Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Tiểu luận ẩm thực Đông Nam Bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (120.65 KB, 18 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG TP.HCM
BÀI BÁO CÁO KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: VĂN HÓA ẨM THỰC VÙNG
NAM BỘ VIỆT NAM
Môn: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: Vũ Thị Cẩm Tú
Họ và tên sinh viên: Phạm Thị Phương Thảo
MSSV:0250040291 


Phần 1: Đặt vấn đề.
1.1. Lý do chọn đề tài: Ẩm thực hay nói đơn giản hơn đó là việc ăn và uống vốn là
những chuyện hằng ngày, rất gần gũi và cũng rất đời thường. Nhưng ở mỗi thời đại
khác nhau thì ăn uống lại được quan tâm với những mức độ khác nhau. Văn hóa ẩm
thực bao gồm cả cách chế biến, bày biện và thưởng thức từng món ăn, thức uống, từ
đơn giản đạm bạc đến cầu kỳ mỹ vị. Đó là nét văn hóa tự nhiên hình thành trong cuộc
sống, nhất là đối với người Việt Nam, ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà
còn là văn hóa về tinh thần, văn hóa ấy được hình thành trong quá trình xây dựng và
phát triển đời sống dân cư, cộng đồng. Khi nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn
hóa ẩm thực nói riêng ở khu vực Nam Bộ, yếu tố sông nước luôn đóng vai trò quan
trọng, tạo nên nét đặc sắc riêng, tính phong phú, đa dạng và sáng tạo. Chính vì vậy,
nghiên cứu về Văn hóa ẩm thực của người Việt ở Nam Bộ là một đề tài phong phú, sẽ
góp phần làm đa dạng hơn cho sắc thái văn hóa Nam Bộ nói riêng và văn hóa Việt
Nam nói chung.
1.2. Nội dung nghiên cứu: Văn hóa ẩm thực Việt Nam.
1.3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: Văn hóa ẩm thực Nam Bộ.
Nam Bộ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về nhiều mặt. Đây là nơi tập trung những
món ăn hấp dẫn, lôi cuốn thực khách mọi miền đất nước, cũng như các thực khách
nước ngoài muốn tìm hiểu về ẩm thực Nam Bộ, Việt Nam. Nói như thế tưởng chừng
như việc ăn uống ở nơi đây rất cầu kỳ nhưng thực chất lại hết sức đơn giản. Cũng


chính từ sự chế biến đơn giản ấy đã càng làm cho hương vị đặc trưng của thực phẩm
được giữ nguyên vẹn mà vẫn đầy đủ chất dinh dưỡng, để tìm hiểu rõ hơn về văn hóa
ẩm thực nơi đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua bài báo cáo sau.
Phần 2: Nội dung.
2.1. Sơ lược về Nam Bộ.
Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ từ khi Việt Nam
giành được độc lập vào năm 1945. Nam Bộ là một trong ba vùng chính của lãnh thổ
Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ). Trong thời Quốc gia Việt Nam (19491955) và Việt Nam Cộng hòa (1955-1975), Nam Bộ đôi khi còn được gọi là “Nam
phần”.


Nam Bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn
hóa của nông thôn Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc
Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử.
2.1.1. Vị trí địa lí, khí hậu.
Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía
đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Cam puchia và một
phần phía Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ.
Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm
phong phú, ánh nắng dồi dào, ít bão,thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao.
Khí hậu hình thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa mưa và mùa khô, không
có mùa lạnh. Mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4.
2.1.2. Hành chính.
Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía nam và hai thành phố là
Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ.
Gồm 2 tiểu vùng:
1/ Đông Nam Bộ, bao gồm: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà RịaVũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Tây Nam Bộ, bao gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng
Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, và Thành
phố Cần Thơ.

2.1.3. Đời sống vật chất và tinh thần.
Về địa bàn cư trú: cư trú ven sông đã tạo thuận lợi cho việc di chuyển bằng đường
thủy, phù sa sông rạch bồi đắp quanh năm thuận lợi cho việc dẫn thủy nhập điền, tưới
tiêu ruộng đồng, hoa màu, nơi ở thoáng mát cùng bao tiện ích của cuộc sống sinh hoạt
thường nhật như: tắm giặt, đánh bắt thủy hải sản, giao lưu trao đổi hàng hóa, bán
buôn...
Cư trú kiểu nhà ở trước là sông sau ruộng. Loại hình cư trú này rất phổ biến ở Nam bộ.
Dân cư sống tập trung nhau thành một dải dài theo dòng chảy của con sông. Mỗi nhà
cách nhau bằng một khoảnh đất trống, một bụi chuối, hay hàng cây nào đó. Nhà ở


chính giữa, phía trước là một con lộ đất nhỏ rồi mới tới sông. Ở bến sông, người ta bắc
một cây cầu ván gie ra mé sông để làm nơi giặt giũ, tắm gội, rửa chén bát cũng như
mọi sinh hoạt khác cần đến nguồn nước. Có khi người ta chỉ để một hoặc hai thân cây
dừa nằm lài từ trên bờ đến mé nước để làm cầu. Thân dừa đẽo thành bậc thang để
không trợt té. Kế bên cầu thường là chỗ đậu ghe, xuồng để thuận tiện mỗi khi di
chuyển. Có người cất một mái lá gie ra sông để ghe xuồng tránh nắng mưa. Dọc theo
triền sông thường là những hàng cây so đũa, điên điển, bần, dừa...
Cư trú ở giáp nước. Nơi đây thường diễn ra các buổi họp chợ, buôn bán, trao đổi hàng
hóa và cũng là một cái “chợ thông tin” cho mọi người. Giáp nước là nơi ghe xuồng
ngược xuôi thường hay ghé lại nghỉ ngơi, vào hàng quán để ăn uống đợi con nước sau.
Điều này rất thuận tiện cho họ, vì cả hai chuyến đi về họ đều đi con nước xuôi, chèo
chống đỡ mệt, khỏi phải tốn nhiều công sức. “Đi trên kinh rạch Nam Việt, gặp chỗ
giáp nước thì luôn luôn ta thấy một cái chợ hoặc lớn hoặc nhỏ, ít nhất cũng là một xóm
có vài quán bán hàng, vì chỗ giáp nước là chỗ đổi con nước; mười ghe thì chín ghe đậu
lại đợi con nước sau. Trong khi nghỉ, người ta lên bờ mua thức ăn, đồ dùng, uống trà,
cà phê, thế là tự nhiên nổi lên cái chợ.
Cư trú kiểu trước đường sau sông. Đặc điểm cư trú này hình thành sau hai mô hình
kia. Mô hình nhà ở này hình thành khi công cuộc khai phá đất hoang đã hoàn tất, cuộc
sống xã hội phát triển, nhu cầu giao thương đã cao. Mô hình này thường tập trung ở

