Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (599.15 KB, 89 trang )

LUẬN VĂN:

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty
xăng dầu Bắc Tây Nguyên


Lời Mở đầu

Đất nước ta đang trong quá trình phát triển theo mơ hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy quản lý tài chính doanh nghiệp cần phải có những thay
đổi cho phù hợp với xu thế phát triển này. Hơn nữa, nước ta đã và sẽ hội nhập chủ
động, hiệu quả vào khu vực AFTA/ASEAN, mức độ mở cửa thị trường hàng hoá, dịch
vụ, tài chính, đầu tư sẽ đạt ngang bằng với các nước trong khối ASEAN, từng bước tạo
điều kiện về kinh tế, pháp lý để hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và thế giới, thì
vấn đề quản lý điều hành vốn kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng.
Vốn kinh doanh là yếu tố cơ bản khơng thể thiếu được trong mọi q trình sản
xuất kinh doanh và đồng thời cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng
phát triển kinh tế của đất nước. Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục,
doanh nghiệp phải có đủ vốn đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của q trình đó.
Doanh nghiệp có khả năng phát triển và ngày càng mở rộng hay khơng thì trước hết
phải sử dụng vốn có hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các doanh
nghiệp nhà nước, có lượng vốn rất lớn, là những đơn vị đóng vai trị nịng cốt, là động
lực phát triển của nền kinh tế.
Đối với công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên là một doanh nghiệp nhà nước trong
lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. Đứng trước những khó khăn, thách thức của cơ chế thị
trường, cơng ty ln phải tính tốn, cân nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp, từng thời kỳ,
để đề ra những biện pháp tối ưu nhằm giảm bớt khó khăn. Một trong những biện pháp
đó là quản lý, điều hành vốn, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh.
Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty. Đảm
bảo cho cơng ty có thể đứng vững trong cạnh tranh dưới tác động ngày càng mạnh mẽ


của cơ chế thị trường.
Qua q trình thực tập tại cơng ty, kết hợp với những kiến thức tiếp thu được ở
trường, em quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh ở công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên ”, với mong muốn có thể
đưa ra một số ý kiến nhằm cải tiến công tác quản lý, điều hành vốn của cơng ty, góp
phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.


Luận văn gồm có 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
Chương II: Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh ở công ty xăng dầu Bắc Tây
Nguyên.
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
ở công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên.

Chương I


Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh của doanh nghiệp thương mại

I. Khái quát về vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại:
1. Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh:
1.1. Khái niệm vốn kinh doanh:
Vốn có vai trị hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm về
vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn.
Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho rằng: Vốn (tư
bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất. Định nghĩa của

Mác về vốn có tầm khái qt lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn. Bản
chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản
cố định, nguyên vật liệu, tiền công... Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của
nền kinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất vật chất và cho
rằng chỉ có q trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một
hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác.
P.A.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại, coi
đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá chỉ là kết quả
của sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng
như các đầu vào hữu ích trong q trình sản xuất sau đó. Một số hàng hố vốn có thể
tồn tại trong vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu
hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu
ra vừa là yếu tố đầu vào trong sản xuất. Về bản chất vốn là phương pháp sản xuất gián
tiếp tốn thời gian.
David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là:
Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã
sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền


mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp
trong định nghĩa của David Begg.
Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực
nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực hiện các khoản
đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua sắm tài sản cố định,
nguyên vật liệu... Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác
nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường. Số tiền mà doanh
nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra,
đồng thời phải có lãi. Q trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp.
Hiện nay khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến là:

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại (DNTM) là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh
bao gồm:
- Tài sản hiện vật như: nhà kho, cửa hàng, hàng hoá dự trữ...
- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và đá quí.
- Bản quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vơ hình khác.
1.2. Phân loại vốn kinh doanh:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại có thể được xem xét, phân loại theo
các tiêu thức sau:
* Theo giác độ pháp luật:
- Vốn pháp định: là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo năng lực kinh doanh đối
với từng ngành nghề, từng loại hình doanh nghiệp do pháp luật qui định. Dưới mức vốn
pháp định thì khơng thể đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp.
Theo Nghị Định 221 và 222 HĐBT ngày 23/07/1991 cụ thể hoá một số điều qui
định trong luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân qui định:


+ Vốn pháp định đối với ngành kinh doanh tư liệu sản xuất cho công ty trách
nhiệm hữu hạn là 150 triệu đồng, công ty cổ phần là 500 triệu và doanh nghiệp tư nhân
là 80 triệu đồng.
+ Vốn pháp định cho các cửa hàng dịch vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn là 50
triệu đồng, công ty cổ phần là 200 triệu đồng, doanh nghiệp tư nhân là 20 triệu đồng.
- Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của
doanh nghiệp. Tuỳ theo ngành nghề và loại hình doanh nghiệp nhưng vốn điều lệ
không được nhỏ hơn vốn pháp định.
* Theo giác độ hình thành vốn kinh doanh:
- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là số vốn
cần thiết để đăng kí kinh doanh. Đó là vốn đóng góp của các thành viên công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân hoặc vốn của nhà nước giao.
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do trích từ lợi nhuận, do ngân sách nhà nước

cấp, sự đóng góp của các thành viên, do bán trái phiếu… bổ sung để tăng thêm vốn
kinh doanh.
- Vốn liên doanh: là vốn do sự đóng góp của các bên khi tiến hành cam kết liên
doanh, liên kết với nhau trong hoạt động thương mại, dịch vụ.
- Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn chủ sở hữu, vốn liên
doanh để có đủ vốn kinh doanh doanh nghiệp phải đi vay của ngân hàng trong và ngoài
nước.
* Theo giác độ chu chuyển vốn kinh doanh:
- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định bao gồm: toàn bộ những
tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể có đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng
qui định.
- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông.
+ Tài sản lưu động là những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn giá trị và thời
gian sử dụng để xếp vào tài sản cố định.


