Tải bản đầy đủ (.pdf) (54 trang)

Những đặc sắc nghệ thuật của franz kafka qua hoá thân và vụ án

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (700.68 KB, 54 trang )

Lời cảm ơn
Chúng em xin gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của phòng quản lí khoa học
Trường Đại học Tây Bắc, các thầy, các cô trong khoa Ngữ Văn, thư viện trường Đại
học Tây Bắc. Đặc biệt, chúng em xin cảm ơn sự chỉ dẫn tận tình của cô giáo - Thạc sĩ
Nguyễn Thị Ngọc Thúy đã giúp đỡ để chúng em hoàn thành được đề tài này.
Qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, và tập thể
lớp K53 Đại học Sư phạm Ngữ Văn B đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ trong suốt
quá trình thực hiện đề tài.
Là tác phẩm đầu tay nên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong
nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Nhóm tác giả:
Chu Thị Kim Liên
Lã Thị Thu Hằng
Lò Thị Quyên


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 3
2.1. Về Hóa thân ................................................................................................... 4
2.2. Về Vụ án ......................................................................................................... 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 7
3.1. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 7
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 7
4.1. Về đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 7
4.2 Về phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 7


5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 7
6. Đóng góp của đề tài........................................................................................... 8
7. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................. 8
NỘI DUNG........................................................................................................... 9
CHƢƠNG 1: NHÂN VẬT .................................................................................. 9
1.1. Biến dạng về ngoại diện ............................................................................... 10
1.1.1. Bắt đầu từ cái tên ...................................................................................... 10
1.1.2. Diện mạo méo mó ...................................................................................... 11
1.2. Nhân tính ...................................................................................................... 12
1.2.1. Con người cô đơn ...................................................................................... 13
1.2.2. Con người thích nghi................................................................................. 15
1.3. Con người với sự biến dạng không hoàn toàn ............................................. 17
Tiểu kết ................................................................................................................ 24


CHƢƠNG 2: KẾT CẤU ................................................................................... 26
2.1. Cốt truyện được nới lỏng.............................................................................. 27
2.2. Kết thúc mở .................................................................................................. 33
Tiểu kết ................................................................................................................ 35
CHƢƠNG 3: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT .............................................. 37
3.1. Không gian phi địa danh .............................................................................. 37
3.2. Không gian bị biến dạng .............................................................................. 38
3.2.1 Không gian đời tư....................................................................................... 39
3.2.2. Không gian cộng đồng .............................................................................. 41
3.3. Không gian thiên nhiên ................................................................................ 44
Tiểu kết …………………………………………………………………….….51
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 47
Tài liệu tham khảo ............................................................................................... 50



MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Franz Kafka là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của thế kỉ XX. “Có
những nhà văn mà ta không thể xếp họ vào trường phái nào nhưng tác phẩm của họ
lại thật sự là những cái mốc của quá trình văn học thế giới. Họ là những hiện tượng
mà sự lặp lại sẽ là vô vị… Kafka chính là một hiện tượng như vậy” [6;181]. “Kafka trở
thành hiện tượng độc nhất vô nhị trong văn học và cũng trở thành nhân vật phức tạp
bậc nhất trên thế giới” [3;6-7].
Franz Kafka (1883-1924) là người gốc Do Thái, nói tiếng Đức, sinh sống và
viết văn ở Frague, thủ đô cuả Tiệp Khắc (Cộng hòa Czech ngày nay). Ban đầu khi
bước vào văn đàn, ông vẫn giữ cách sống âm thầm, lặng lẽ. Bởi vậy mà nhà văn Cộng
hòa Czech, gốc Do Thái này đã tách mình ra khỏi quỹ đạo của trào lưu, trường phái
văn học đương thời để khai phá một lối đi mới, riêng biệt và đầy sức ám ảnh. Tuy cách
viết của Kafka bình thản không ồn ào, không tuyên ngôn thậm chí là lạnh lùng khô
khốc “Những câu văn lủng củng với nhiều chỗ trống có thể nhét được cả hai tay vào.
Một câu cao, một câu thấp, tùy tiện, câu nọ chèn câu kia, như lưỡi chèn vào răng sâu
hoặc răng giả vậy, có câu còn thô thiển chòi lên trước khiến cho cả truyện cứng đơ
trong sự ngơ ngác đáng buồn” [21;818], những lời văn như thế kì lạ thay lại như một
thanh nam châm kéo người ta đến gần tác phẩm của Kafka hơn. Càng đọc càng không
hiểu, càng đọc càng tò mò, người ta cứ phải lần theo ông, cố gắng hiểu từng con chữ
của ông. Có lẽ từ quan niệm “có nhiều cách khác nhau để biểu hiện tư tưởng nhà văn
trong viết, nghệ thuật đã và sẽ không phải là sự bắt chước hiện thực một cách trần
trụi” [23;45]. Phải chăng vì lẽ đó mà khi thời gian trôi qua, khi những trường phái,
sáng tác của các nhà văn khác lắng xuống thì các sáng tác của Kafka vẫn có sức sống
bền bỉ: bởi sự độc đáo trong thế giới nghệ thuật. Tuy không phải là người đầu tiên nói
về cái phi lí trong văn học, nhưng Kafka được coi là mở đường cho dòng văn học phi
lí phát triển mạnh mẽ đầu thế kỉ XX. Từ Kafka người ta thấy rõ rằng có nhiều cách
khác nhau để biểu hiện tư tưởng nhà văn trên trang viết, có thể nói Kafka là chiếc cầu
nối nghệ thuật văn xuôi phương Tây: từ đỉnh cao nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại thế kỉ
XIX, H.Balaz (1799-1850) sang tiểu thuyết hiện đại thế kỉ XX với những phá cách táo

bạo đôi khi có phần cực đoan ở tiểu thuyết mới và kịch phi lí sau này. Trước thực tại

1


xã hội và văn học đầy biến động, Kafka lặng lẽ “trút” vào tác phẩm hơi thở, tình cảm,
khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp, “các tác phẩm của Kafka là sự lí
giải những ấn tượng nghiệt ngã về thế giới phi lí, về sự tha hóa của con người trong
vòng vây của những thiết chế quyền lực vô hình” [23;34]. Cho đến nay, khi Kafka đã
ra đi gần 1 thế kỉ, khi thời gian đã tiến hành sự phán xét rất nghiệt ngã mà rất công
bằng của nó và làm lắng xuống những niềm si mê xung quanh người “Do Thái” thì tác
phẩm của ông không ngớt làm rung động trái tim độc giả.
Kafka và văn chương của ông là nỗi ám ảnh, là nguồn cảm hứng sáng tạo vô
bờ, những vấn đề mà Kafka đặt ra trong trang viết của mình như: bầu không khí ác
mộng, những thế lực siêu hình, tội lỗi, nỗi lo sợ… đến nay vẫn là những vấn đề mà
chúng ta phải đối đầu. Cảm giác bất ổn của thời đại ông vẫn là cảm giác bất ổn của
thực tại bây giờ khi con người luôn phải đối đầu với chiến tranh, khủng bố và cả sự
hoài nghi… Đọc Kafka, nhịp tim con người như chùng lại, máu không dồn nhanh
trong huyết quản bởi khắp nơi ngập đầy nỗi buồn của sự tha hóa, sự thắng thế của cái
phi lí, sự lên ngôi của nạn độc tài, quan liêu, tham nhũng... Trong bài phát biểu tại lễ
tưởng niệm X, W. H. Ô đơn đã phát biểu: “Tôi thiên về niềm tin rằng ai đó chỉ nên
đọc Kafka khi đang ở trong trạng thái hưng phấn của sự sung mãn cả về thể chất lẫn
tinh thần và kết quả là (người đó) bị cám dỗ để gạt bỏ bất kì sự dằn vặt tự vấn lương
tâm nào như một sự nhắng nhít chán chường. Khi ai đó rơi vào trạng thái suy thoái thì
hãy tránh xa ông, bởi vì, nếu sự tự vấn không thể được đi cùng, như nó luôn thường
trực ở Kafka, bởi một xúc cảm tương tự cho một cuộc sống tốt đẹp, thì mọi thứ dễ
dàng suy sụp và sự quyến rũ của tính nhu nhược tự ngưỡng mộ bản thân với sự yếu ớt
và tội lỗi của chính người đó”.
Vụ án và Hóa thân chính là hai thiên phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ
thuật của Kafka.

Hóa thân là tác phẩm được viết năm 1912 và xuất bản năm 1915 tại Leipzig.
Các nhà phê bình đã xem đây là một trong những tác phẩm hư cấu sáng tạo nhất của
thế kỉ XX. Hóa thân thể hiện nỗi ám ảnh, những trăn trở về sự tồn tại của con người
trong thế giới phi lí mà có thật. Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Gregor Samsa một nhân viên giao hàng lưu động trong một buổi sáng tỉnh giấc anh chợt thấy mình đã
biến đổi thành một con côn trùng khổng lồ gớm ghiếc. Sự biến dạng của nhân vật đã
tạo nên những tầng vỉa ý nghĩa sâu sắc, để lại nhiều dư âm trong lòng độc giả.