nơi dân cư đông đúc, đường sá thuận tiện. Phía trước nhà là một con đường đất, hoặc
đã được lót đan, có khi tráng xi măng. Đường tương đối lớn, đối diện bên kia đường
thường là một dãy nhà, tạo nên thế đối diện và tâm điểm là con đường này. Phía sau
nhà thường là con sông lớn, người ta cho bắc cầu để tiện việc sinh hoạt. Nhà kiểu này
thường có đặc điểm trước là nền đất sau là nhà sàn. Phía nhà sàn này dùng cho sinh
hoạt cá nhân của các thành viên trong gia đình như: nấu bếp, đặt vài cái lu chứa nước,
làm nhà tắm, nhà vệ sinh. Đôi khi người ta cất thêm một cái chái bên nhà để làm chỗ
đậu ghe xuồng. Nhà ở kiểu này ngoài việc tiện cho cho việc sinh hoạt vì ở gần nguồn
nước còn được cái thuận lợi khác là được cả hai mặt tiền. Mặt trước, mặt sau đều có
thể buôn bán được, hoặc có việc đi lại khi cần.
Về phương tiện đi lại: Ghe xuồng không chỉ phục vụ việc đi lại và chuyên chở của con
người còn là phương tiện đánh bắt thủy hải sản. Cư dân Nam bộ có tập quán sống ven
sông rạch, có nguồn cá tôm rất dồi dào và phong phú, nên người ta dùng chiếc ghe,


chiếc xuồng của mình để đánh bắt cá tôm: câu tôm, câu cá, giăng lưới, cất vó, đặt lọp,
xây nò, đóng đáy cọc, chài lưới, thả câu... Chiếc xuồng, chiếc ghe, con đò còn phục vụ
cho việc buôn bán rồi kết thành điểm chợ buôn bán, trao đổi hàng hóa trên sông, hình
thành nên các khu chợ nổi hội tụ đủ các loại người tứ xứ đến buôn bán, làm ăn. Từ
những người dân bình thường đến những kẻ tứ cố vô thân, rời bỏ quê hương tha
phương kiếm sống, với một chiếc ghe chất đầy hàng hóa, nay họ ở chỗ này, mai chỗ
khác, len lỏi vào tận những con kinh, con rạch, những đường nước hẹp đem hàng hóa
phục vụ đến tận nhà...
Về nơi ăn, với những bữa cơm thường ngày trong gia đình thì tùy điều kiện không
gian căn nhà rộng hay hẹp mà bố trí hợp lý: hoặc trên bàn, hoặc ngay trên sàn nhà.
Nếu là bạn thân rủ nhau nhậu chơi thì có thể trải đệm dưới gốc cây trong sân vườn hay
ngoài đồng, tùy thích. Nhưng khi nhà có đám tiệc thì không xuề xòa mà bày biện cỗ
bàn rất nghiêm chỉnh trong tinh thần quý trọng khách mời, tạo nên nét văn hóa rất
riêng mà cũng rất chung, hài hòa giữa phong tục truyền thống với đặc điểm văn minh
vùng sông nước, hầu từng bước hoàn thiện nền văn hóa ẩm thực độc đáo. Độc đáo vì

đã biết tận dụng, khai thác và chế biến “của trời cho” một cách kịp thời theo “đơn vị
tính” thời gian là “tháng”, “ngày” thậm chí “giờ”. Thí vụ: nếu ai đó ở vùng đầu nguồn,
có việc phải đi xa nhằm vào tháng cá mờm hoặc cá linh non xuất hiện thì đành phải
chịu nhịn, vì sau đó chừng một tháng cá mờm đã lớn thành cá cơm, cá linh non cũng
thế.
Người Nam bộ rất thích ăn các loại thủy hải sản. Kinh rạch chằng chịt đã tạo cho vùng
đất Nam bộ trở thành một vùng đa sinh thái rất giàu thủy hải sản: tôm, cua, rùa, rắn,
nghêu, sò, ốc, hến, cá, lươn... Từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên này, người Nam bộ
chế biến ra các món ăn khác nhau.
Chế biến món ăn là một khâu vô cùng quan trọng trong đó, loại rau nào ăn với món gì,
món ăn đó chấm với nước chấm nào... là một công thức đã được đúc kết qua kinh
nghiệm bao đời. Qua thời gian, con người càng ngày càng phát kiến thêm nhiều cách
kết hợp món ăn khác nhau đã làm cho kho tàng văn hóa ẩm thực của dân tộc không
ngừng phong phú lên.
Nguồn thủy hải sản dồi dào dường như bất tận giúp người Nam bộ chế biến ra nhiều
món ăn vô cùng phong phú, như: canh chua cá kèo, tép đất luộc gói với lá tằm ruột,


lươn um lá nhàu, ốc bươu luộc hèm, chuột đồng xào sả ớt... Đặc biệt, mắm được xem
là một món ăn đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Nam bộ: mắm cá lóc, mắm cá sặc,
mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc... và chỉ một món mắm với những cách
ăn khác nhau: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm...
Về trang phục của người Nam bộ không mấy khác biệt so với các vùng khác trong cả
nước. Nhưng do sống trong môi trường sông nước mà bà con đã có những lựa chọn
trang phục để thích ứng với thiên nhiên ở đây. Áo bà ba và chiếc khăn rằn là trang
phục tiêu biểu của cả nam lẫn nữ nông dân Nam bộ- những người gắn bó trực tiếp
công việc của mình với sông nước. Do người suốt ngày phải chèo ghe, bơi xuồng, lội
đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu, giăng lưới... nên áo quần rất mau mục. Để thích
ứng, bà con đã chọn những loại vải dày nhuộm đen để mặc được bền hơn. Chiếc áo bà
ba với chiếc khăn rằn đã tỏ ra thích hợp với môi sinh: vừa bền vừa tiện lại thích hợp