+ Bộ phận quan trọng của vốn lưu động là dự trữ hàng hoá, vốn bằng tiền như tiền
gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quỹ các khoản phải thu ở khách hàng...
Việc phân chia các loại vốn này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kinh doanh
thương mại. Vì tính chất của chúng rất khác nhau và hình thức biểu hiện cũng khác
nhau nên phải có các biện pháp thích ứng để nâng cao hiệu quả sử dụng các loại vốn
này.
2. Đặc điểm của vốn kinh doanh:
2.1. Đặc điểm của vốn lưu động:
Vốn lưu động dùng trong kinh doanh thương mại tham gia hồn tồn vào q trình
kinh doanh giá trị của nó có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vịng chu chuyển hàng
hố. Vốn lưu động ln ln biến đổi hình thái từ tiền sang hàng và từ hàng sang tiền.
Vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định. Vốn lưu động bao gồm vốn dự trữ
hàng hoá, vốn bằng tiền và tài sản khác.
Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện lưu chuyển hàng hoá và

thực hiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính chất lưu chuyển của vốn khác
hẳn so với các đơn vị sản xuất. Trong doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là khoản
vốn chiếm tỉ trọng lớn nhất khoảng 70 – 80% vốn kinh doanh trong đó, bộ phận dự trữ
hàng hố chiếm tỉ lệ cao.
ở mỗi thời điểm nhất định, vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại thường thể
hiện ở các hình thái khác nhau như: hàng hố dự trữ, vật tư nội bộ, tiền gửi ngân hàng,
tiền mặt tồn quĩ, các khoản phải thu và các khoản phải trả.
Tuỳ từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc phương thức và lĩnh vực kinh doanh mà vốn
lưu động của doanh nghiệp thương mại sẽ trải qua các thời kỳ chu chuyển khác nhau.
Ví dụ vốn của doanh nghiệp thương mại có sản suất gia công chế biến khác với đơn vị
bán buôn, đơn vị chuyên bán hàng qua kho sẽ khác với đơn vị chỉ bán hàng chuyển
thẳng.
2.2. Đặc điểm của vốn cố định:
Vốn cố định biểu hiện dưới hình thái tài sản cố định. Theo Quyết Định –
1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ Tài Chính: Mọi tư liệu lao động và mọi


khoản chi phí thực tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà đồng
thời thoã mãn hai điều kiện: có thời hạn sử dụng từ 1 năm trở lên và có giá trị từ 5 triệu
đồng trở lên thì đều được coi là tài sản cố định.
Tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình kinh doanh, sau mỗi chu kỳ kinh
doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, nên giá trị của nó được chuyển dần
từng phần vào giá trị của sản phẩm.
Tài sản cố định giữ nguyên hình thái vật chất của nó trong thời gian dài, chỉ tăng
thêm khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm. Tài sản cố định hao mịn dần, có hai
loại hao mịn: hao mịn hữu hình và hao mịn vơ hình.
- Hao mịn hữu hình phụ thuộc mức độ sử dụng tài sản cố định và các điều kiện
khác có ảnh hưởng tới độ bền lâu dài của tài sản cố định như:
+ Hình thức và chất lượng của tài sản cố định.
+ Chế độ quản lý, sử dụng tài sản cố định.

+ Chế độ bảo vệ, bảo dưỡng, sữa chữa, thay thế thường xuyên, định kỳ đối với tài
sản cố định.
+ Trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm của người sử dụng và sự quan tâm của
cấp lãnh đạo.
+ Các điều kiện tự nhiên và mơi trường…
- Hao mịn vơ hình chủ yếu là do tiến bộ khoa học- cơng nghệ mới và năng suất
lao động xã hội quyết định.
Tài sản cố định chuyển đổi thành tiền chậm hơn nhưng những tài sản cố định như:
nhà cửa, kho tàng, quầy hàng... lại là những tài sản có giá trị cao, là bộ mặt của doanh
nghiệp, nên có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi vay vốn.
Ngày nay, các doanh nghiệp thương mại thường đầu tư vốn cố định vào xây dựng
nhà làm việc, cửa hàng ở những đầu mối giao thông để tiện liên hệ với khách hàng và
những tài sản cố định như các thiết bị văn phòng được chú ý đầu tư nhằm thu hút và
phục vụ khách hàng tốt hơn.
3. Vai trò của vốn kinh doanh:


Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động kinh
doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó. Số vốn
này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động
kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trị quyết định trong việc thành lập, hoạt
động và phát triển của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trị quyết định trong
việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định. Nó
là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các
doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức huy động
vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh...
- Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô của doanh

nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những
tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và
tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường,
mở rộng lưu thơng hàng hố. Bởi vậy các doanh nhân thường ví “bn tài khơng bằng
dài vốn”.
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong sản suất kinh doanh. Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề
để doanh nghiệp tính tốn hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Nó cũng
là chất keo để chắp nối, kết dính các q trình và quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu
nhờn bơi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu quả.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố giá trị. Nó chỉ phát huy
được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu vốn
khơng được bảo tồn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó
là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách
lãng phí, khơng hiệu quả.
II. nội dung Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.


1. Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại.
1.1. Thành phần và cơ cấu vốn lưu động.
Vốn lưu động là biều hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông. Vốn
lưu động biểu hiện ở cả hai hình thái khác nhau là: hình thái hiện vật và hình thái giá
trị.
Tài sản lưu động của các doanh nghiệp thương mại gồm vật liệu đóng gói, bao bì,
nhiên liệu, dụng cụ và các thứ khác gọi chung là vật tư dùng cho hoạt động mua bán.
Nội dung vật chất của vốn lưu thông trong doanh nghiệp thương mại là hàng hoá để
kinh doanh, tiền nhờ ngân hàng thu và vốn bằng tiền. Nếu như vốn lưu động cần thiết
đối với doanh nghiệp sản suất để mua vật tư cho sản suất và tiêu thụ sản phẩm, thì đối
với doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động cần thiết để dự trữ hàng hố phục vụ kinh

doanh, để tổ chức cơng tác mua bán hàng hoá.
Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại được chia thành vốn lưu động định
mức và vốn lưu động không định mức.
- Vốn lưu động định mức: là số vốn tối thiểu cần thiết để hoàn thành kế hoạch lưu
chuyển hàng hoá và kế hoạch sản suất dịch vụ phụ thuộc của các doanh nghiệp trong
kỳ. Vốn lưu động định mức gồm có vốn dự trữ vật tư hàng hoá và vốn phi hàng hoá để
phục vụ cho quá trình kinh doanh.
+ Vốn dự trữ hàng hoá là số tiền dự trữ hàng hoá ở các kho, cửa hàng, trạm, trị giá
hàng hoá trên đường vận chuyển và trị giá hàng hoá thanh toán bằng chứng từ. Nó
nhằm đảm bảo lượng hàng hố bán bình thường cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
khác.
Vốn dự trữ hàng hoá chiếm tới 80 – 90% vốn lưu động định mức và thường chiếm
khoảng 50 – 70% trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
+ Vốn phi hàng hoá là số tiền định mức của vốn bằng tiền. Vốn phi hàng hố gồm
có vốn bằng tiền và tài sản khác.
. Vốn bằng tiền gồm có: tiền mặt tồn quỹ, tiền bán hàng chưa nộp vào ngân hàng,
tiền ứng kinh phí cho các cơ sở, khoản tiền đang chuyển.


. Tài sản khác gồm: Bao bì, vật liệu bao gói, các cơng cụ nhỏ, chi phí đợi phân bổ.
Ngồi ra còn phụ tùng thay thế và dụng cụ nhỏ.
- Vốn lưu động không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong q
trình kinh doanh và trong sản suất dịch vụ, nhưng khơng thể có đủ căn cứ để tính tốn
định mức được.
Vốn lưu động khơng định mức gồm có: vốn bằng tiền (tiền mua hàng và giao cho
nhân viên đi mua hàng), tiền gửi ngân hàng, tài sản có kết tốn (các khoản nợ nhờ ngân
hàng thu, các khoản nợ phải đòi ở khách hàng, tiền ứng trước để mua hàng, thanh tốn
cơng nợ dây dưa…), các phế liệu thu nhặt trong ngoài vốn, tài sản chờ thanh lý...
* Quá trình chu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại:
- Với những doanh nghiệp thương mại thuần tuý, thì quá trình chu chuyển của vốn

lưu động thường trải qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn I: Mua hàng hoá (T – H), vốn lưu động chuyển từ hình thái giá trị
sang hình thái hiện vật.
+ Giai đoạn II: Bán hàng hoá (H – T’), T’ = T + T, vốn lưu động quay trở lại
hình thái ban đầu nhưng với số lượng lớn hơn.
Đầu tiên vốn lưu động biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và khi kết thúc cũng lại
bằng hình thức tiền tệ. Điều đó có nghĩa là hàng hố được mua vào không phải để
doanh nghiệp sử dụng mà để bán ra. Hàng hoá bán ra được tức là đã được khách hàng
chấp nhận và doanh nghiệp thương mại nhận được tiền doanh thu bán hàng và dịch vụ.
Tồn bộ vịng chu chuyển của vốn lưu động thể hiện bằng công thức chung T – H – T’,
trong đó T’ = T + T.
Sự vận động của vốn lưu động trong hoạt động kinh doanh thương mại luôn luôn
trái với sự vận động của hàng hoá. Khi hàng hoá mua về doanh nghiệp thì phải trả tiền,
khi xuất hàng ra khỏi doanh nghiệp thì nhận được tiền. Kết quả của quá trình vận động
tiền tệ lại phản ánh đúng đắn kết quả của hoạt động kinh doanh: kinh doanh lãi hay lỗ,
mức độ lãi, lỗ.