2


Vụ án được Kafka bắt tay vào viết năm 1914. Một câu truyện về một người đàn
ông tên Jozep K, bị bắt giữ và thẩm vấn bởi một chính quyền ở xa, không thể tiếp cận
được mà bản chất hành vi phạm tội của anh ta là gì thì cả chính anh ta và độc giả đều
không được biết. Vụ án như một ẩn dụ cho tội lỗi của con người, trong xã hội đương
thời như ai cũng phải mang một trọng tội nào đó, như là lời cảnh báo về tội lỗi của con
người.
Hóa thân và Vụ án như một sự hấp dẫn bởi sự tha hóa, sự phi lí. Qua đó, cho
thấy tài năng nghệ thuật của Kafka không chỉ là cách cảm nhận về con người, cuộc
sống trong xã hội mà còn là các phương thức biểu hiện độc đáo, sáng tạo. Cũng chính
vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu về “Những đặc sắc nghệ thuật của
Franz Kafka qua Hoá thân và Vụ án” với mong muốn khẳng định những đóng góp
cũng như vị trí của Kafka trong nền văn học thế giới. Đồng thời trong quá trình tìm
hiểu tác giả và tác phẩm của ông, chúng tôi cũng sẽ học tập và nâng cao hiểu biết của
mình.
2. Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, Kafka đã trở thành một hiện tượng văn học, khoa nghiên cứu về
Kafka đã xuất hiện từ những năm giữa thế kỉ XX. Nhà phê bình văn học Shimon Sand
bank cho rằng: “Bất chấp sự lan tỏa rộng khắp di sản của Kafka, văn phong bí ẩn của
ông vẫn chưa thể bị bắt chước” [7;89]. Năm 1924, báo “Quyền lợi đỏ” của Đảng
Cộng sản Tiệp Khắc đã viết về ông: “Một nhà văn viết tiếng Đức đã từ giã chúng ta,

một trí tuệ tinh tế và trong sạch, từng ghê tởm cái thế giới này và mổ xẻ nó bằng con
dao không xót thương của lẽ phải. Kafka thâm nhập vào cơ thể xã hội, ông thấy nỗi
đau của kẻ này, quyền lực và giàu sang của kẻ khác. Trong những bài viết của mình,
ông tấn công vào kẻ mạnh của thế giới này bằng phương tiện trào phúng và bằng một
hình thức chứa chất đầy hình ảnh” [10;645]. Lời nhận xét đã cho thấy cái nhìn thấu
suốt, bao quát hệ thống tác phẩm và thế giới nghệ thuật cũng như tư tưởng của ông.
Còn Milela Jesenka, người tình của Kafka thì nhận thấy: “Những cuốn sách (của ông)
đã để lại một ấn tượng về thế giới hoàn chỉnh đến nỗi người ta không thể thêm vào đó
một chữ nào” [19]
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, làn sóng phê bình Kafka đã chiếm lĩnh văn đàn
thế giới. Khoa học về Kafka được xem như “cương lĩnh của văn học thế kỉ XX”

3


[13;84]. “Đến năm 1964, người ta ước lượng có tới 5000 bài báo, tiểu luận, sách nói
về Kafka, 26 tác phẩm lớn, 214 tiểu luận, 10 luận án tiến sĩ” [13;84]
Đến Việt Nam, nghiên cứu về Kafka và tác phẩm có phần bình lặng, chủ yếu
trong giới phê bình và mới chỉ bắt đầu rộ lên ở thập kỉ 1970. Tuy nhiên, việc nghiên
cứu tác phẩm và nghệ thuật của Kafka vẫn còn rất khiêm tốn. Xuất phát từ hạn chế
ngôn ngữ (Kafka viết bằng tiếng Đức) vừa do tâm lí e ngại trước những tác phẩm mơ
hồ, đa âm chứ không dễ dàng lí giải.
Bên cạnh việc phê phán, phủ định tác phẩm của Kafka “là nơi cư trú tối tăm của
những tư tưởng tôn giáo, các loại triết học siêu hình” [25;26]; “gánh nặng của tôn
giáo, của tinh thần lo âu, của những quan niệm bi thảm về cuộc sống” [25;31]; “sự
phản kháng tiêu cực, mơ hồ, bất lực và tuyệt vọng” [13;89]… thì các nhà nghiên cứu
cũng ghi nhận những nét tích cực trong sáng tác của Kafka.
2.1. Về Hóa thân
Tiểu thuyết gia Vladimir Nabokov xếp ông vào số những nhà văn vĩ đại nhất
thế kỉ XX. Nhà văn Gabrie Garcia Marquez nhận xét việc đọc Hóa thân của Kafka cho

ông thấy: “không thể nào viết theo một cách khác” [16].
Max Bord cho rằng: “Gregor Samsa là hình ảnh chúa biến thành người, chịu
mọi oan khổ để cứu vớt sinh linh, cái chết của Samsa tượng trưng cho sự hi sinh của
chúa trên cây thập tự” [14;85], với quan niệm tác phẩm của Kafka thấm nhuần tính
Do thái giáo.
Nhận xét về sự biến dạng của nhân vật Samsa trong bài viết: “Vốn là một thủ
pháp văn học hoàn toàn hợp lệ, hình tượng huyễn hoặc của Kafka vẫn có cái gì đó
thách thức bởi sức nặng “phi thẩm mĩ” của nó được thể hiện” [15;187]. Hóa thân là
“phép ẩn dụ vĩ đại” cho “Tổng thể tội lỗi trước người cha và gia đình - một trong
những cảm giác mạnh nhất ở một nhân cách bị gò bó như Kafka” [15;188]. Không chỉ
vậy truyện còn là ẩn dụ về “con người bỗng phát hiện ra sự cô đơn tuyệt đối của
mình”, “Sự cô đơn được khơi dậy bởi nhận thức rõ ràng về sự khác biệt tuyệt đối của
mình với người khác về tính lập dị của mình” [15;189-190].
Tác giả Vladimdi Nabokov đã nhận định: “Nghệ thuật của Kafka ở một mặt
tích tụ tất cả chi tiết đau buồn khi anh nằm dưới lớp vỏ côn trùng và một mặt khác
trước người đọc, duy trì một cách sống động và rõ ràng bản tính con người nhân hậu
và tinh tế nhạy cảm Gregor” [19].

4


Bách khoa toàn thư Anh nói đã lí giải cái chết của nhân vật Gregor Samsa như
sau: “Trong Hóa thân người con trai tỉnh dậy và thấy mình biến thành côn trùng quái
dị và ghê tởm, anh ta chết dần không chỉ vì gia đình xấu hổ và bỏ rơi anh mà còn là sự
tuyệt vọng tội lỗi của chính anh” [29;678].
Gilles Deleuze và Felix Guattari trong “Kafka vì một nền văn học thiểu số” cho
ông thấy sự biến dạng của Gregor “không chỉ là để chạy trốn cha mình mà đúng hơn
là để tìm một lối thoát ở nơi người cha đã không tìm thấy, để trốn chạy người quản lí,
giới thương nghiệp và những kẻ quan liêu để đạt tới cái vùng này nơi giọng nói chỉ
còn tạo nên tiếng rì rầm” [7;60]. Tuy nhiên, việc giải lãnh thổ hóa của Gregor trong

sự trở thành động vật bị thất bại: “anh ta tự tái Oedipe hóa vì bị quả táo ném vào lưng
và chỉ còn chờ cái chết” [7;63-64]. Trong “phương Tây - văn học và con người”,
Hoàng Trinh cho rằng: “Truyện Hóa thân nói lên tinh thần chán ghét, khinh bạc của
Kafka đối với thực tại xã hội và thế giới cuả sự tha hóa theo quan niệm của ông. Đối
với tác giả thật khó mà phá vỡ những nề nếp, cung cách của cuộc sống, trong đó con
người bị cầm tù mà không biết” [26;30]. Nhưng mặt khác nó cũng bộc lộ sự mất lòng
tin của ông ở sinh tồn của con người, ở công việc cải tạo xã hội. Cái phi lí trong sáng
tác của Kafka được Nguyễn Văn Dân đặc biệt chú ý tới. Mà truyện Hóa thân là một ví
dụ “Gregor Samsa mang cả một gánh nặng phi lí trên người để bày tỏ số phận bi kịch
của kiếp người lao động” [6;182]. Đặng Anh Đào trong bài viết Franz Kafka cho
rằng: “cái kì lạ không hẳn nằm trong việc nhân vật Gregor Samsa của truyện biến
dạng biến thành con bọ mà ở cách thể hiện phản ứng của nhân vật: cái phi tâm lí lấn
át. Cái không bình thường trở thành cái thường nhật” [8;42].
Cuốn chuyên luận “Nghệ thuật Franz Kafka” (2006) của Lê Huy Bắc nhìn
nhận Kafka không chỉ ở phương diện “thiên tài nghịch lí”, “người tẩy não nhân loại”
mà còn nhìn nhận ở phương diện “người khai sinh hiện thực”, “nghệ thuật gián tiếp”.
Kafka đã khai sinh ra “hiện thực về sự biến dạng của con người” [3;112] mà Gregor
samsa là minh chứng điển hình thể hiện ở “sự biến dạng về hình hài” đến “biến dạng
hoàn toàn về tính cách” [3;114].
Nguyễn Thị Giang Chi với bài viết “Thân phận con người trong truyện ngắn
Hóa thân” của Franz Kafka đã nhận xét: “Truyện ngắn Hóa thân đã xây dựng một
hình tượng đầy ám ảnh về con người cô đơn, lạc loài phải sống kiếp lưu đầy ngay
trong ngôi nhà thân yêu của mình” [5].