với điều kiện sông nước. Áo bà ba rất thuận tiện cho việc ra đồng: gọn, nhẹ, bền, có túi
để đựng một vài vật dụng cần thiết. Còn chiếc khăn rằn thì có thể dùng để lau mồ hôi,
quấn cổ và có thể dùng quấn ngang người để thay quần
2.1.4. Ảnh hưởng của vị trí địa lí đến văn hóa ẩm thực.
Do nằm ờ khu vực sông nước là chủ yếu nên người Nam Bộ thường sống hòa hợp với
thiên nhiên. Các món ăn cơm hàng ngày thông thường là cá, tôm, lươn, trạch,... là
những thứ có nhiều dễ kiếm, vừa là đạm nhẹ, ít chất béo, dễ tiêu. Đó không phải chỉ
riêng ở nông thôn mà ngay trong các thành phố, thị xã, trong các bữa tiệc ở nhà hàng
cũng không vắng mặt được các món cá, tôm ấy.
2.2. Văn hóa ẩm thực vùng Nam Bộ.
Người Nam Bộ gồm nhiều vùng miền, dân tộc khác nhau hợp thành, qua đó phần nào
tạo nên bản sắc ẩm thực cho vùng đất này. Các lưu dân khi rời xa quê hương để lập
nghiệp, họ mang theo cả những món ăn, cách nấu của nhiều món ăn của quê hương
mình. Vì vậy ẩm thực Nam bộ được hình thành, có những món ăn mang hương vị rất
riêng biệt, độc đáo của từng địa phương. Tất cả các món ăn Nam bộ đều mang phong
cách của vùng sông nước phương Nam vốn rất hoang dã, hào phóng.


2.2.1 Khẩu vị.
Người Nam Bộ nói chung là thích ăn cay (dùng tiêu ớt, gừng, tỏi xả... làm giảm bớt
mùi tanh của cá, lươn, ếch, rùa, rắn); ưa ăn món mặn (các loại mắm, cá khô...), thích
ăn chua (canh chua,dưa chua...), ưa ăn chát (bắp chuối, chuối chát, trái bần, lá điều, đọt
vừng) và thích ăn đắng (khổ quả, rau đắng đất, mật cá lóc, mật cá kèo...).
Ẩm thực Nam Bộ thường sử dụng chất béo, đạm của nước dừa, cơm dừa hàng ngày.
Nên tuy người Việt, người Khơme chung sống khá lâu nhưng trong bữa ăn hàng ngày
không tiếp thu cách nấu ăn của người Hoa: xào, chiên, chỉ tiếp thu khi nấu trong bữa
tiệc hoặc phục vụ cho khách nước ngoài. Dừa là nguồn thực phẩm phong phú dồi dào
tạo nên hương vị độc đáo. Nước dừa, cơm dừa vừa là chất đạm vừa là chất béo, phù
hợp cư dân vùng khí hậu nóng. Chè nấu nước cốt dừa là hương vị riêng của ẩm thực
Nam Bộ.

2.2.2. Phong cách ăn uống.
Khác với cách ăn uống của người Bắc là cầu kì,tỉ mỉ, tinh tế, người Nam với cách sống
phóng khoáng , giản dị nên phong cách ăn uống cũng đơn giản. Về nơi ăn, với những
bữa cơm thường ngày trong gia đình thì tùy điều kiện không gian căn nhà rộng hay
hẹp mà bố trí hợp lý: hoặc trên bàn, hoặc ngay trên sàn nhà. Nếu là bạn thân rủ nhau
nhậu chơi thì có thể trải đệm dưới gốc cây trong sân vườn hay ngoài đồng, tùy thích.
Nhưng khi nhà có đám tiệc thì không xuề xòa mà bày biện cỗ bàn rất nghiêm chỉnh
trong tinh thần quý trọng khách mời, tạo nên nét văn hóa rất riêng mà cũng rất chung,
hài hòa giữa phong tục truyền thống với đặc điểm văn minh vùng sông nước, khách
đến nhà gặp bữa cơm thì cùng ngồi xuống ăn coi như “thêm chén, thêm bát”, họ trọng
tình cảm vì vậy trong cách ăn uống cũng không câu nệ chuyện lễ nghi.
Phong cách ăn uống của người Nam Bộ là kết quả của sự giao tiếp hòa trộn nhiều tộc
người của một vùng đất mới. Cách ăn uống thể hiện ở sự dung hợp, hòa hợp giữa vốn
truyền thống của mình với sự giao lưu ảnh hưởng qua lại với tộc người cùng chung
sống trên vùng đất mới. Đây không phải là sự dung hợp góp nhặt mà là có cái riêng
mang sắc thái Nam Bộ rõ nét thực sự trở thành phong cách, sắc thái ăn uống đặc trưng.
Văn hóa ẩm thực Nam Bộ cũng làm giàu thêm sắc thái văn hóa ẩm thực Việt Nam.
3.1. Món ăn của người Nam Bộ.
3.1.1. Món ăn.