- Với những doanh nghiệp thương mại có các đơn vị sản suất phụ thuộc (xí
nghiệp, xưởng, tổ, đội sản xuất) thì vốn lưu động của đơn vị sản xuất phụ thuộc gồm
có: ngun vật liệu chính phụ, nhiên liệu, vốn tiền tệ và tài sản có kết tốn. Vốn lưu
động của những đơn vị này trải qua ba giai đoạn:
+ Giai đoạn I: Biến tiền tệ thành dự trữ nguyên vật liệu chính phụ, nhiên liệu, phụ
tùng...
+ Giai đoạn II: Biến nguyên nhiên vật liệu chính, phụ thành thành phẩm hàng hố
nhờ kết hợp sức lao động và cơng cụ lao động.
+ Giai đoạn III: Biến thành phẩm hàng hoá thành tiền tệ.
Vốn lưu động phục vụ cho giai đoạn I, II là vốn sản xuất, vốn lưu động ở giai
đoạn thứ III là vốn lưu thông. Như vậy vốn lưu động của các đơn vị sản xuất phụ thuộc
gồm có:

Vốn lưu động
của đơn vị

=

Vốn lưu động

sản xuất

+

Vốn lưu thông

sản xuất

Thành phần vốn lưu động là tổng thể các loại và các nhóm những yếu tố vật chất
khác nhau (hàng hố, ngun liệu, vật liệu...) dưới hình thái giá trị. Cơ cấu vốn lưu
động là quan hệ tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm đó so với toàn bộ giá trị vốn lưu
động.
Trong nền kinh tế quốc dân, thành phần và cơ cấu vốn lưu động ở các doanh
nghiệp có sự khác nhau. Điều này do đặc điểm và tính chất hoạt động của ngành đó
quyết định. Kinh doanh thương mại là lĩnh vực lưu thông và phân phối hàng hoá nên
vốn lưu động chiếm tỉ lệ chủ yếu trong vốn kinh doanh, thành phần và cơ cấu vốn của
nó cũng khác với vốn lưu động trong công nghiệp và xây dựng.
1.2. Nguồn của vốn lưu động.
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại gồm vốn tự có, vốn coi như tự
có và vốn đi vay:


- Vốn tự có gồm:

+ Nguồn vốn pháp định gồm: nguồn vốn lưu động do ngân sách hoặc cấp trên cấp
cho đơn vị (vốn cấp lần đầu và cấp bổ sung), nguồn vốn cổ phần nghĩa vụ do các cổ
đông đóng góp hoặc vốn pháp định của chủ xí nghiệp tư nhân.
+ Nguồn vốn tự bổ sung: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp (thông qua các quỹ khuyến khích phát triển sản xuất), các khoản chênh lệch giá
hàng hoá tồn kho.
+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết gồm có các khoản vốn của các đơn vị tham gia
liên doanh, liên kết góp bằng tiền, hàng hố, sản phẩm, ngun liệu, vật liệu, cơng cụ
lao động...
- Vốn coi như tự có: do phương pháp kế tốn hiện hành có một số khoản tiền tuy
khơng phải của doanh nghiệp nhưng có thể sử dụng trong thời gian rỗi để bổ sung vốn
lưu động, người ta coi như là vốn tự có. Thuộc khoản này có: tiền thuế, tiền lương, bảo
hiểm xã hội, chi phí trích trước chưa đến hạn phải chi có thể sử dụng và các khoản nợ
khác.
- Nguồn vốn đi vay: để bảo đảm kịp thời thanh toán với ngân hàng trong khi chưa
bán được hàng hoặc sự khơng khớp trong thanh tốn, các doanh nghiệp thương mại
phải thường xuyên có liên hệ với các tổ chức cho vay như: ngân hàng công thương, các
tổ chức tín dụng, ngân hàng cổ phần... để vay tiền. Nguồn vốn đi vay là một nguồn
quan trọng, tuy nhiên vay dưới các hình thức vay khác nhau có tỉ lệ lãi suất khác nhau
và phải trả kịp thời cả vốn và lãi vay khi bán được hàng.
2. Vốn cố định của doanh nghiệp thương mại.
2.1. Thành phần và cơ cấu vốn cố định.
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Vốn này dùng để xây dựng
và trang bị các loại tài sản cố định khác nhau của doanh nghiệp. Tài sản cố định của
doanh nghiệp thương mại phản ánh cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, phản ánh
năng lực kinh doanh hiện có và trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp.
Đặc điểm cơ bản nhất của kinh doanh thương mại là gắn liền với quá trình phân
phối và lưu thơng hàng hóa. Do đó vốn cố định của các doanh nghiệp thương mại



thường chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số vốn kinh doanh. Cũng như các ngành
khác, trong thương mại vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái:
- Hình thái hiện vật: đó là tồn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của các
doanh nghiệp bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, cơng cụ, thiết bị đo lường thí
nghiệm, phương tiện vận tải, bốc dỡ hàng hố...
- Hình thái tiền tệ: đó là giá trị tài sản cố định chưa khấu hao và vốn khấu hao khi
chưa sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định, là bộ phận vốn cố định đã hồn thành vịng
ln chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu.
Tài sản cố định được phân loại theo những tiêu thức khác nhau:
- Theo hình thái biểu hiện, tài sản cố định bao gồm:
+ Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu, có hình thái vật
chất, có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng
vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu như: kho tàng, nhà xưởng, cửa hàng, máy móc, thiết
bị xếp dỡ hàng hố...
+ Tài sản cố định vơ hình: là những tài sản cố định khơng có hình thái vật chất thể
hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như: chi phí sử dụng đất, chi phí bằng phát minh sáng
chế...
- Căn cứ vào mục đích sử dụng, có các nhóm tài sản cố định sau:
+ Nhóm tài sản cố định dùng trong kinh doanh: đó là những tài sản cố định phục
vụ trực tiếp cho hoạt động mua, bán, bảo quản, vận chuyển hàng hố.
+ Nhóm tài sản cố định phục vụ cho công tác quản lý như: nhà làm việc, nhà tiếp
khách, phòng hội họp, y tế, thể thao...
+ Nhóm tài sản cố định dùng cho nhu cầu phúc lợi của cán bộ công nhân viên như
nhà nghỉ, phương tiện đưa đón cơng nhân...
+ Nhóm tài sản cố định không cần dùng đang chờ sử lý: đó là những tài sản cố
định doanh nghiệp khơng có nhu cầu, những tài sản hư hỏng đang chờ giải quyết thanh
lý.