5


Những nhận định trên đều khẳng định vai trò quan trọng của Kafka trong việc
mở đường cho văn học hiện đại, khẳng định giá trị vô giá của Hoá thân và giúp ích đối
với chúng tôi trong quá trình triển khai đề tài.

2.2. Về Vụ án
Vụ án không chỉ ẩn dụ cho cái án (bệnh lao phổi) lửng lơ trên đầu Kafka , ẩn dụ
cho cái án (phát xít) lửng lơ trên đầu nhân loại, ẩn dụ cho cái án (bệnh quan liêu, độc
tài) luôn hành hạ con người, mà còn ẩn dụ cho nhiều yếu tố nhỏ hơn, liên quan đến
chính cuộc đời Kafka.
Nhà kí hiệu học Umberto Eco phát hiện ra “tính chất mở” ở tác phẩm của Kafka:
“Tác phẩm của Kafka tiêu biểu cho loại tác phẩm mở: Vụ án, Lâu đài, Đợi chờ, Kết
án, Tra tấn không thể được hiểu theo nghĩa đen” [9;106]. Dịch giả Orimo Levi người
ý gốc Do Thái đã có nhận xét như sau khi dịch Vụ án của Kafka: “Ông để cho mọi độc
giả tự xoay sở về ý nghĩa những câu chuyện hoang tưởng đó…. Chỉ riêng cuốn Vụ án
có chừng 20 cách giải thích”[20;106].
Theo giáo sư Đỗ Đức Hiểu trong công trình “Phê phán văn học hiện sinh chủ
nghĩa” cho rằng: “Thế giới Kafka là thế giới đầy lo âu, một thứ lo âu siêu hình, không
nguyên nhân cụ thể, không thể lí giải…, là thế giới của cô đơn và tuyệt vọng… tính
thần bí bao trùm tác phẩm Kafka” [13;90]. Trên tờ tạp chí “Ngày nay” số 10/2004 với
bài viết “Mắt của Kafka màu gì” , tác giả Đặng Thị Hạnh đã đưa ra những ý kiến phân
tích về văn phong , ngôn từ, ý nghĩa tác phẩm Kafka: “Đọc Kafka ta thường phải đọc
lại bởi sau khi có cảm giác đọc một cái gì đấy rất trong sáng, dễ hiểu ta lại thấy hình
như có một ý nghĩa gì đấy ta chưa nắm được” [11;50] , “Thứ văn xuôi trong veo của
Kafka không hề là dễ dịch”, bởi “màu mắt của Kafka còn khó xác định nữa là chữ
nghĩa của ông” [11;51].
Pavel Fisner diễn giải tác phẩm kinh điển Vụ án như hiện thân của mức độ hiện
diện của người Do thái ở Praha … vai chính Jozep K là bị bắt giữ (một cách tượng
trưng) bởi một người Đức (Rabesteiner), một người Séc (Kullich) và một người Do
thái (Kaminer), ông bênh vực cho tội lỗi vô tội (Guitless Guilt ) thấm đẫm người Do
Thái. Vụ án được nhắc đến với vấn đề “huyền thoại”, “thân phận con người”. Dù tiếp
cận ở các khía cạnh khác nhau và nhiều ý kiến, nhận định khác nhau nhưng đây thực
sự là những gợi mở quan trọng cho chúng tôi tập trung vào đề tài: Những đặc sắc
nghệ thuật của Franz Kafka qua “Hóa thân” và “Vụ án”


6


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Những đặc sắc nghệ thuật qua hai tác phẩm Vụ án và Hóa thân”
trong tuyển tập Kafka, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu những thủ pháp nghệ
thuật tiêu biểu được nhà văn sử dụng. Từ đó chúng tôi muốn hướng đến việc chỉ ra và
làm sáng tỏ những cách tân nghệ thuật độc đáo của Kafka so với nghệ thuật văn xuôi
đương thời. Từ đó chúng ta thấy được Kafka vừa là người mở đường lưu giữ bí mật,
nên những gì ông để lại đến ngày nay vẫn luôn mới, viết về tác phẩm của ông càng
không đơn giản. Song chúng tôi rất muốn bằng sự say mê nghiên cứu khoa học của
mình sẽ góp phần quảng bá rộng hơn hình ảnh con người và giá trị nghệ thuật trong
sang tác của Kafka đến những thế hệ bạn đọc tiếp sau.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài, chúng tôi mong muốn tìm hiểu và làm sáng rõ được về nhân vật, cốt
truyện và không gian nghệ thuật qua Vụ án và Hoá thân. Qua đó nhằm khẳng định giá
trị nghệ thuật qua hai tác phẩm và toàn bộ những sáng tác của Kafka, góp một phần
nhỏ bé vào công cuộc tìm kiếm “đích” cho những người say mê “thiên tài Do Thái”
này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ tìm hiểu “Những đặc sắc nghệ thuật của
Franz Kafka qua Hóa thân và Vụ án”. Qua các phương diện: nhân vật, cốt truyện và
không gian nghệ thuật.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu tác phẩm Vụ án và Hóa thân của Franz Kafka qua bản
dịch Tiếng Việt đã được lưu hành ở Việt Nam, ở Tuyển tập tác phẩm Kafka, nhà xuất
bản Hội nhà văn, Trung tâm văn hoa ngôn ngữ Đông Tây, năm 2003. Tên tác phẩm
Hóa thân còn được dịch là “Biến dạng”, trong quá trình thực hiện đề tài, để tránh sự

nhầm lẫn, chúng tôi thống nhất dung tên gọi chung là Hóa thân.
Trong đề tài, chúng tôi thực hiện nghiên cứu về nghệ thuật qua ba bình diện
chính đó là: nhân vật, kết cấu và không gian nghệ thuật trong hai tác phẩm Vụ án và
Hoá thân.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp:

7


Phương pháp thống kê, phân loại: Ở đề tài này, chúng tôi thống kê các nhân vật
dưới các góc nhìn khác nhau giữa hai tác phẩm Vụ án và Hoá thân.
Phương pháp nghiên cứu tiểu phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu một
cách rõ nét và khái quát nhất về tác giả Kafka. Qua đó thấy rõ được những nét tiêu
biểu trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Phương pháp phân tích - tổng hợp cùng các thao tác bình giảng: Đây là những
thao tác không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học. Nhờ phân tích- tổng hợp, chúng
tôi sẽ nhìn nhận bản chất của vấn đề một cách rõ ràng hơn, và đưa ra những ý kiến
đánh giá của mình…
6. Đóng góp của đề tài
Tác phẩm Hóa thân và Vụ án nói riêng và sáng tác của Franz Kafka nói chung
đã trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam. Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều người đi
sâu tìm hiểu nghiên cứu về những đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm Kafka. Vì vậy
chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu rõ hơn
về một số đặc sắc nghệ thuật trong Hoá thân và Vụ án của “thiên tài Do Thái” này.
Chúng tôi không khỏi hy vọng sẽ là chiếc cầu nối để bạn đọc bước lên trên “hành trình
chân lí Kafka”.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm ba
chương:

Chương 1: Nhân vật
Chương 2: Kết cấu
Chương 3: Không gian nghệ thuật

8


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHÂN VẬT
Nhân vật trong tác phẩm văn học là hình tượng nghệ thuật khái quát cuộc sống
xã hội và con người. Tất cả những gì liên quan đến con người, thuộc về con người điều
nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học. Xét về mặt sáng tác, người ta không thể
miêu tả về con người, nếu như không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện
pháp biểu hiện nhất định. Điều này đã tạo nên chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng
con người văn học. Quan niệm nghệ thuật về con người là “sự lí giải, cắt nghĩa, sự
cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp
hình thức biểu hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ
cho các hình tượng nhân vật trong đó” [28;55]. Quan niệm nghệ thuật về con người
vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là phẩm của văn hóa tư tưởng, cũng vừa mang dấu ấn
sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn đầy tính phát hiện, độc đáo của nhà
văn.
Văn học không chấp nhận một khuôn mẫu có sẵn, bởi mọi nghệ thuật luôn là sự
tìm tòi sáng tạo không ngừng, nếu anh ngồi yên lập tức anh bị đào thải. Thế kỉ XIX, bạn
đọc vẫn quen thuộc với Balzac - “Người thư ký trung thành của thời đại” - qua các nhân
vật điển hình, mang tính lịch sử - cụ thể ngay “trong những cái bình thường hằng ngày”.
Bước sang thế kỉ XX, “khi thế giới thiếu mất vị phán xét tối cao” (M.Kundrea), thì nhân
vật trong văn văn học cũng hiện lên đa dạng, phức tạp, nhiều vẻ hơn.
Bước vào tác phẩm Kafka, người ta thấy ở đó một “thế giới tạp chủng” với
“những âm vang mênh mông, vô tận những hình bóng nhảy múa nửa hư, nửa thực”
[13;89]. Đó là thế giới hiện thực không thể biết, không thể hiểu, bấp bênh giữa hư và

thực, đổ nát, gẫy vụn, rời rạc của thế kỉ xx, thế kỉ của những con người bất an, bị bỏ
quên, bị quyết định. Một thế giới nhân vật đầy những bất thường trong một thế giới
ngập tràn “cái phi lí”. Những phi lí, bất công khiến con người dù đứng hai chân trên
mặt đất, đã có lực hút của mặt đất, đã có lực hút của trái đất mà vẫn chông chênh.
Trong Vụ án và Hóa thân của Kafka, thế giới nhân vật hiện lên thật cô đơn,
biến dạng từ nhân hình đến nhân tính.