Nói đến tính hoang dã và tính sáng tạo trong văn hóa ẩm thực Nam Bộ là nói đến đặc
tính ăn uống của người Miền Nam thể hiện trong các món có nhiều nguồn gốc tự nhiên
và sự chế biến các món ăn tự nhiên đó thành các món ăn khác nhau ,sự trù phú của
vùng đất này về các nguồn lợi tự nhiên , vùng đất “làm chơi ăn thiệt “ . Vì đây là nơi
được thiên nhiên ưu đãi cho con người , con người không phải làm lụng nhiều mà vẫn
có cái ăn gặp gì ăn nấy , từ những cây cỏ trên bờ , con cá dưới sông , con chim trên
trời , cho đến các loài sinh vật khác. Tính hoang dã trong văn hóa ẩm thực của người
Nam Bộ đã được định hình từ đây. Điều dễ nhận thấy nhất ở tính hoang dã này là
người Nam Bộ ăn rất nhiều rau , đây là loại thức ăn có sẵn ở vùng sông nước , ao hồ ,

ruộng vườn rất dễ tìm không cần nhiều thời gian chế biến , có loại chỉ cần hái vào rửa
sạch là ăn được . Người ta có thể ăn các loại rau từ rau đắng , rau dền , rau răm , cải
xanh , tía tô, hành , hẹ , ngò gai, … đến các loại cây bông như : bông điên điển , thiên
lí , bông kim châm…Trong danh mục này có thứ dùng để ăn sống , có thứ dùng để nấu
canh , có thứ luộc lên chấm với cá kho thịt kho hay nước chấm. Người Việt nơi đây rất
chuộng ăn canh, và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên các món
canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú. Do nguồn thuỷ sản dồi dào, thành phần thuỷ
sản như cá, tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, lươn... giữ vai trò quan trọng trong
cơ cấu bữa ăn. Cũng do môi trường lắm tôm cá, nên các loại mắm nơi đây phong phú
hơn hẳn các vùng miền khác: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm tôm chua,
mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm... Cách chế biến cũng rất đa
dạng và đặc sắc: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm...Sau đây là
một số món ăn nổi tiếng ở Nam Bộ:
“Con cá làm nên con mắm
Vợ chồng già thương lắm mình ơi! ”.
Chỉ một món mắm mà người Nam bộ chế biến biết bao chủng loại. Nào là mắm tôm
chà, mắm tôm chua Gò Công, mắm ruộc Rạch Giá, mắm ba khía Cà Mau, mắm lòng
Đồng Tháp (làm từ lòng cá và ruột cá), mắm thái Châu Đốc, mắm còng Long An…
Mắm làm phải công phu, để lâu ngày cho thắm, ăn mới ngon.
Đối với người Miền Nam , không phân biệt địa vị xã hội, bất luận sang hèn, ở một góc
nhìn văn hóa ẩm thực, món mắm dân dã, “hương đồng gió nội”, được coi như một


món ăn đậm “quốc hồn quốc túy”, rất hấp dẫn trai gái, trẻ già từ thành thị đến nông
thôn. Ngày trước, mắm là nguồn thực phẩm dự trữ ăn dài dài của dân đồng ruộng thảo
dã lúc giao mùa, khan hiếm thức ăn. Ngày nay, mắm đã trở thành hàng hóa, đặc sản,
làm quà biếu, từng góp mặt trong các buổi liên hoan, tiệc tùng, mang đậm bản sắc văn
hóa, gợi nhớ hồn quê sâu đậm…
Đầu tiên phải nói đến “mắm sống”, món ăn đơn giản, ngon miệng. Mắm được làm từ
cá lóc, cá bông, cá sặt, cá linh… ăn với bắp nấu chín vừa cạp bắp, vừa cắn miếng mắm

sống, nhai hòa tan trong cuống vị, thật không còn chỗ chê! Đang lao động vất vả ngoài
đồng áng, khi về nhà bất chợt, lỡ bữa, bụng đói cồn cào, giở nồi cơm nguội, sẵn mắm
sống trong hũ đem ra xé ăn, kèm với ít rau sống ngoài vườn, lát gừng xắt mỏng, trái ớt
tươi, nghe ngọt lịm đến tận chân răng, ăn không biết no!
Ăn mắm cầu kỳ một chút thì có “mắm chiên”. Đem con mắm to bè, bắt chảo dầu phi
tỏi, bỏ con mắm vào chiên cho se lại, thắm đều dầu, rắc ít tiêu đâm nhuyễn, mùi vị
thơm cực kỳ, ai mà chịu được! Chuẩn bị chu đáo hơn thì bằm mắm, bằm thịt ba dọi
trộn chung với hột vịt, ướp phụ gia: tiêu, đường, bột ngọt… đem chưng cách thủy, xắt
ít lát ớt đỏ để lên trên, ta được món “mắm chưng” ăn kèm rau sống, chuối chát, dưa
leo…
“Mắm kho” là món ăn thông dụng nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nào cũng có.
Nhưng muốn tận hưởng món “mắm kho bông súng” đúng nghĩa phải đến Đồng Tháp.
“Muốn ăn bông súng mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm”.
Cá kho tộ, thịt kho tàu: Kho tộ tức là kho trong cái tô lớn, hoặc trong nồi bằng đất
nung. Trong quá trình Nam tiến, người dân đã mang theo văn hóa bản địa của nơi
mình sinh sống vàoNam, trong đó có việc kho cá bằng tô. Món thịt kho tàu thì có
nhiều ý kiến cho rằng nó xuất phát từ Trung Hoa. Thực tế Trung Hoa cũng có món thịt
ba chỉ kho với xì dầu không giống món thịt kho tàu của Việt Nam. Có người lại cho
rằng món thịt kho tàu là của các cư dân gốc Ngũ Quảng đi tàu đánh cá dài ngày, họ
kho những nồi thịt sẵn để ăn dần trên tàu. Món ăn có tên thịt kho được ăn trên tàu hay
thịt kho tàu là từ đó. Thịt kho tàu thì thường được cắt thật to, tẩm ướp gia vị và được


kho với nước dừa tươi, rồi nấu cho mềm rục. Món ăn này thường ăn với cơm trắng, có
dưa cải chua hay dưa giá đỗ ăn kèm thì rất tuyệt.
Món canh chua không biết đã có từ bao giờ và đã được khởi nguồn từ đâu. Có nhiều
người cho rằng đây là món ăn bị ảnh hưởng từ ẩm thực của các dân tộc khác đang sinh
sống tại Nam bộ như: Khmer, Chăm. Và cho dù được xuất phát từ đâu, ảnh hưởng từ
dân tộc nào đi nữa thì món canh chua Nam bộ cũng rất đặc trưng và khác biệt so với