- Căn cứ vào công dụng kinh tế, tài sản cố định được chia ra thành các loại sau:
+ Nhà làm việc hành chính, nhà kho, cửa hàng, nhà để sữa chữa, để sản xuất năng
lượng, nhà để xe, phòng thí nghiệm...
+ Các cơng trình xây dựng và vật kiến trúc để tạo điều kiện cần thiết cho việc thực
hiện các hoạt động nghiệp vụ trong kinh doanh thương mại như: cầu để bốc dỡ vật tư,
hàng hố, đường ơ tô, đường dây tải điện...
+ Các công cụ, thiết bị, máy móc, phương tiện cân, đo, bảo quản, chứa đựng dùng
trong kinh doanh như các loại cân, các giá để chứa hàng, cần trục, cần cẩu, máy chuyển
tải, phương tiện tính tốn, báo động cứu hoả...
+ Các loại dụng cụ đồ nghề chun dùng để đóng gói hàng hố, tháo mở bao bì,
phân loại, chuẩn bị hàng hố...
+ Các loại phương tiện vận chuyển như ô tô tải, ô tô chuyên dùng, rơ moóc, xe
chuyển hàng...
+ Các loại tài sản cố định khác khơng ở các nhóm kể trên như bao bì tài sản,
container...
- Căn cứ vào tình hình sử dụng, tài sản cố định được chia thành:
+ Tài sản cố định đang sử dụng: là những tài sản cố định của doanh nghiệp đang
sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc phúc lợi, sự nghiệp hay an ninh
quốc phòng của doanh nghiệp.
+ Tài sản cố định chưa cần dùng: là những tài sản cố định cần thiết cho hoạt động
sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp song hiện tại chưa cần
dùng, đang được dự trữ để sử dụng sau này.
+ Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý: là những tài sản cố định không
cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần
được thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu.
Trong các doanh nghiệp thương mại không phải lúc nào, ở doanh nghiệp nào cũng
đủ các thành phần nói trên của tài sản cố định. Trong quá trình phát triển, vốn cố định
của các doanh nghiệp sẽ được tăng thêm thông qua xây dựng, cải tạo, mở rộng hoặc



mua sắm mới. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại tài sản cố định sẽ làm cho thành
phần của tài sản cố định ngày càng phong phú, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp ngày càng hiện đại.
Cơ cấu tài sản cố định của doanh nghiệp thương mại được tính bằng các loại, số
lượng tài sản cố định và tỷ trọng của mỗi loại so với toàn bộ tài sản cố định của doanh
nghiệp. Cơ cấu đó và sự thay đổi của nó là những chỉ tiêu quan trọng nói lên trình độ kỹ
thuật và khả năng phát triển hoạt động kinh doanh của ngành lưu thông hàng hố. Nó
phản ánh đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp và giúp cho việc xác định phương
hướng tái sản xuất mở rộng tài sản cố định.

Giá trị một loại TSCĐ
Chỉ tiêu cơ cấu TSCĐ

=

* 100%
Giá trị toàn bộ TSCĐ

2.2. Nguồn của vốn cố định.
Cũng như vốn lưu động, vốn cố định của doanh nghiệp thương mại được hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau như:
- Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách, do cấp trên cấp phát cho
doanh nghiệp, vốn cổ phần do các cổ đông đóng góp bằng tài sản cố định, hoặc vốn
pháp định do chủ xí nghiệp bỏ ra ban đầu khi thành lập xí nghiệp tư nhân.
- Nguồn vốn tự bổ sung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định đã được đầu
tư hoặc mua sắm bằng quỹ xí nghiệp.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: gồm các khoản vốn do các đơn vị tham gia liên
doanh, liên kết góp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã hoàn
thành.
3. Sự cần thiết của việc sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả trong các doanh

nghiệp thương mại.


Sử dụng vốn trong kinh doanh thương mại là một khâu có tầm quan trọng quyết
định đến hiệu quả của kinh doanh vì bất cứ khâu nào trong kinh doanh cũng liên quan
đến vấn đề sử dụng vốn. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn kinh doanh lại là kết quả tổng
hợp của tất cả các khâu, các bộ phận trong kinh doanh, từ phương hướng kinh doanh
đến các biện pháp tổ chức thực hiện, cũng như sự quản lý, hạch toán theo dõi, kiểm tra,
nghệ thuật kinh doanh và cơ hội kinh doanh.
Mục tiêu cũng như ý tưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh là hướng tới hiệu
quả kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng một cách triệt để mọi nguồn lực sẵn có.
Chính vì thế, các nguồn lực kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng, đặc biệt là nguồn
vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh. Khai thác sử dụng các tiềm lực về vốn sẽ đem lại hiệu quả
thực sự cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn là nhu cầu thường xuyên bắt buộc của bất cứ doanh nghiệp nào
trong nền kinh tế thị trường. Đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấy được chất
lượng của việc sản xuất kinh doanh nói chung và việc sử dụng vốn nói riêng.
Mục đích của sử dụng vốn trong kinh doanh là nhằm bảo đảm nhu cầu tối đa về
vốn cho việc phát triển kinh doanh hàng hố trên cơ sở nguồn vốn có hạn được sử dụng
một cách hợp lý, tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Để đạt được mục đích trên yêu cầu cơ bản của việc sử dụng vốn là:
- Bảo đảm sử dụng vốn đúng phương hướng, đúng mục đích và đúng kế hoạch
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chấp hành đúng các quy định và chế độ quản lí lưu thơng tiền tệ của nhà nước.
- Hạch tốn đầy đủ, chính xác, kịp thời số vốn hiện có và tình hình sử dụng vốn
kinh doanh của doanh nghiệp.
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại.
1. Các nhân tố chủ quan.

