tƣ tƣởng chính
trị Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam, có thể rút ra
một số kết luận nhƣ sau: Một là, hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nƣớc, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đảng mang
bản chất giai cấp công nhân, là đội tiền phong của giai cấp công nhân, của nhân
dân lao động và của toàn dân tộc, là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị.
Mục tiêu của Đảng là phấn đấu cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân
lao động và của toàn xã hội. Nhà nƣớc ta là nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Nhà nƣớc do nhân dân xây dựng nên để
8

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.72.


24

phục vụ và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Nhà nƣớc đặt dƣới sự
lãnh đạo của Đảng, đảm nhiệm chức năng thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực
hiện đƣờng lối của Đảng, thực hiện quản lý trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.

Mặt trận Tổ quốc là tổ chức chính trị - xã hội, là nơi tập hợp, đoàn kết, quy tụ mọi
tầng lớp nhân dân, đại diện cho các tầng lớp nhân dân thực hiện chức năng giám
sát, phản biện mọi hoạt động của Đảng, Nhà nƣớc trong việc thực thi quyền lực
chính trị, quyền lực nhà nƣớc, quyền lực công với tƣ cách là ngƣời chủ xã hội. Hai
là, việc vận dụng tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh vào việc xây dựng hệ thống
chính trị ở nƣớc ta hiện nay, trong đó xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự
trong sạch, vững mạnh; xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự
của dân, do dân và vì dân; xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành khối đại
đoàn kết toàn dân vững chắc, đƣợc đặt ra một cách cấp bách.
KẾT LUẬN CHUNG
Trong khi phản ánh thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới những năm cuối
thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX, tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát
triển tƣ tƣởng chính trị và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, tƣ tƣởng
chính trị và tinh hoa văn hóa phƣơng Đông, phƣơng Tây và đặc biệt mỗi luận điểm
mà Ngƣời nêu ra đều thể hiện sinh động tinh thần và phƣơng pháp biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới. Trên cơ sở những điều kiện và tiền đề
ấy, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra bản chất dã man, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân
và khẳng định tính tất yếu phải đi theo con đƣờng cách mạng vô sản thì mới có thể
giải phóng đƣợc dân tộc và đƣa dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nội dung tƣ tƣởng chính trị Hồ Chí Minh thể hiện khá phong phú, sâu sắc ở ở
nhiều khía cạnh khác nhau: Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chính trị và đƣờng lối
chính trị là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Để đảm bảo cho đƣờng
lối chính trị “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” đƣợc thực hiện thắng
lợi ở nƣớc ta, theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng một Đảng Cộng sản ngày càng
trong sạch, vững mạnh và luôn tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá
trình cách mạng; xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giữa
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dƣới sự lãnh đạo của
Đảng; đồng thời có sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lƣợng cách mạng, hòa bình, dân
chủ và tiến bộ trên thế giới. Những nhân tố trên tồn tại không phải là biệt lập mà

chúng luôn liên hệ, tác động thúc đẩy nhau tạo ra cơ sở vật chất và tinh thần, tạo ra
động lực thúc đẩy cách mạng và bảo đảm cho thắng lợi của “độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội”. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta là một
trong những thành quả vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam dƣới sự lãnh đạo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong hệ thống đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là
hạt nhân và giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa là ngƣời tổ chức, quản
lý, điều hành xã hội; các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện rộng rãi quyền làm chủ
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.



×