canh chua được các vùng miền khác nấu. Có thể do đặc điểm về vị trí địa lý và điều
kiện tự nhiên nên người dân Nam bộ đã tạo ra được món ăn mang phong cách ẩm thực
riêng của mình, bởi món canh chua Nam bộ sử dụng nguyên liệu chủ yếu là cá, tôm,
các loại rau dân dã của vùng đất Nam bộ, vị đặc trưng của món canh chua chắc chắn là
vị chua, nhưng không thể thiếu vị ngọt của đường và vị mặn của nước mắm Phú
Quốc.Vị chua của canh chua Nam bộ thường được tạo ra từ me (lá me, trái me hay me
vắt), trái bần, trái khế, chùm ruột, xoài, trái giác, trái chanh hay cơm mẻ, giấm, hoặc có
thể từ ổ kiến vàng, ...... Tùy từng mùa, từng địa phương mà các nguyên liệu nấu canh
chua có thể thay đổi như: cá lóc, cá trê, lươn, cá bông lau, cá tra, cá hú, cá cóc, cá dưa,
cá vồ, cá ngác, cá rô, cá linh, cá chốt,....Các loại rau được nấu kèm với canh chua như:
bông súng, bông điên điển, bông so đũa, kèo nèo, bồn bồn, mái dầm, tai tượng, lục
bình, rau đắng, rau mác, rau nhút, rau cần ống, rau muống hay khóm, cà chua, đậu bắp,
bạc hà, giá. Tuy nhiên, món canh chua của người Nam bộ thường thì mùa nào sẽ nấu
với nguyên liệu ấy, đến mùa nước nổi, canh chua được nấu với các loại bông điên
điển, lục bình, bông súng, cá linh (loại đầu mùa) bởi cá chưa lớn nên xương mềm bụng
mỡ ăn rất béo.
Một trong những món bánh tạo nên nét đặc trưng của vùng quê sông nước Nam Bộ là
món bánh xèo. Trong khi, bánh xèo Miền Trung nhưng bánh thường đậu xanh, giá, thịt
ba rọi, tôm, mực ống, lúc pha bột có thêm lòng đỏ trứng gà, bánh được đổ từng cái nhỏ
cho 1 người ăn. Còn bánh xèo miền Nam thì được 2 - 4 người ăn, nhưng bánh được
làm từ thịt vịt, thịt heo, tôm, củ hủ dừa, giá, đậu xanh,…Ngoài các loại truyền thống
đó, món bánh xèo còn sử dụng nhiều loại khác để làm cho hương vị bánh xèo thêm
hấp dẫn và phong phú như: nấm mối, nấm rơm, nấm kim châm, bông điên điển, hải
sản,… Nét đặc biệt của bánh xèo Nam bộ là bột bánh lúc nào cũng pha thêm nước cốt
dừa, bánh được đổ cái rất to, kỹ thuật đổ bánh rất công phu, làm sao bánh phải đạt


được độ mỏng và giòn, vỏ banh bọc được hết nhân bánh không bị bể khi úp lại, và
phải có vị béo, thơm của nước cốt dừa. Bánh xèo Nam bộ được ăn kèm với gần 20 loại
rau khác nhau, như rau diếp cá, rau húng, xà lách, cải xanh, cát lồi, đọt bứa, kim thất,

lá vông, đọt xoài, đọt cách, đọt bằng lăng, lá lốt, lá sung, lá lụa, lá cơm nguội, lá điều...
và được chấm với nước mắm chua ngọt. Và cách ăn của bánh xèo Nam bộ và bánh xèo
miền Trung cũng rất khác nhau, Bánh xèo Nam bộ phải ăn bằng tay thì mới ngon và
thưởng thức hết được chất Nam Bộ.
Cá lóc nướng trui: Là một món ăn dân dã đặc trưng cho miền đồng nước Nam Bộ Việt
Nam, với hương vị độc đáo và cách chế biến rất đơn giản. Món ăn này gắn liền với
quá trình khai hóa đất phương Nam của dân tộc Việt. Đặc điểm của món cá lóc nướng
trui dân dã là cá không cần sơ chế, nghĩa là không đánh vảy, không cạo nhớt, không
mổ bụng, không tẩm ướp gia vị. Cá lóc vừa bắt dưới sông lên, rửa sạch, được xuyên
bằng một que dài từ miệng đến đuôi, sau vùi cá vào đống rơm khô rồi châm lửa đốt
hoặc cắm que xuống đất lấy rơm phủ lên và đốt lửa cho đến khi tro tàn. Khi cá chín,
cạo bỏ lớp vẩy đã cháy xém để lộ ra thịt cá trắng và thơm.Riêng với cá lớn muốn cho
thịt cá được chín đều hoàn toàn nên vạch miệng cá ra chế nước vào trong miệng cá sao
cho nước vào đầy dạ dày cá rồi mới nướng, làm như vậy khi nướng thì dưới tác động
của nhiệt nước trong bụng cá sẽ sôi lên trong môi trường kín làm cho thịt cá được chín
hoàn toàn, và một đòi hỏi quan trọng không kém nữa là vật liệu thui cá nhất định phải
là rơm thì thịt cá mới thơm và không bị hôi khói. Có thể lấy một cây mía đường đâm
xuyên qua miệng cá rồi đem lên bếp than hồng nướng, làm như vậy cá sẽ không bị mất
máu và rất ngọt khi chín. Trên bếp than hồng, người ta trải 1 lớp lá chuối bên dưới cá
để khi nướng cá sẽ không bị cháy và mùi thơm của lá chuối sẽ làm cho thịt cá thơm
ngon hơn.
Cách thưởng thức:
Cá nướng xong , cạo lớp vảy cháy cho sạch, lộ ra da vàng thơm phưng phức, thịt cá
trắng nõn, ngọt lịm, chỉ cần gỡ thịt chấm muối ớt, mà phải là loại muối hột mới cảm
nhận được hết mùi vị thơm ngon vùa cay vừa mặn vừa ngọt vừa thơm của món cá lóc
nướng đặc sản của dân Nam Bộ.Có thể đem cá trải lên một lớp giấy bạc, rưới thật
nhiều mỡ hành, đậu phộng rang đâm nhuyễn lên khắp mình cá, sau đó quấn lớp giấy
bạc lại, rút cây mía ra. Làm như vậy sẽ giữ cho cá luôn nóng hổi và ngát hương
thơm.Cá lóc nướng ở đây có thể ăn với mắm me, mắm nêm. Cá chín ăn kèm với bún, b