Đây là những nhân tố chủ yếu quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp bao gồm:


- Cơ cấu vốn: bố chí cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn
càng được nâng cao. Bố trí cơ cấu vốn khơng phù hợp làm mất cân đối giữa tài sản lưu
động và tài sản cố định dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó sẽ
làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Việc huy động vốn cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Huy động vốn là
để sử dụng vốn, do vậy nhu cầu sử dụng vốn đến đâu, doanh nghiệp huy động vốn đến
đó để khơng xảy ra tình trạng thừa hoặc thiếu vốn. Việc huy động vốn hợp lý sẽ đảm
bảo cho việc sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn. Mặt khác sử dụng vốn còn chịu ảnh
hưởng của tỷ lệ lãi suất huy động và thời gian huy động vốn. Lựa chọn và tìm được
nguồn tài trợ thích hợp là nhân tố trực tiếp quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí kinh doanh: là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn. Chí
phí tăng làm giá cả hàng hố, dịch vụ tăng theo dẫn đến sức tiêu thụ giảm làm giảm
hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, các doanh nghiệp luôn phấn đấu giảm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường, quá trình tiêu thụ
diễn ra nhanh hơn, tăng vịng quay của vốn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Lựa chọn phương án kinh doanh thích hợp: trong nền kinh tế thị trường, quy mơ
và tích chất sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là do thị trường quyết định. Khả
năng nhận biết, dự đoán thị trường và nắm bắt thời cơ là những nhân tố quyết định đến
thành cơng hay thất bại trong kinh doanh. Vì vậy, việc lựa chọn đúng phương án kinh
doanh có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các phương án
kinh doanh phải được xây dựng trên cơ sở tiếp cận thị trường. Có như vậy sản phẩm
sản xuất của doanh nghiệp mới có khả năng tiêu thụ được, vốn lưu động luân chuyển
đều đặn, tài sản cố định mới có khả năng phát huy hết cơng suất, hiệu quả sử dụng vốn
cao.

- Các mối quan hệ của doanh nghiệp: những mối quan hệ này thể hiện trên hai
phương diện là quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và giữa doanh nghiệp với
nhà cung cấp. Điều này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới nhịp độ sản xuất kinh
doanh, khả năng phân phối sản phẩm, lượng hàng hoá tiêu thụ và đặc biệt là ảnh hưởng


trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Để tạo được mối quan hệ này doanh nghiệp
phải có kế hoạch cụ thể trong việc củng cố các bạn hàng truyền thống và tìm kiếm thêm
bạn hàng mới. Các biện pháp mà doanh nghiệp có thể áp dụng như: mở rộng mạng lưới
giao dịch, tìm nguồn hàng, tiến hành các chính sách tín dụng khách hàng, đổi mới quy
trình thanh tốn sao cho thuận tiện, tăng cường công tác xúc tiến, quảng cáo, khuyến
mại...
- Trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp: đây là yếu tố vô cùng
quan trọng đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một bộ máy quản lý tốt có
trình độ quản lý cao sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp đạt kết quả cao và ngược
lại. Do đó doanh nghiệp phải nâng cao trình độ quản lý đặc biệt là đối với cán bộ quản
lý tài chính về chun mơn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm để đảm bảo an tồn về
tài chính trong q trình hoạt động kinh doanh.
2. Các nhân tố khách quan.
- Cơ chế quản lý và các chính sách của nhà nước: từ khi chuyển sang nền kinh tế
thị trường, mọi doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo đúng
quy định của pháp luật và khả năng của mình. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi
trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo những ngành
nghề mà doanh nghiệp đã lựa chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý
kinh tế vĩ mơ. Vì vậy, chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà
nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu
hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản chính sách về thuế xuất nhập khẩu... Nói
chung, sự thay đổi cơ chế và chính sách của nhà nước sẽ gây rất nhiều khó khăn cho
việc sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp. Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng
nắm bắt được những thay đổi và thích nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có điều

kiện để phát triển và mở rộng kinh doanh, phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Sự tác động của thị trường: tuỳ theo loại thị trường mà doanh nghiệp tham gia sẽ
có những tác động riêng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu
thị trường mà doanh nghiệp tham gia là thị trường tự do cạnh tranh, sản phẩm của
doanh nghiệp đã có uy tín với người tiêu dùng thì đó sẽ là tác nhân tích cực thúc đẩy


doanh nghiệp mở rộng thị trường và tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Cịn đối với thị
trường khơng ổn định thì hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng khơng ổn định do kết
quả kinh doanh thất thường nên vốn không được bổ sung kịp thời.
Hiện nay ở nước ta thị trường tài chính chưa phát triển hồn chỉnh, các chính sách
cơng cụ nợ trung và dài hạn cịn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự biến động theo giá
thị trường mà chủ yếu là giá áp đặt. Đây là điều hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp
trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện chính sách đầu tư
trong trường hợp có vốn nhàn rỗi. Điều này cho thấy, để đạt được mục đích sử dụng
vốn có hiệu quả là hồn tồn không dễ dàng. Đây là yếu tố mà doanh nghiệp khơng có
khả năng tự khắc phục song lại có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động kinh
doanh, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Chương II
Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh ở công ty Xăng Dầu Bắc Tây
Nguyên.


I. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của công ty Xăng Dầu Bắc Tây Nguyên.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên.
1.1. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1993.
Công ty được thành lập theo quyết định số 150/VT - QĐ ngày 14/02/1976 của Bộ
Vật Tư (nay là Bộ Thương Mại) với tên gọi Công ty vật tư tổng hợp Gia lai - Kon

tum. Cơng ty có nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận và cung ứng các loại vật tư kỹ thuật như:
xăng dầu các loại, dầu nhờn, mỡ máy các loại, thiết bị phụ tùng xe máy, săm lốp, bình
điện ô tô, hoá chất vật liệu điện và dụng cụ cơ khí với chức năng và nhiệm vụ cụ thể là :
* Chức năng :
Thực hiện công tác quản lý nhà nước về cung ứng vật tư kỹ thuật trong phạm vi
địa phương mình phụ trách.
Tổ chức cung ứng các loại vật tư thiết bị chủ yếu, mà Bộ Vật Tư được nhà nước
giao quản lý, cho các đơn vị trung ương và địa phương trên địa bàn.
Công ty vật tư chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo hai chiều của Bộ Vật Tư và của Tỉnh
uỷ, Uỷ ban nhân dân.
* Nhiệm vụ :
Tổng hợp nhu cầu, lập kế hoạch và tổ chức tiếp nhận, thu mua, cung ứng vật tư
cho các đối tượng sử dụng trên địa bàn tỉnh, theo chỉ tiêu kế hoạch của Bộ Vật Tư.
Tổ chức thu mua các loại vật tư thiết bị cũ để sữa chữa đáp ứng nhu cầu trong tỉnh
theo đúng chế độ nhà nước đã ban hành.
Thông qua việc kiểm tra sử dụng vật tư và căn cứ vào chính sách quản lý vật tư
của nhà nước, kiến nghị với Uỷ ban nhân dân tỉnh về chủ trương biện pháp tiết kiệm vật
tư, chống đầu cơ tích trữ, lãng phí vật tư.
Công ty là đơn vị kinh doanh theo chế độ hạch toán kinh tế, được cấp vốn, được
ký các hợp đồng kinh tế, được mở tài khoản tại ngân hàng, được quản lý biên chế cán
bộ, nhân viên theo sự phân cấp của Bộ Vật Tư, được trích lập các quỹ theo qui định
hiện hành của Bộ Tài Chính.
1.2. Giai đoạn từ năm 1993 đến nay :


Ngày 01/07/1993 công ty vật tư tổng hợp tỉnh Gia lai - Kon tum thuộc Bộ Thương
Mại được chuyển thành Công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên trực thuộc Tổng công ty
Xăng Dầu Việt Nam theo quyết định số 723/TM- TCCB ngày 28/06/1993 của Bộ
Thương Mại. Theo quyết định này cơng ty có chức năng nhiệm vụ chủ yếu sau:
Cơng ty là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch

toán kinh tế độc lập, được mở tài khoản tại ngân hàng, trụ sở giao dịch tại số: 01
Nguyễn Du, thành phố Pleiku tỉnh Gia lai.
Cơng ty xăng dầu Bắc Tây Ngun có nhiệm vụ chính là kinh doanh xăng dầu và
các sản phẩm hố dầu phục vụ nhu cầu sản xuất, an ninh quốc phòng và tiêu dùng của
nhân dân hai tỉnh Gia lai và Kon tum
Ngày 15/04/1994 Bộ Thương Mại có quyết định số 369/TM-TCCB, quyết định về
việc thành lập lại doanh nghiệp nhà nước. Công ty đã tiến hành tổ chức lại theo hình
thức doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, chi nhánh xăng dầu Kon tum là doanh nghiệp
nhà nước hạch toán kế tốn thuộc cơng ty xăng dầu Bắc Tây Ngun, có trụ sở đặt tại
số: 02 Phan Đình Phùng thị xã Kon tum tỉnh Kon tum.
2. Hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
2.1. Bộ máy tổ chức, quản lý:
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được xây dựng một cách gọn nhẹ, vừa tinh
giảm, vừa phát huy được hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ln có sự cân đối giữa lao
động trực tiếp và lao động gián tiếp, phân công đúng người đúng việc, khơng ngừng
nâng cao trình độ chun mơn cho cán bộ cơng nhân viên, nâng cao trình độ quản lý
của cán bộ quản lý điều hành.
Sơ đồ bộ máy quản lý:
giám đốc

phó
giám đốc

PHó
giám đốc


Phịng

Phịng


Phịng

Phịng

kinh doanh

kỹ thuật xdcb

tổ chức hành chính

kế tốn - tài
vụ

các cửa hàng

kho A

đội xe

chi nhánh
XD kon tum

2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận trực thuộc:
Ban giám đốc:
Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc Tổng công ty xăng dầu
Việt Nam về việc quản lý điều hành các lĩnh vực hoạt động chung của doanh nghiệp,
thực hiên đầy đủ nghĩa vụ của công ty đối với nhà nước.
Quyết định phương thức, quy mô kinh doanh các chính sách kinh doanh ở từng
thời điểm cụ thể: cơ chế định giá, quy mơ hình thức đầu tư...