9


1.1. Ngoại diện
Hiện hình trong những trang viết của Kafka là những nhân vật bị mất mát nhân
hình. Gregor Samsa trong Hóa thân là con người không đầy đủ dáng hình người,
chuyển thành lốt côn trùng gớm ghiếc. Chúng ta cũng bắt gặp những nhân vật méo mó
dị dạng về hình thể trong Vụ án.
1.1.1. Bắt đầu từ cái tên
Nếu như nhân vật của Balzac hiện lên như tổng hòa của các mối quan hệ xã hội,
ngòi bút của nhà văn làm cho nhân vật trở nên đầy đặn và toàn vẹn, trở thành những
điển hình bất hủ thì đến Kafka, nhân vật chỉ là những cái bóng mơ hồ, trừu tượng hóa.
Việc chọn cho nhân vật một cái tên hoàn chỉnh đã trở thành vô nghĩa với Kafka. Ông
thích gắn cho nhân vật của mình “một cái tên mang độ hẫng hụt” (chữ dùng của
P.G.S.TS. Lê Nguyên Cẩn) của Jozep K… trong Vụ án. Đó là những cái tên viết tắt
đầy gợi ý, dấu hiệu thiếu hụt đầu tiên của nhân vật. Sự ám ảnh này chỉ dành cho những
cái tên không có họ, hay người ta cũng chẳng biết đấy là họ hay tên nữa: những là
Huld, Leni, Block, Grubach, Brustner,… trong Vụ án. Có khi, người đọc thấy Kafka
cho nhân vật một cái tên đầy đủ nguồn gốc, dòng tộc: Gregor Samsa trong Hóa thân.
Nhưng tác giả lại đặt vào cái tên ấy dấu ấn sự xa lạ, bị ghẻ lạnh (theo E.M.Meletinsky)
thì: tên Samsa gắn với tên người Sec Samisem “ta một mình - nghĩa là cô đơn, là chỗ
bấu víu” [18;487], bị tuyên án trong chính gia đình mình, bởi những người thân yêu
nhất của mình.

Cái tên, trước hết là để phân biệt người này với người khác. Nó cũng xác định
gốc gác, gia đình, dòng họ. Mặt khác, một cái tên có thể là lời hé mở về số phận, cuộc
đời, tính cách của nhân vật. Thế nhưng nhân vật của Kafka thì khác. Trong tác phẩm
Hóa thân, ngoại trừ các thành viên trong gia đình Samsa và cô hầu Anna, những nhân
vật còn lại đều không có tên. Nhà văn sử dụng nghề nghiệp hoặc mối quan hệ xã hội
để định danh cho nhân vật: viên quản lý, chị bếp, bà lao công, ba người khách trọ.
Ngay từ đầu trang sách của Kafka nhân vật xuất hiện một cách đột ngột: “Một
sáng tỉnh dậy băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành con
côn trùng khổng lồ”, “chắc hẳn là người ta đã vu oan cho Jozep K , bởi vì chẳng làm
điều gì nên tội, thế mà một buổi sáng kia anh bị bắt”[21;81], … Kafka dường như
muốn “tẩy trắng” lịch sử nhân vật từ những cái tên đầy thiếu hụt. Độc giả không biết
gì về thời thơ ấu của Samsa, quá khứ chỉ là những mảnh vỡ rời rạc hắt lên hiện tại với

10


một tấm ảnh Samsa khi còn trong quân đội, với ý nghĩ chợt hiện về “một cô hầu
phòng ở một khách sạn vùng quê, một kỉ niệm ngọt ngào thoáng qua, một cô thu ngân
trong một cửa hàng bán mũ và anh đã tán tỉnh thật tình nhưng quá chậm” [21;56].
Nghề nghiệp chào hàng cũng không cho ta biết thêm gì về nhân vật. Nếu đổi nghề
nghiệp cho Jozep K - nhân viên ngân hàng Vụ án, thì có lẽ câu chuyện cũng không có
gì thay đổi. Với việc đặt tên như vậy, Kafka khoét sâu thêm độ chơi vơi của nhân vật,
sự tồn tại vô nghĩa của kiếp người. Chúng ta còn nhớ Jean Valjean con người khốn
khổ, suốt một đời cứ dứt day vì cái tên ký hiệu đọc chệch chữ V’la Jean, có nghĩa
“Jean đấy” ông chỉ là một con số đồng nghĩa với những số tù 24601, 9430. Đó là
người bị gạt ra ngoài lề xã hội. “Tôi không thuộc gia đình của con người. Những ngôi
nhà, nơi họ sum họp, tôi là người thừa (…) tôi là người khốn khổ, tôi ở bên ngoài”.
Jean Valjean cay đắng nói với Marius như vậy. Nhưng nhân vật của Kafka đâu có đi tù
mà sao cũng chỉ là những ký hiệu? Bởi thời đại của Kafka là thời đại của trại tập trung,
thời của số học, của kí hiệu học, kể cả kí hiệu người những con người phi lí.

Chỉ bằng một cái tên, Kafka chỉ ra rằng trong thời hiện đại, con người đã không
được nhìn nhận trong sự toàn vẹn, nguyên khối của nó. Khi kí hiệu học đã trở thành
công nghệ, khi cái trại tập trung bùng nổ khắp mọi nơi thì con người cũng chỉ là những
kí hiệu không hơn không kém. Nhân vật trong truyện của Kafka từ đó gợi lên suy
tưởng về thân phận con người thời hiện đại: tồn tại mơ hồ, trừu tượng, vô nghĩa.
1.1.2. Diện mạo méo mó
Không chỉ trừu tượng từ cái tên, khi đọc truyện ngắn của Kafka, người đọc còn
bị ám ảnh bởi những nhân vật dị dạng về hình thể. Ngoại hình nhân vật qua lăng kính
độc đáo của nhà văn trở lên méo mó, kì lạ. Nhân vật vốn đã vô danh, phiếm chỉ, càng
thêm nhỏ bé và thảm hại bởi những khuyết tật, méo mó, què quặt về thân xác. Riêng
trong Vụ án có tới mười nhân vật dị tật: ba người chân đi khập khiễng: cô Montart,
hiến binh ở tòa, người bỏ coi đồ thờ, hai người bị câm: tên đao phủ, một người chân đi
vòng kiềng: anh sinh viên Berton; một người chân vẹo: vợ viên mõ tõa; một người
lưng gù: em bé gái ở khu nhà họa sĩ Titorelli; một Leni bị dị tật ở tay: ngón giữa và
ngón tay đeo nhẫn bị dính liền; một thanh tra Vilem bụng phệ, “cái đầu khô khốc và
xương xẩu, có cái mũi vẹo vọ to tướng, chẳng hợp với tấm thân phốp pháp ấy chút
nào”[21-94].

11


Chân dung của Gregor Samsa được miêu tả như những bức họa nghịch dị. Yếu
tố nghịch dị trong xã hội thế kỷ XX “dịch chuyển giữa cái hư và cái phi lí”. Yếu tố
nghịch dị là “yếu tố tạo nên hiện tượng trái với thông thường, ở dạng thức méo mó và
cái phi lí” [27]. Yếu tố nghịch dị là “yếu tố tạo nên hiện tượng trái với thông thường,
ở dạng thức méo mó, lệch lạc so với thông niệm” [27].
Trong Hóa thân Gregor Samsa trước khi biến dạng không được miêu tả về
ngoại hình. Sự biến dạng diễn ra bất ngờ, không báo trước và triệt để. Ngay dòng đầu
tiên của chương I, tại thời điểm “Một sáng tỉnh giấc” mơ hồ, đậm chất huyền ảo,
Samsa đã “thấy mình biến thành một con côn trùng khổng lồ” [21;15]. Với diện mạo