ánh cuốn, các loại rau... tùy khẩu vị và sở thích của mỗi người.Ăn cá lóc nướng trui
phải có rau sống, bánh tráng, mắm me. Rau sống phải đầy đủ "họ tộc" như: dấp cá,
húng cây, quế, tía tô, giá hẹ, dưa leo, khế chua, chuối chát. Nếu có xoài non thì xắt
nhuyễn như sợi bún. Nếu ăn ngay trên đồng ruộng, không có rau thì có đọt rau muống,
rau ngổ, đọt sọp, đọt dừng hay đọt cóc, đọt xòai thế vào cũng được.Rau xanh sắp trên
bánh tráng dẻo, gắp miếng cá còn nóng hôi hổi đặt vào giữa, trên cùng là mấy cọng
bún và vài hột đậu phọng đâm nhỏ. Tất cả cuộn chặt lại, chấm vào chén nước mắm me
trắng tỏi, ớt đỏ. Nhai từ từ để nghe tất cả hương đồng quê thấm vào tận tim gan (ruột
cá nhớ nhường cho vị nào cao niên nhất). Vừa ăn, vừa chuyện trò về mùa màng, nhắp
đôi ly rượu rắn càng thêm ngon miệng. Phụ nữ có chai nước cơm rượu sẽ bổ dưỡng
thêm nhiều.ng cái bánh xèo vàng ươm, giòn, thơm béo ấy.
Ngoài ra, các món gỏi và món trộn cũng được sử dụng nhiều ở vùng đất này. Đây là
món ăn dùng những nguyên liệu sống hoặc chỉ luộc chín rồi trộn với gia vị, sao cho có
vị chua chua ngọt ngọt là được. Các món gỏi của miền Nam rất phong phú, thường là
trộn với tôm, thịt, tai heo như món gỏi ngó sen tôm thịt, gỏi bồn bồn, gỏi củ hủ dừa,
gỏi vịt với rau rém, gỏi xoài khô cá lóc, gỏi đu đủ,.. Củ hủ dừa là phần non nhất trong
cây dừa, khi lấy củ hủ xem như phải chặt bỏ cây dừa, vì vậy món gỏi củ hủ dừa cũng
được coi là món ăn độc đáo của vùng đất Nam bộ. Vùng Bạc Liêu, Cà Mau thì nổi
tiếng với món gỏi bồn bồn, bồn bồn là loại cây cỏ mọc hoang dại ở vùng đất trũng. Về
An Giang thì có món gỏi sầu đâu rất độc đáo mà không nơi nào có được, lá, hoa sầu
đâu có vị rất đắng được trộn với khô sặc rằn hay cá lóc rưới lên một ít nước mắm me
chua ngọt.
Bên cạnh đó, Nam Bộ còn có hàng trăm món ăn độc đáo khác, có thể kể các món:
cháo cá lóc ăn với rau đắng, rau má, cháo ếch, cá tai tượng chiên xù, cá kèo nướng
muối ớt, cá lóc nướng, vịt nấu chao, chuột đồng quay lu,…
3.1.2. Các loại bánh và chè.
Ẩm thực miền Nam rất phong phú và đa dạng các loại bánh dân gian: bánh tét nhưn
đậu, nhưn chuối, bánh tét nước tro nhưn ngọt, nay có thêm bánh tét lá cẩm nhưn đậu,
thịt mỡ, trứng muối, tôm khô đặc sản của Cần Thơ; bánh ít nhưn đậu, nhân dừa, bánh

lá dừa, bánh bông lan, bánh bò, bánh da lợn, bánh tráng nước cốt dừa Bến Tre, bánh
nếp phồng, ….


Các món chè như chè chuối, chuối chưng, chè bà ba, chè thưng, chè đậu, chè khoai
môn, chè táo xọn, chè đậu đỏ, bánh lọt, sương sa hột lựu, chè đậu xanh nước dừa, chè
đậu trắng, chè bưởi món chè đặc trưng của Cần Thơ,…Chè thường được ăn nóng hay
ăn nguội, vì miền Nam nắng nóng nên món chè đôi khi còn cho thêm đá vào ăn cũng
rất tuyệt.
3.1.3. Trái cây.
Cây trái miền Nam rất đa dạng và phong phú, là sản vật nổi tiếng với mùa nào trái ấy;
đi đâu cũng thấy hoa thơm, trái chín, vườn trái xum xuê, trĩu quả.Hầu hết, các nhà ở
miệt vườn Nam Bộ đều có trồng cây ăn trái, phổ biến nhất là chuối. Chuối là loại trái
cây có hương vị ngọt ngào, bổ dưỡng, luôn có mặt trên thị trường. Chuối có nhiều loại:
chuối già, chuối sáp, chuối sứ hay còn gọi là chuối xiêm …
Cam cũng là loại trái cây nổi tiếng ở Nam Bộ gồm có Cam sành, Cam mật, cam xoàn.
Bên cạnh đó, một thứ trái cũng bốn mùa hiện diện là bưởi, như bưởi đường, bưởi
thanh, bưởi ổi, bưởi năm roi, bưởi da xanh, bưởi bánh xe…
Ngoài ra còn có các loại quít miệt vườn thơm ngon, tươi vàng với các loại quít đường,
quít ta, quít tiêu.Nam Bộ còn nổi tiếng về Xoài: xoài cát Hòa Lộc, xoài thanh ca, xoài
tượng, xoài tứ quý.Vú sữa Cần Thơ ngon nhất ở Nam Bộ, vú sữa có hai loại: trắng và
tím, mọng nước, ngọt ngào và quyến rũ đúng với tên gọi của nó.Trái sabôchê no tròn,
nước ngọt lịm, nhiều dinh dưỡng thì ở vùng Cái Mơn, Chợ Lách, nơi được mệnh danh
là “cái nôi” trái cây Nam Bộ.Ở vùng đất Cà Mau, Long An, Bạc Liêu, Kiên Giang,
Hậu Giang trái khóm (thơm,dứa) lại lên ngôi. Đây là loại cây dễ trồng, nhưng giá trị
xuất khẩu cao.Giữa tháng ba âm lịch trở đi, có thể nói, Nam Bộ là mùa trái cây dồi dào
nhất trong năm. Những quả măng cụt màu đỏ nâu sẫm, khi cắt đôi, để lộ ra những múi
nhỏ màu trắng ăn có vị ngọt lẫn chút chua đậm đà mà hấp dẫn.Cần Thơ nổi tiếng với
dâu Hạ Châu, được trồng nhiều tại các nhà vườn để phục vụ du lịch vì sự hấp dẫn của
những chùm dâu sum xuê sau một vài đám mưa đầu mùa hạ. Ngoài dâu Hạ Châu còn