Phịng tổ chức - hành chính:
Xây dựng và hồn thiện mơ hình tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp với sự phát
triển của ngành, đề suất các phương án lựu chọn và bố trí cán bộ đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ.
Triển khai và kiểm tra các đơn vị thực hiện bộ luật lao động và các chế độ chính
sách của nhà nước, của ngành đối với người lao động.
Quản lý công tác văn thư lưu trữ, chuẩn bị nội dung chương trình làm việc cho
lãnh đạo cơng ty, tổ chức các hội nghị.
Phòng kinh doanh:


Làm tham mưu cho giám đốc công ty nắm nhu cầu tiêu dùng xăng dầu và các sản
phẩm hoá dầu trên địa bàn hai tỉnh Gia lai và Kon tum, chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng
phục vụ tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân, đảm bảo đúng chính sách của nhà nước và mục tiêu phát triển của
ngành.
Căn cứ các chỉ tiêu phát tiển kinh tế - xã hội của hai tỉnh và nhiệm vụ của tổng
công ty xăng dầu Việt Nam giao, xây dựng kế hoạch sản lượng bán ra cho các đơn vị
trực thuộc trình lãnh đạo quyết định ban hành.
Phịng tài chính - kế tốn:
Tham mưu cho giám đốc cơng ty trong việc tổ chức cơng tác tài chính kế tốn của
đơn vị, chấp hành nghiêm chỉnh pháp lệnh về kế toán thống kê của nhà nước đã ban
hành, những quy định của ngành về kế toán thống kê.
Căn cứ vào kế hoạch lưu chuyển hàng hố, lập kế hoạch tài chính của đơn vị trong
năm.
Quản lý chặt chẽ các nguồn vốn theo chỉ tiêu kế hoạch đã được duyệt, phản ánh
tình hình ln chuyển vốn.
Tính tốn chính xác các khoản mục phí, theo dõi sử dụng quỹ đúng nguyên tắc
chế độ của nhà nước đã ban hành.

Phòng kỹ thuật và xây dựng cơ bản:
Tham mưu giúp giám đốc công ty quản lý kỹ thuật và xây dựng cơ bản, vận dụng
những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào quản lý chất lượng hàng hoá, phương tiện,
trang thiết bị, kho tàng phục vụ tốt công tác kinh doanh của doanh nghiệp.
Triển khai và kiểm tra đôn đốc các cơ sở trực thuộc cơng ty thực hiện thật nghiêm
túc cơng tác phịng cháy chữa cháy.
Đội xe :
Tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả phương tiện vận tải chuyên dùng, hồn
thành chỉ tiêu kế hoạch vận chuyển do cơng ty giao.


Tổ chức tốt nhiệm vụ vận chuyển xăng dầu từ kho cảng đầu mối về kho trung tâm
thành phố Pleiku và các huyện trên địa bàn, giao đúng, đủ số lượng, đảm bảo chất
lượng.
Kho A :
Là đơn vị kho có chức năng tiếp nhận, bảo quản, cấp phát theo phiếu xuất kho của
công ty cho khách hàng đúng số lượng đảm bảo chất lượng.
Bảo vệ tuyệt đối an tồn tính mạng con người, kho tàng, hàng hoá. Đặc biệt quan
tâm đến cơng tác phịng chống cháy nổ.
Cửa hàng bán lẻ xăng dầu:
Quản lý sử dụng hiệu quả tài sản tại cửa hàng được công ty giao. Tiếp nhận xăng
dầu và tổ chức bán lẻ phục vụ cho các đối tượng khách hàng một cách tốt nhất.
Làm tốt cơng tác phịng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường.
Chi nhánh xăng dầu kon tum:
Thay mặt tổng công ty xăng dầu Việt Nam và công ty xăng dầu Bắc Tây Nguyên
chịu trách nhiệm tổ chức kinh doanh xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu phục vụ nhu
cầu phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trên địa
bàn tỉnh Kon tum
3. Đặc điểm kinh doanh của công ty:
3.1. Mặt hàng kinh doanh của công ty:

Sản phẩm chính của cơng ty: xăng Mogas 92, Mogas 90, dầu Diesel, dầu hoả,
Mazút (xăng dầu sáng), những sản phẩm này được dùng làm nhiên liệu cho các phương
tiện giao thơng, cho các q trình chế biến, xây dựng, khai thác, phát điện... Đây là mặt
hàng chiến lược không những có tính chất quyết định đến sự sống cịn của cơng ty mà
cịn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội. Doanh số xăng dầu sáng bán ra
chiếm tỷ trọng rất cao trong toàn bộ doanh số bán hàng của công ty.
Sản phẩm phụ của công ty là: dầu mỡ nhờn, gas và dịch vụ vận chuyển nhiên liệu
lỏng. Doanh số bán ra của những sản phẩm này chiếm tỷ trọng rất nhỏ khoảng 1,65%
(năm 2002) trong tổng doanh số bán ra.


×