quái dị, “lưng anh như thể được bọc kín bằng giáp sắt, anh nằm ngửa dợm nhấc đầu
lên và nhìn thấy bụng mình khum tròn, nâu bóng, phân chia thành nhiều đốt cong
cứng đờ (…) chân anh nhiểu ra, mảnh khảnh đến thảm hại so với phần còn lại của
thân hình to đùng, vung vẩy bất lực trước mặt anh”[21;15].
Samsa khi biến thành con vật cũng xa lạ với hình dáng của chính mình. Độc giả
dõi theo cứ mỗi cử động của “con bọ” Samsa, những bộ phận bên ngoài càng hiện rõ
nét. Samsa nhận thấy thân hình “to bè ra khác thường” [21;19] với “vô số cặp chân
nhỏ không ngừng vung vẩy khắp mọi hướng không làm sao điều khiển được” mỗi khi
anh ta cố gắng ngồi dậy. Khi cố gắng tiến về phía cửa, nhân vật cảm nhận “những gót
chân tận cùng những chiếc cẳng khẳng khiu của anh hơi dinh dính” [21;27] và khi
“dùng mồm hì hục cố xoay chìa khóa trong ổ”, “khốn thay, anh nhận ra miệng mình
dường như không còn chiếc răng nào” nhưng bù lại “đôi hàm của anh lại rất chắc
khỏe, nhờ đó anh có thể xoay được chìa trong ổ khóa” [21;27]. Trước khi biến dạng,
chân dung Samsa trong hình dáng một con người là ẩn số, khi hóa thành bọ, ngoại
hình anh ta được miêu tả rất tỉ mỉ. Kafka đã “vật hóa” nhân vật hoàn toàn về hình hài.
Tuy nhiên, ngoại hình nhân vật dẫu được miêu tả rất tỉ mỉ nhưng nó vẫn được
khoác lên tấm áo mơ hồ, huyền hoặc bởi các chi tiết tưởng như cụ thể nhưng không đi
đến đích thông báo Samsa hóa thành côn trùng gì.
1.2. Nhân tính
Gregor Samxa không chỉ bất thường từ tên gọi đến diện mạo, mà còn bất
thường về cả tâm lí đến tính cách, họ còn là những nhân vật cô đơn. Nhân vật đứng
trong một vũ trụ riêng rẽ, ở đó, tâm hồn mỗi người như một tiểu vũ trụ, không những
chơi vơi, xa lạ với đồng loại mà nhiều khi còn xa lạ với chính bản thân mình. Nỗi cô

12


đơn vì đó luôn thường trực trong các nhân vật của Kafka với những nguyên cơ và biểu
hiện khác nhau.
1.2.1. Con người cô đơn

Kafka mang trong mình dòng máu Do thái, sinh ra tại Prague, thủ đô của Tiệp
Khắc, tiếp thu nền văn hóa và sự giáo dục của Đức, ở ông còn có sự hòa trộn phong
phú giữa các nền văn hóa này. Nhưng đây lại là nguyên thủy sâu xa khiến Kafka luôn
mang trong mình mặc cảm thiếu quê hương, cảm giác về một sự tồn tại lơ lửng, chênh
chao ở một tâm hồn nhạy cảm, dễ tổn thương. Cảm giác này in dấu khá đậm nét trong
thế giới nhân vật của Kafka - thế giới của những con người cô đơn.
Nhân vật của Kafka đã chẳng thể có một cái tên hoàn chỉnh, ông luôn xây dựng
hai thế giới đối lập: một nhân vật trung tâm đối diện với các nhân vật khác và thậm chí
là đối lập với cả thế giới còn lại. Một mình nhân vật rơi vào sự phi lí, không bạn bè,
không người thân trong con đường số phận, chỉ va chạm với những nhân vật khác
trong chốc lát rồi họ cũng biến mất. Khi một mình cách chia với nghìn thế giới thì sự
tồn tại của cá nhân con người trở thành vô nghĩa. Khi không được thấu hiểu, giữa con
người với con người mãi mãi sẽ chỉ là hai vũ trụ chứa đầy bí mật (Xuân Diệu).
Trong Hóa thân Gregor Samxa xa lạ, biệt lập, cô đơn, phải sống kiếp lưu đày
ngay trong chính gia đình mình, giữa những người thân yêu của mình. Vốn là một
nhân viên chào hàng cần mẫn, là niềm tự hào của gia đình, song một sáng tỉnh dậy,
anh đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Và tiếp đó là những chuỗi ngày đau
khổ, ê chề của Gregor. Từ sau khi biến dạng, những người thân Gregor vô cùng yêu
quý và nhiệt tình phụng sự đã khiếp sợ, khinh bỉ và căm thù anh. Họ đã quên đi những
ngày tháng được sống nhàn nhã trong hưởng thụ khi Gregor phải làm việc cật lực
không dám nghỉ ốm lấy một ngày. Giờ đây, trong mắt bố, mẹ và em gái Gregor, anh
như một quái vật ghê tởm gây ra bao rắc rối và làm khổ tất cả mọi người. Suy nghĩ
thường trực của họ lúc này là “Ta phải làm sao tống khứ nó đi; Ta phải làm sao rũ bỏ
được nó; Nó phải đi” [21;64-65]. Đáng thương cho Gregor, trong chuỗi ngày sống
trong hình dáng côn trùng, anh vẫn hiểu tiếng người, và vẫn có suy nghĩ như một con
người. Gregor suy nghĩ về những ngày tháng đã qua, về cuộc đời mình - cuộc đời mà
trước kia mải miết chạy theo guồng quay cuộc sống dường như chưa bao giờ anh kịp
suy nghĩ. Anh thấm thía sự ghẻ lạnh của người thân trong gia đình, Gregor đau đớn
nhận ra từ trước đến nay anh chẳng hiểu gì về những người thân của mình, anh chỉ là


13


một cái bóng giữa gia đình, là cái máy kiếm tiền để những con người kia yên tâm
hưởng thụ. Tâm hồn nhạy cảm với trách nhiệm, tình thương của Gregor bị chấn
thương, nhỏ máu. Thế nhưng anh vẫn không nguôi tình yêu thương gia đình. Gregor
muốn mọi người hiểu mình nhưng thật khó vì giờ đây tiếng nói của anh “đâu phải
tiếng người” [21;26]. Cho nên anh càng cố gắng làm cho mọi người hiểu mình, càng
cố gắng để bày tỏ tình cảm của mình đối với mọi người thì người thân của họ lại càng
kinh hoàng, sợ hãi. Một trong những chi tiết quan trọng dẫn đến bước ngoặt khiến
Gregor phải chết là khi nghe tiếng đàn của em gái, bất chấp sự đau đớn về thể xác, sự
mặc cảm về hình hài, Gregor cố gắng lết về phía cô, tìm cách cổ vũ, khích lệ, động
viên cô. Vì trước đây, trong cái gia đình này không ai hiểu tiếng đàn của em gái bằng
anh. Thế nhưng tình cảm tốt đẹp đó chẳng những không nhận được sự thấu hiểu mà
ngược lại nó còn làm bùng lên sự giận dữ của mọi người. Họ sợ hãi, xua đuổi anh như
một con vật gớm ghiếc và khi anh khó nhọc về đến phòng sau khi bị ông bố “oanh
kích” [21;67], người em gái phóng vọt tới cài then, khóa kĩ cửa rồi kêu to: “Thế là
xong” [21;67]. Họ quyết định phải ra đi. Gregor phải chết và anh đã chết nhưng trước
khi trút hơi thở cuối cùng, anh vẫn nghĩ đến gia đình với tình yêu thương trìu mến.
Trong khi đó, những người thân của Gregor lại thở phào nhẹ nhõm, sung sướng như
trút được gánh nặng trước cái chết của anh. Họ tự thưởng cho niềm vui giải thoát này
bằng một chuyến đi dạo phố, nghỉ ngơi suốt ngày. Họ còn lập kế hoạch sẽ thay đổi căn
nhà đang ở nhà trước đây Gregor đã chọn bằng một căn hộ khác nhỏ hơn, rẻ hơn, tiện
hơn… Như vậy, Gregor cô đơn, xa lạ trong chính ngôi nhà của mình, giữa những
người thân của mình. Trong quá khứ, anh luôn phải làm việc cật lực, lăn lộn kiếm tiền
một mình mà không hề có sự chia sẻ, hiện tại, khi biến thành côn trùng, anh luôn bị bỏ
đói và tương lai, viễn cảnh mà gia đình vẽ ra không có sự xuất hiện của anh. Câu
chuyện nói lên sự bi đát của thân phận con người thời hiện đại qua nhân vật Gregor.
Không những cô đơn trong cuộc đời, con người còn cô đơn ngay trong chính gia đình
của mình. Cuộc sống con người rồi sẽ đi về đâu khi sự cô đơn luôn ngự trị như thế, khi

con người không hiểu nổi thế giới cũng như không thể hiểu nổi chính bản thân mình.
Còn trong Vụ án Jozep K cô đơn trong chính nơi mình đang sống, mình làm
việc. Anh chẳng làm gì nên tội thế mà một buổi sang kia anh bị bắt. Trước sự ngỡ
ngàng của mọi người, không hiểu vì một lí do vô cớ mà anh bị bắt. Sáng hôm ấy mọi
thứ diễn ra không như mọi ngày. Chị nấu bếp của bà Grubach chủ cho thuê nhà không