có các loại dâu xanh, dâu xiêm cũng rất thơm ngon và mọng nước.
Sầu riêng là một loại trái cây đặc sản ở Nam Bộ, với vỏ xù xì đầy gai nhọn, nhưng tỏa
ra mùi thơm nức được liệt vào loại trái quý, giá rất đắt. Mùi vị sầu riêng nhiều người
không chịu được vì mùi thơm hơi nồng nhưng ai ăn được sẽ rất ghiền.


Mít cũng là loại trái cây thơm ngon không kém. Có rất nhiều giống mít khác nhau: Mít
tố nữ, mít nghệ, mít ướt, nay có thêm mít ruột đỏ đặc sản của Cần Thơ.
Mùa mưa bắt đầu, chôm chôm cũng nở rộ. Ngoài loại chôm chôm tróc màu đỏ, không
thể không kể đến chôm chôm nhãn màu vàng, trái nhỏ, nhìn có vẻ xấu xí, nhưng bên
trong ngọt lịm và ăn thấy giòn giòn.
Ngoài ra, còn một loại trái cây nữa cũng không kém phần hấp dẫn, đó là nhãn, thứ quả
vừa thơm vừa ngọt. Quý nhất là nhãn Bạc Liêu, cơm dày hột nhỏ. Nay có thêm giống
nhãn xuồng bò, trái to, cơm dày, ít nước, vị ngọt thanh ăn rất ngon.
Dưa là một loại rau quả được nhiều người ưa chuộng vì vị ngon ngọt, thanh mát. Và
đặc biệt là dưa hấu không thể thiếu trong dịp Tết cổ truyền của người dân Việt Nam,
Dưa Nam Bộ ngon nổi tiếng, nhất là ở vùng Tây Ninh, Bạc Liêu, Trà Vinh và Sóc
Trăng.
Và ổi xá lỵ trái to như cái chén, da xanh. Ổi xá lỵ là món “nhắm” quen thuộc của cánh
đàn ông và là món “nhâm nhi” của các bà, các cô… lúc rảnh rỗi.
Nam Bộ đúng là nơi đất lành sinh trái ngọt, là vựa trái cây lớn nhất và phong phú nhất
của Việt Nam.
3.2. Thức uống.
Thức uống truyền thống Từ thời khẩn hoang, loài cây này đã có mặt ở Nam bộ, nhiều
nhất từ Tây Ninh đến Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Ở Sài Gòn cũng còn vài nơi
có cây này, lâu năm là những cây thốt nốt ở Lăng Ông - Bà Chiểu. Sau tết, cây bắt đầu
trổ hoa, nhưng cây đực hiếm muộn cả hoa lẫn trái. Cây cái nở nhiều hoa trên ngọn, từ
30 đến 40 vòi nhỏ dài cỡ 5cm. Khi cây ra hoa, người ta dùng ống tre đã được xông
khói cho khô ráo, buộc vào đầu những vòi hoa vào buổi chiều tối, sau khi đã cắt một
đoạn đầu vòi. Suốt đêm, nước trong vòi sẽ nhỏ từng giọt, mỗi ngày thu được chừng 1

lít nước. Thu hoạch nước về đêm, nước sẽ ngọt thơm, ít bị chua. Trời càng nắng hạn,
nước thốt nốt càng ngọt. Nước thốt nốt là một thứ nước giải khát tuyệt vời. Vào mùa
nóng, người ta bán nước thốt nốt rất nhiều, đó là một đặc sản của miền Nam. Nước
thốt nốt ngọt lịm, dịu thanh, mát rượi.
Thức uống của người miền Nam cũng rất phong phú và có nhiều điểm khác biệt với
các miền khác. Do thời tiết nắng nóng nên người Nam bộ thường uống trà đá. Trà đá


của người miền Nam thường đá nhiều, nước đun sôi pha thêm tí nước trà đặc cho thơm
và được uống trong ly cối lớn. Ngoài trà đá còn có các loại nước nấu từ các loại cây,
hoa của vùng đồng bằng Nam bộ này như nước rễ tranh, mía lau, lá huyết dụ, bông
ngò, lá thuốc dòi, râu bắp, các loại đậu rang lên cho thơm,... hay các loại rong biển nấu
lấy nước thêm đường phèn vào để có độ ngọt thanh cho loại nước này. Các loại nước
đá chanh, trà đá chanh đường, sô đa chanh đường, chanh muối, mước mía ép, nước đá
me, rau má, nước đậu xanh rau má hay nước ép trái cây, sinh tố trái cây.... cũng được
người dân Nam Bộ ưa thích.
3.3 Tiệc Tết của người Nam Bộ.
Bàn tiệc ngày tết của người miền Nam không chỉ đơn thuần là vấn đề ẩm thực. Nó còn
thể hiện tính văn hóa đặc sắc của một vùng miền.
Ngày tết ở vùng sông nước Nam hầu như nhà nào cũng có ba món cơ bản là bánh tét,
bánh tráng và nồi thịt kho tàu. Với người dân Nam bộ, bánh tét tượng trưng cho sự ấm
no từ đời này qua đời khác. Khác với vùng miền khác, người Nam bộ có món bánh tét
lá cẩm tím vừa thơm ngon lại vừa thẩm mỹ vì chỉ dành riêng cho những dịp lễ quan
trọng của năm. Muốn có một đòn bánh tét lá cẩm ngon, trước hết, phải chọn được loại
nếp mù u dẻo tròn, lá cẩm hái về rửa sạch rồi nấu lấy nước. Trước khi gói, nếp phải vo
sạch, để ráo, đem xào với nước cốt dừa, dằn thêm tí muối, sau đó tiếp tục xào nếp với
nước lá cẩm. Nhân bánh có thể là chuối, đậu xanh, thịt, mỡ, giò heo bắc thảo, trứng,
đậu phộng, nấm đông cô... Khi bánh chín, mỗi lát bánh cắt ra có chút màu tím thẫm
của chuối, chút màu vàng của đậu, màu trắng của mỡ, màu hồng của thịt nạc, màu đỏ
cam của tròng đỏ trứng vịt muối. Bánh tét có ngon hay không còn tùy thuộc vào nếp,

nếp dẻo, mềm, mà không lẫn gạo mới ngon và bùi.
Thịt kho tàu hay còn gọi là thịt kho trứng, thịt kho nước dừa và chỉ có người Nam bộ
mới có cách nấu hấp dẫn không ai sánh bằng. Thịt ba rọi nửa nạc nửa mỡ, nước thịt
trong ngần có lớp mỡ trong veo, miếng thịt thơm, mềm mà không bở… mới đúng là
nồi thịt ngon. Người ta cắt thịt miếng to cỡ ba ngón tay, tẩm ướp với gia vị như tỏi,
nước mắm… Sau khi thịt được nấu sôi với nước dừa, cho trứng đã luộc chín vào kho
chung rồi nêm nếm lại. Trước khi kho, có người phơi nắng thịt cả ngày trước khi nấu
để thịt ngon hơn hoặc có người thích kho với nước dừa nạo thay cho dừa tươi để nước
thịt có vị ngọt, béo và thơm. Trứng vịt sau khi luộc chín, bóc vỏ cần xâm thủng xung


quanh để nước thịt dễ thẩm thấu hoặc chiên sơ qua trứng để khi ăn vừa dòn lại vừa dai.
Nồi thịt kho ngon để nửa tháng vẫn còn thơm lừng. Miếng thịt khi múc ra đĩa còn
nguyên, không bể nát nhưng khi thưởng thức lại thật mềm, da cứng lại càng ngon.
Nước thịt phải hơi sánh, vàng óng tự nhiên nhờ nước dừa. Món này thường ăn kèm
dưa giá hoặc cơm trắng.
Một món ăn quen thuộc khác trong bàn tiệc ngày Tết là món bánh tráng cuốn. Những
cuốn bánh tráng trắng phau ngon lành cuốn tôm, thịt kho, cá nướng, thêm lạp xưởng
với rau các loại hầu như nhà nào cũng có. Thức uống kèm thường có rượu gạo, loại
rượu hảo hạng của người Nam Bộ chính thống. Bánh tráng ngon nhất vẫn là bánh tự
tráng ở quê. Nhà nào có lò bánh tráng thì lựa gạo ngon, ngâm qua đêm, xay bột tráng
bánh.
Thêm vào đó, món canh khổ qua nhồi thịt được người Nam bộ chọn lựa cho bàn tiệc
Tết nhờ vị đắng, nhưng mát bổ trong mấy ngày Xuân tiết trời oi bức. vị đắng của khổ
qua hòa lẫn vị ngọt của thịt, nước canh hơi đắng tạo thành món ăn vừa giải nhiệt lại bổ
dưỡng. Thử thiếu món canh này, bàn tiệc sẽ kém duyên ngay. Một số món ngọt phải
kể đến từ đặc sản vườn nhà như mứt me, mứt dừa… cùng các loại hoa trái theo mùa.
Ngoài ra, người miền Nam còn chuộng món chả lụa, tôm khô, củ kiệu chua.
Phần 3: Kết luận.
Người Nam Bộ gồm nhiều vùng miền, dân tộc khác nhau hợp thành, qua đó phần nào

tạo nên bản sắc ẩm thực cho vùng đất này. Các lưu dân khi rời xa quê hương để lập
nghiệp, họ mang theo cả những món ăn, cách nấu của nhiều món ăn của quê hương
mình. Vì vậy ẩm thực Nam bộ được hình thành, có những món ăn mang hương vị rất
riêng biệt, độc đáo của từng địa phương. Tất cả các món ăn Nam bộ đều mang phong
cách của vùng sông nước phương Nam vốn rất hoang dã, hào phóng. Chỉ cần những
nguyên liệu đơn sơ, bình dị là có thể tạo nên một phong thái riêng cho các món ăn của
vùng đất này. Ngày nay, có rất nhiều món ăn miền Nam là kết quả được tổng hợp và
biến hoá từ nhiều nền văn hoá cũng như vùng miền khác nhau tạo nên màu sắc ẩm
thực đa dạng và phong phú, từ những món ăn thường ngày đến các món đãi tiệc. Khi
đất nước ta phát triển, giao lưu văn hoá với nhiều nước trên thế giới, cũng chính là bắt
nguồn cho sự biến hoá tiếp theo của các món ăn. Tuy nhiên, các món ăn này vẫn giữ
được bản chất của nó dù rằng nguyên liệu và cách chế biến đã có phần thay đổi.


Tuy nhiên, dù có những biến đổi và phát triển do việc tiếp thu, thưởng thức nhiều món
ăn của các vùng, miền và món ăn nước ngoài nhưng người Nam Bộ cơ bản vẫn giữ
được những nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực truyền thống của Nam Bộ. Món ăn
Nam Bộ đặc sắc ở chỗ nó được tạo ra từ hương vị ngọt ngào riêng bởi hơi đất miệt
vườn mênh mông, vị ngọt sông rạch dâng tràn mùa lũ. Đó chính là “nguyên liệu” đầu
tiên, chỉ có trong ẩm thực vùng châu thổ này, nơi đã trở thành “đất lành chim đậu”,
mưa thuận gió hòa, ngày càng trù phú, phồn thịnh.




×