14


thấy mang bữa sáng đến cho Jozep K. Nhìn thấy sự hiện diện của một bà già đối diện
phòng bên và tiếng gõ cửa vào lúc sáng sớm của của hai người mặc bộ đồ đen bó lấy
người có vẻ như thực dụng lắm. Trong suốt công cuộc tìm kiếm sự giải thoát cho bản
thân, suốt tác phẩm ta không hề thấy bóng dáng của những người thân trong gia đình
Jozep K, duy nhất chỉ có một ông chú xuất hiện nhưng sự giúp đỡ cũng nửa chừng và
không mang lại kết quả gì. Kết quả của cuộc tìm kiếm lí do phạm tội trong suốt một
thời gian dài của Jozep K không gì khác ngoài cái chết “Cách một hôm trước sinh
nhật lần thứ ba mươi mốt của K- lúc ấy khoảng chín giờ tối, giờ yên tĩnh trong các
phố xá - có hai người tới nhà anh” [21;294]. Ngày định mệnh của K đã đến, chúng
đưa anh tới một “công trường nhỏ khai thác đá bỏ hoang” [21;298]. Không một người
thân gia đình, không bạn bè tiễn đưa, ta chỉ thấy một mình Jozep K loay hoay với hai
tên được cử đến để thi hành án. Jozep K chết trong sự cô đơn, cô đơn đến tột cùng.
1.2.2. Con người thích nghi
Gregor Samsa là nhân vật khuyết thiếu, có gia đình nhưng bị kết án cô đơn
ngay trong chính gia đình mình, quá khứ chỉ là nỗi niềm, những mảnh vỡ vụn vặt.
Nhân vật bị cắt rời trong chiều quá khứ và tương lai, chỉ sống với khoảnh khắc ở thực
tại. Nhưng cuộc sống ấy cũng không mang ý nghĩa tích cực, không phải là sống cho
mình mà là sự thích nghi với thực tại một cách máy móc và bị động. Samsa bị dồn vào
“tình thế cạm bẫy” (chữ dùng của M.Kundera), và từ đó, cuộc sống của anh là kiếp
thích nghi với cuộc sống côn trùng mới.
Trong biến cố đầy ngẫn nhiên và hết sức phi lí, ban đầu, Samsa cũng cưỡng lại

việc mình bị biến thành côn trùng. Dù nhận thức được hình dáng thay đổi “Gregor
Samsa nằm trên giường và thấy mình biến thành một con côn trùng khổng lồ” [21;15]
và cũng biết “đây đâu phải chiêm bao” [21;15] nhưng anh ta vẫn chỉ coi đây là một
việc vô lí, vẫn muốn xoay người ra khỏi giường để bắt kịp chuyến tàu. Kafka đã dặt
nhân vật vào sự mâu thuẫn giữa hình dáng côn trùng bên ngoài và hành động theo bản
năng, ý thức của con người để thể hiện triệt để nghịch lí: “những hành động thông
thường, những cái hợp với quy luật cứ bị cái phi lí lôi đi tuồn tuột, mất hút tăm dạng”
[23;78]
Samsa từ chỗ muốn thoát khỏi sự trở ngại của lốt vật để làm việc, lo cho gia
đình dần quen với cuộc sống của loài vật. Anh làm quen với cơ thể mới, cảm thấy
thoải mái khi nằm sấp xuống và khám phá ra công dụng của những bộ phận khác.

15


Những món ăn ưa thích trước kia khiến anh kinh tởm và không chịu nổi mùi của nó
nữa, thay vào đó là những đồ ôi thiu. Anh “đâm ra có thói quen bò ngoằn ngoèo trên
sàn nhà và bốn bức tường để giải khuây” [21;44]. Anh “háo hức mong đợi người ta
dọn dẹp hết đồ trong phòng anh đi” [21;46]. Ý thức về thời gian cũng dần trở nên mơ
hồ và “những cảnh vật gần kề cũng dần dần nhạt nhòa đi trong mắt anh” [21;42]. Bản
năng sống của loài vật kéo Samsa ra xa cuộc sống con người. Tự nhân vật đã phủ định
chính nó. Thích nghi với kiếp sống loài vật cũng là biểu hiện của con người chấp nhận
một cách hiển nhiên. Con người bất lực trước cuộc sống, thờ ơ với chính bản thân
mình. Vì thế, hình hài côn trùng khổng lồ gây cho những người xung quanh cảm giác
ghê tởm về sự phi thẩm mĩ nhưng Gregor Samsa lại không cảm nhận thấy điều đó.
Trong buổi sáng định mệnh, anh không lo lắng cho bản thân mà chỉ quan tâm tới việc
trễ giờ. Nhân vật bị chi phối bởi những mối lo bên ngoài, hành động theo nguyên tắc
ngoài mình.
Nếu như Samsa là con người thích nghi sự thay đổi một cách hoàn toàn nhanh
chóng thì Jozep K trong Vụ án ban đầu khi mới bị bắt, anh cũng hết sức ngạc nhiên

“sao tôi lại bị bắt?” [21;79] “dẫn tôi đến gặp cấp trên của anh” [21;81]. Cuộc hành
trình của Jozep K bắt đầu, anh tìm đến những nơi ở của tòa án, nơi chịu trách nhiệm về
vụ án của anh. Ban đầu anh tìm đến những khu phố ngoằn ngoèo, đường xá tĩnh lặng,
những ngôi nhà cao chót vót. Với những chiếc cầu thang ngoằn ngoèo, lối đi chật hẹp
với nhiều tầng gác máy nối tiếp nhau. “Một hành lang dài có những cái cửa thô sơ
thông với các gian khác nhau của tầng nóc. Mặc dầu chẳng có ánh sáng mặt trời
chiếu vào trực tếp nhưng không hoàn toàn tối mò vì có khá nhiều phòng không ngăn
cách với hành lang bằng vách kín mà chỉ bằng lớp gỗ đóng mắt cáo nên cũng có chút
ít ánh sáng lọt qua và từ ngoài nhìn vào có thể thấy các viên chức đương ngồi hí hoái
viết ở bàn hoặc đứng tựa vào mắt các theo dõi mọi người qua lại. Vả chăng công
chúng ngồi ở phòng đợi có rất ít vì là ngày chủ nhật, họ hầu như chẳng gây ấn tượng
gì, họ ngồi dải đều trên các ghế dài bằng gỗ kê hai bên hành lang.Tất cả bọn họ đều
ăn mặc luộm thuộm tuy rằng nếu xét đoán qua diện mạo, tư thế, cách để râu và những
thứ linh tinh khác phần đông họ đều thuộc những tầng lớp khá giả trong xã hội”
[21;136]. Họ bắt đầu hỏi nhau, bàn luận về vụ án của Jozep K theo nhiều khía cạnh
khác nhau nhưng cũng không đi đến được kết quả. Sau nhiều lần cứ như vậy Jozep K
lại về, lại đến cứ như thế không gian và con người vẫn vậy. Chúng ta ngạc nhiên khi

16


Jozep K bị bắt mà anh vẫn được đến ngân hàng mình làm việc một cách bình thường
như không hề có chuyện gì sảy ra. Cũng chính vì thế mà sau một thời gian điều tra tìm
kiếm không mang lại kết quả gì anh dần dần thích nghi với việc mình có tội. Một lần
nữa, con người lại bất lực trước cuộc sống, loay hoay đi tìm lẽ phải, đi tìm chân lí. Đến
cuối tác phẩm câu nói “như một con chó” của Jozep K khiến người đọc băn khoăn.
Chết mà không biết mình có tội gì, nhân vật không biết, người đọc không biết. Một cái
chết mang đầy tính phi lí.
1.3. Con ngƣời với sự biến dạng không hoàn toàn
Trong thế kỉ ít nước mắt nhất, có người bị rửa trôi về nhân hình và nhân tính.

Bức chân dung con người mang đậm chất nghịch dị ở những biến dạng về hình hài.
Trong kỉ nguyên hiện đại, khi con người càng tiến xa trên nấc thang của văn minh thì
hiện trạng con người mất mát nhân hình càng trở nên đậm nét. Một con bọ Samsa hay
một vụ án oái oăm thoát thai từ nguy cơ con người đánh mất chính mình là lời cảnh
báo cho toàn nhân loại. Tuy nhiên các nhân vật của Kafka không biến dạng hoàn toàn,
bên trong mỗi nhân vật đều vẫn tồn tại chất người. Nó là chất kết dính để con người
vẫn neo đậu tại ranh giới người - vật hay thiện - ác.
Một sáng tỉnh giấc, sau khi biến thành con bọ Samsa vẫn ý thức được chuyện gì
xảy ra. Anh bắt đầu nghĩ “Mình làm sao thế này ? - Đây đâu phải chiêm bao. Vẫn là
gian phòng yên tĩnh của anh giữa bốn bức tường quen thuộc, một phòng ngủ bình
thường trong thế giới loài người, chỉ có điều hơi nhỏ hẹp mà thôi. Bên trên chiếc bàn
đầy những mẫu vải vóc quảng cáo đủ loại - Samsa làm nghề chào hàng vẫn còn treo
bức tranh mà gần đây anh đã cắt ra từ một tờ họa báo và đem chưng trong một chiếc
khung mạ vàng xinh xắn.Tranh vẽ một người đàn bà đội mũ cho khách chiêm ngưỡng,
một chiếc bao tay to tướng bằng lông phủ kín đến tận khuỷu” [21;16]. Gregor Samsa
đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ, chứng kiến những sự vật đang xảy ra trước mắt mình
“giọt mưa”, không tin vào sự biến dạng của mình bằng nán ngủ thêm lúc nữa để
“quên luôn cái chuyện vô lí này đi”. Nhưng vì anh là người có trách nhiệm và luôn
luôn gương mẫu hơn bao giờ hết. Bất chợt anh nhìn chiếc đồng hồ báo thức đang tích
tắc trên đầu tủ. “Trời đất ơi! anh hoảng hốt - Đã sáu giờ rưỡi rồi và chiếc kim đồng hồ
vẫn lầm lì chuyển động” [21;17]. Chuyến tàu kế tiếp khởi hành và anh đã không kịp
đến nơi làm việc. Anh nghĩ ra những lí do vì anh chưa tin, chưa chấp nhận sự thật, vẫn
còn kháng cự - thay vì mang bản chất của con người. “Hay là anh sẽ viện cớ ốm đau

17


nhỉ? Không được, đó là một cái cớ phiền toái nhất hạng, lại đáng nghi ngờ nữa suốt
năm năm làm việc anh chẳng hề đau yếu lấy một ngày. Lão chỉ chắc chắn sẽ đích thân
đến tận nhà anh cùng với bác sĩ của quỹ tương tế bệnh viện, sẽ trách cứ bố mẹ anh vì

thằng con lười biếng” [21;17]. Như vậy ít nhất ở Gregor Samsa vẫn còn mang suy
nghĩ, ý thức của một con người bình thường. Anh cảm nhận được mọi chuyện đang
xảy ra trước mắt nhưng không thể làm gì được và bất lực trước nó. Dần dần sự thích
nghi với cuộc sống kiếp sống của một con bọ khiến Samsa “háo hức mong đợi người
ta dọn hết đồ đạc trong phòng anh đi” [21;46 ], muốn căn phòng trở thành cái hang
trần trụi mà “trong ấy chắc chắn sẽ tha hồ bò khắp nơi không bị cản trở” [21;46].
Samsa cũng bắt đầu thay đổi khẩu vị, nếu lúc trước những món ăn mà Gregor Samsa
thích là sữa, bít tết, bánh mì bơ phết,… thì giờ đây đó là những rau, củ, quả héo khô,
hay những mẩu xương tối qua ăn thừa, những thứ có mùi ôi thiu mà không phải dành
cho con người nữa. Nhưng khi Samsa ngấp nghé ở sát miệng vực của lãng quên tiếng
nói mà lâu rồi anh không được nghe mới kéo lùi anh lại. “Không được lấy bất kì thứ gì
ra khỏi phòng anh, tất cả phải để nguyên như cũ, tâm thái anh cần sự tác động tốt đẹp
của đồ đạc và cho dù chúng nó có cản trở không cho anh bò luẩn quẩn theo những
vòng tròn vô nghĩa thì đó chẳng phải là điều hạn chế mà là một thuận lợi lớn lao”
[21;46]. Samsa nhận ra anh vẫn cần sự hiện diện của đồ đạc trong căn phòng để quá
khứ con người anh không bị lãng quên, không bị vùi dập bởi chính bản thân anh. Họ
lấy đi tất cả những thứ anh yêu quý nhất, chiếc tủ lớn “nơi anh cất giữ cái của nhỏ
cùng nhiều dụng cụ khác đa bị lôi đi rồi”- “bấy giờ họ đang dời cái bàn viết của anh,
cái bàn cũ kĩ đã gần đổ ập xuống sàn”, nơi anh đã từng ngồi mài miệt làm làm những
bài tập khi còn học ở trường thương mại và trước đó khi còn là học sinh trung học
[21;48]. Trước tình thế như vậy Samsa phóng ra dán mình vào chiếc khung treo, trong
khi hai người đàn bà đang ở phòng ngoài đứng tựa vào chiếc bàn giấy thở hào thở hển
lấy hơi. Hành động của Samsa là để cứu những món đồ mà anh yêu thích, phản đối
việc dọn dẹp đồ đạc trong phòng đi chỗ khác vì giờ đây anh không thể nói được nữa.
Nhưng đồng thời cũng là sự níu giữ khoảnh khắc xưa kia của quá khứ ham muốn được
trở lại làm con người trước đây. Một con người luôn luôn gương mẫu, trụ cột chính
trong gia đình, hơn nữa có trách nhiệm với các thành viên trong gia đình. Kết quả là
hành động của anh đã làm cô em gái và bố mẹ trở mặt với anh. Thái độ nhã nhặn, ôn
tồn, thầm lặng ở cô em gái không còn xuất hiện nữa. Trong lúc Gregor Samsa bị dính


18


chặt vào kính, không rời ra được thì Grete lục lọi đống chai lọ đủ loại đến khi quay lại
cô giật nảy người thoảng thốt nhìn thấy anh, một cái chai nhỏ rơi xuống sàn vỡ nát.
Một mảnh thủy tinh cứa toạc mặt Gregor, một thứ thuốc nước ăn mòn bắn tung tóe vào
người anh. Sự đau đớn mà Samsa phải chịu ở đây không còn là thể xác nữa mà là tinh
thần. Những người anh yêu quý nhất giờ đây lại quay lưng với anh, hẳn với bà mẹ có
lẽ đang hấp hối vì anh. Cảm xúc con người của Samsa được bộc lộ rõ khi “anh vừa lo
âu tự nhiếc móc chính mình vừa bò ngang dọc khắp nơi, những bức tường, trên các đồ
đạc, trần nhà, rồi cuối cùng trong nỗi tuyệt vọng khi tất cả căn phòng này dường như
đang quay cuồng quanh anh, Gergor rơi ầm xuống ngay giữa chiếc bàn ăn rộng lớn”
[21;49]. Vậy thì những hành động, tình cảm dồn nén ấy có phải là của một con người
hay không.
Cuộc sống gia đình mỗi lúc một khó khăn hơn, bố Gregor Samsa đã họp gia
đình, họ cùng nhau bàn bạc vấn đề làm thế nào để kiếm tiền. Cuối cùng họ đưa ra
quyết định sẽ dọn một phòng lại để cho khách thuê. Bố anh thì đảm nhiệm việc đi mua
thức ăn điểm tâm cho các thư kí quèn ở nhà băng, mẹ anh đổ mồ hôi sôi nước mắt làm
ra những bộ đồ lót cho kẻ xa lạ, em gái anh thì đứng sau quầy hàng phải chạy tất bật
theo những đòi hỏi của khách mua, nhưng cao hơn đó thì họ không đủ sức để làm. Bởi
trước kia Gregor Samsa là người nuôi cả gia đình, họ không phải nghĩ ngợi gì cả về cái
ăn cái mặc. Giờ đây khi nghe lỏm được chuyện gia đình Gregor Samsa vô cùng lo lắng
không biết mọi người có làm được không vì đã lâu lắm rồi họ không tự làm một công
việc gì để nuôi sống bản thân và gia đình. Chính vì sự suy nghĩ, lo lắng của Gregor
Samsa đã khiến cho anh bộc lộ rõ mình vẫn còn là một con người. Trong sâu thẳm
tiềm thức Samsa vẫn là con người trước kia, nghĩa là con người với bổn phận, trách
nhiệm với gia đình xã hội. Không bận tâm đến hình hài quái dị bên ngoài “con côn
trùng” Samsa chìm trong nỗi day dứt về trách nhiệm và bổn phận. Khoảng thời gian
sau khi bị biến dạng hễ nghe nhắc đến việc cần thiết phải kiếm tiền là Gregor lại gieo
mình xuống chiếc tràng kỉ bọc da bên cạnh và anh nằm gục ở đó, lòng bừng bừng day

dứt vì “khổ đau và nhục nhã” [21;41]. Anh không thể không quan tâm đến việc tình
hình kinh tế của gia đình.
Tiếng vĩ cầm của Grete vang lên trong nhà bếp, khiến cả gia đình hoàn toàn bị
thu hút. Tuy nhiên, ba người khách trọ thoạt đầu xỏ tay vào túi quần, đứng sát ngay
sau giá nhạc để tất cả có thể dò theo nốt nhạc cô gái đang trình tấu. Cả ba người khách

19


trọ không ngừng phun lên những luồng khói xì gà cuồn cuộn từ mũi từ miệng thì ai
cũng có thể đoán ra sự bực dọc của họ. Điều này khiến Gregor Samsa bực mình.
Nhưng đối với Samsa tiếng vĩ cầm của Grete vang lên tuyệt thế cơ mà! Khuôn mặt cô
nghiêng về một phía, đôi mắt sầu muộn vẫn chăm chú theo dõi những nốt nhạc. Khơi
dậy những cung bậc tình cảm, cảm xúc của một con người. Biết yêu thương, biết chia
sẻ luôn có trách nhiệm và sẵn lòng làm tất cả vì người thân trong gia đình. Do vậy tình
cảm, cảm xúc của nhân vật trong hình hài côn trùng vẫn vẹn nguyên là con người, liệu
“Anh có phải là một con thú không khi âm nhạc vẫn còn tác động mạnh mẽ dường ấy”
[21;62]. Tiếng vĩ cầm dần dần chìm trong màn đêm buông xuống, trong căn phòng
với tiết thời se lạnh và tình cảm xa lánh của mọi người. Trong trạng thái bình an, suy
tư và lơ đãng ấy Gregor Samsa nằm liệt một chỗ mãi đến lúc chuông đồng hồ trên tháp
gõ ba giờ sáng. Ý thức của anh một lần nữa lại tiếp nhận, ánh hừng đông đầu tiên
dần trải rộng ở thế giới bên ngoài khung cửa sổ. Rồi đầu anh tự động gục xuống sàn
nhà và hơi thở mong manh cuối cùng của sự sống thoát khỏi hai lỗ mũi anh. Nhưng
trước khi từ bỏ cuộc sống này Samsa nghĩ đến gia đình với tình yêu thương trìu
mến. Anh phải biến mất đó là quyết định mà anh hằng nung nấu còn mãnh liệt hơn
cả em gái mình - nếu như anh có khả năng thực hiện được.
Như vậy, sự tồn tại ở ranh giới của người vật Gregor Samsa với ngoại hình con
bọ khổng lồ không ai chấp nhận cùng với biến dạng ngôn ngữ nhưng bên trong lại là
cảm xúc, suy nghĩ của người tạo nên một nghịch lí. Người thường coi Samsa là sâu bọ
ghê tởm mà không hiểu bên trong con người Samsa. Càng cố gắng chứng tỏ chất

người Samsa càng bị đẩy đến giới hạn của con vật và bờ vực của cái chết. Với Franz
Kafka, nhân vật biến dạng hoàn toàn khai thác nhân vật ở những lằn ranh giới giữa
người - vật, thiện - ác, tốt - xấu tạo nên chiều sâu trong bản thể con người. Với Samsa
tính người nơi con vật không phải là sự kì vĩ, lớn lao của tâm hồn mà là sự nối tiếp con
người cô đơn lo âu trước kia. Sự biến dạng không hoàn toàn càng khoét sâu vào bi
kịch cuộc đời, con người do vậy càng thảm hại bi đát.
Nếu như ở Hóa thân chủ yếu là sự cảnh báo về nguy cơ đánh mất hình hài,
nhân tính của con người trong thế giới nhân vật Kafka thì trong Vụ án nó không chỉ
còn là sự đánh mất hình dạng, nhân tính nữa. Là sự mơ hồ nghịch lí không thể lí giải
nổi. Chắc hẳn là người ta đã vu oan cho Jozep K một tội danh định trước có sẵn của
vòng pháp luật. Anh chẳng làm gì nên tội thế mà một buổi sáng kia anh bị bắt. Trước

20


sự ngỡ ngàng của mọi người, không hiểu vì một lí do vô cớ mà anh bị bắt. Sáng hôm
ấy mọi thứ diễn ra không như mọi ngày. Chị nấu bếp của bà Grubach chủ cho thuê nhà
không thấy mang bữa sáng đến cho Jozep K. Nhìn thấy sự hiện diện của một bà già đối
diện phòng bên và tiếng gõ cửa vào lúc sáng sớm của của hai người mặc bộ đồ đen bó
lấy người có vẻ như thực dụng lắm. Song mặc dù tất cả mọi người đều có sự khác
thường và biến đổi một chút nhưng căn phòng của cô Bơcxne dường như vẫn còn
nguyên dạng, không có sự biến đổi ở con người này. Jozep K biết rõ là hàng ngày cô
Bơcxne đi làm từ tờ mờ sáng đến khuya mới về, thỉnh thoảng hai người mới gặp nhau.
Hôm ấy căn phòng của cô Bơcxne bị lấy làm nơi gặp gỡ của viên đội Vilem cùng với
các bị cáo. Cái bàn để đèn đêm trước vẫn kê ở đầu giường nay được kéo ra giữa phòng
để làm bàn giấy cho ngài đội trưởng đương ngồi phía sau “Hai chân lão bắt chéo, một
cánh tay tì lên lưng ghế tựa” [21;84]. “Trong một góc phòng có ba thanh niên đương
xem ảnh cô Bơcxne, các tấm ảnh treo vào một chiếc mành nhỏ trên tường. Một chiếc
áo choàng trắng móc ở quả đấm cửa sổ để mở. Phía trước mặt hai ông bà lão đến xem
cả hai cúi gập người trên bậu cửa sổ, nhưng phía sau lưng các cụ bây giờ còn có thêm

một tay đàn ông cao lớn vượt hơn các cụ hẳn nửa người, áo sơ mi để phanh trước
ngực tay rứt rứt bô ria mép màu hung” [21;84]. Vậy là căn phòng của Bơcxne vốn đã
như vậy thì sau cuộc gặp gỡ nói chuyện của viên đội với bị cáo lại trở về như cũ, vốn
có của nó. Nhưng lòng tự trọng của Jozep K không cho phép anh làm như vậy, anh
muốn gặp trực tiếp cô Bơcxne để xin lỗi đã mượn căn phòng của cô mà không xin
phép sáng nay. Trước những lời khuyên của bà Grubach rằng anh “Không cần thiết
đâu bác K ạ bác chu đáo quá, cô ta không biết gì hết, cô ta đi từ sớm và bây giờ lại
đâu vào đấy rồi, bác cứ nhìn mà xem” [21;95].
Cuộc hành trình của Jozep K bắt đầu, anh tìm đến những nơi ở của tòa án, nơi
chịu trách nhiệm về vụ án của anh. Ban đầu anh tìm đến những khu phố ngoằn ngoèo,
đường xá tĩnh lặng, những ngôi nhà cao chót vót. Với những chiếc cầu thang ngoằn
ngoèo, lối đi chật hẹp với nhiều tầng gác máy nối tiếp nhau. “Một hành lang dài có
những cái cửa thô sơ thông với các gian khác nhau của tầng nóc. Mặc dầu chẳng có
ánh sáng mặt trời chiếu vào trực tếp nhưng không hoàn toàn tối mò vì có khá nhiều
phòng không ngăn cách với hành lang bằng vách kín mà chỉ bằng lớp gỗ đóng mắt
cáo nên cũng có chút ít ánh sáng lọt qua và từ ngoài nhìn vào có thể thấy các viên
chức đương ngồi hí hoái viết ở bàn hoặc đứng tựa vào mắt các theo dõi mọi người qua

21


lại. Vả chăng công chúng ngồi ở phòng đợi có rất ít vì là ngày chủ nhật, họ hầu như
chẳng gây ấn tượng gì, họ ngồi dải đều trên các ghế dài bằng gỗ kê hai bên hành lang.
Tất cả bọn họ đều ăn mặc luộm thuộm tuy rằng nếu xét đoán qua diện mạo, tư thế,
cách để râu và những thứ linh tinh khác phần đông họ đều thuộc những tầng lớp khá
giả trong xã hội” [21;136]. Họ bắt đầu hỏi nhau, bàn luận về vụ án của Jozep K theo
nhiều khía cạnh khác nhau nhưng cũng không đi đến được kết quả. Sau nhiều lần cứ
như vậy Jozep K lại về, lại đến cứ như thế không gian và con người vẫn vậy. Bởi thế
mới nói không gian, con người dường như không có sự biến đổi hay nói cách khác đó
là sự biến đổi không hoàn toàn. Cuối tác phẩm Jozep K nói “Như một con chó”. Liệu

đó có phải là tiếng chửi hay không, hay để gửi lại nỗi nhục nhã ở đời về sau. Phải
chăng đó là sự phản kháng, không chấp nhận số phận đã an bài. Và Jozep K muốn
vùng vẫy thoát khỏi cái xã hội tòa án đã bủa vây, níu giữ anh bấy lâu nay. Viên tòa ư,
anh chưa gặp bao giờ và nó ở đâu? Tòa án tối cao ư? Anh cũng chưa đến bao giờ, ở
đâu? Như vậy sự biến đổi không hoàn toàn ở Jozep K được thể hiện qua rất nhiều chi
tiết nhưng ở mỗi chi tiết đều phản ánh con người trong đó. Biến đổi cả về cá tính, hình
dạng, số phận con người chứ không biến đổi về nội tâm con người.
Và để hiểu được kết cấu nhân vật của “giấc mơ” - “phi lí kinh hoàng -bừng
ngộ” này ta mới thấy không phải ngẫu nhiên Kafka mở đầu một số thiên truyện bằng
mô típ tỉnh giấc, ấy là sự thức tỉnh nghiệt ngã. Edgerr Poe nhà văn Hoa Kỳ bậc thầy
của văn học kinh dị thế giới từng nói: “Những ai mơ mộng cả ban ngày sẽ biết được
nhiều điều hơn là những người chỉ mơ mộng ban đêm. Trong những giấc mộng xám xịt
của mình họ nắm bắt được những thời điểm của cái vĩnh hằng và khi tỉnh dậy, họ rùng
mình nhận thấy rằng họ vừa sống ở bên lề một thế giới bí hiểm” [15;65]. Việc Franz
Kafka trong khi nhận thức và mô tả “cái phi lí” đã khéo léo đưa nhân vật của mình vào
những giấc mơ. Khi ngủ trong lúc đang mơ con người đắm chìm trong thế giới phi
logic, nhưng khi tỉnh dậy họ rùng mình nhận thấy rằng họ vừa sống ở một bên lề thế
giới bí hiểm. Cho nên từ giấc mơ đến trạng thái tỉnh giấc - bừng ngộ là một hệ quả tất
yếu. Có giấc mơ của con thú săn mồi bị ám ảnh bởi một kẻ thù tiềm tàng vô hình, luôn
rình dập nó đã mơ sửa sang được “hang ổ” của mình trở thành bất khả xâm phạm.
“Chưa bao giờ tôi ngủ yên như tôi hôm nằm mơ vậy, khi tỉnh dậy râu tóc tôi vẫn còn
đẫm nước mắt vui sướng” [21;664]. Tác phẩm của Kafka được nhiều người cho rằng
đó là những “giấc mơ giữa ban ngày”. Bởi nhũng khi nó kể những câu chuyện phi lí

22


×