Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

TIỂU LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH xã hội TRONG PHÁT TRIỂN KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở nước TA HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (170.77 KB, 21 trang )

1
MỞ ĐẦU
An sinh xã hội (ASXH) đang đặt ra và được hầu hết các quốc gia quan tâm
và không ngừng hoàn thiện, nhất là trong một xã hội phát triển với xu thế toàn cầu
hóa mạnh mẽ như hiện nay. Vì vậy, ASXH không chỉ là vấn đề riêng rẽ của một
quốc gia mà là vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Tuy hiện nay, mỗi quốc gia vẫn
có cách hiểu về ASXH và xây dựng hệ thống chính sách ASXH có những điểm khác
nhau. Trong đó kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và thực hiện chính sách an
sinh xã hội là xu hướng chung tiến bộ của nhân loại, là mối quan tâm của nhiều quốc
gia. Đây thực chất là thực hiện một chính sách phát triển và tăng trưởng kinh tế công
bằng; tạo cơ hội cho mọi người trong phát triển và được thụ hưởng đầy đủ hơn các
thành quả của phát triển và tăng trưởng kinh tế; phòng ngừa và khắc phục các rủi ro
trong kinh tế thị trường và rủi ro xã hội khác; không ngừng nâng cao chất lượng
cuộc sống của mọi người.
Ở nước ta, khái niệm an sinh xã hội còn tương đối mới, mặc dù chúng ta
cũng đã thực hiện khá sớm nhiều nội dung quan trọng. Hiện nay, an sinh xã hội đã
trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, bởi vì việc chăm lo
và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân là mục tiêu cao
nhất của sự nghiệp xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam. Đại hội XI của Đảng nhấn
mạnh: phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng thời “thực hiện có hiệu quả tiến bộ và
công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát
triển”1. Tuy nhiên, trong quá trình thực tiễn thực hiện, bên cạnh những kết quả đã đạt
được còn tồn tại một số hạn chế và đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Chính vì vậy,
nghiên cứu: “Thực hiện chính sách an sinh xã hội trong phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc.

1

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 227



2
NỘI DUNG
1. MỘT SÔ VẤN ĐỀ VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ
HỘI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
1.1. Một số vấn đề về an sinh xã hội
* Quan niệm về an sinh xã hội
Phạm trù an sinh xã hội có rất nhiều quan niệm khác nhau, nhưng thường
được đề cập đến theo hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng: an sinh xã hội là sự
bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn
trong xã hội.
Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện
thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc
mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho
những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người
bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa...
Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho
tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải
những rủi ro khác. Chính sách an sinh xã hội là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà
nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an
toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. ASXH là một “vỏ
bọc” hay một “giá đỡ”, một “chiếc ô” che chở… nhằm bảo đảm cho một xã hội và
mỗi con người (trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm) sự bảo đảm về bằng
vật chất, tinh thần và các dịch vụ xã hội… mà nhà nước, cộng đồng dân cư, nhóm
người hay một tổ chức (gồm các cá nhân, tập thể hay cộng đồng) tạo nên. Nó mang
đến cho những đối tượng nghèo đói, yếm thế, gặp rủi ro bất thường về các nhu cầu
cơ bản khi họ phải đối diện với khó khăn, thách thức. Từ đó, ASXH được một hệ
thống chính sách, pháp luật, chương trình hay những bộ quy tắc của xã hội tạo ra,
được Nhà nước thực hiện bằng nguồn ngân sách và sự huy động từ nhiều nguồn lực



3
nhằm nâng cao năng lực của người dân, của gia đình, và cộng đồng để tăng cường
khả năng ngăn ngừa, chống đỡ, giảm nhẹ, khắc phục những rủi ro gặp phải trong
cuộc sống. Theo quan niệm này, ASXH đem đến cho tất cả mọi người quyền hưởng
sự an toàn. Quyền đó đặt trên sự thỏa mãn tối thiểu về kinh tế, văn hóa cần cho nhân
cách và sự tự do phát triển trong trường hợp thất nghiệp hoặc gặp phải rủi ro. Đó
chính là sự bảo vệ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua một số
biện pháp công cộng đối phó với những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng
và bị giảm thu một cách đáng kể bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp,
tuổi già hoặc chết hay sự bảo đảm trợ cấp cho những gia đình đông con…
* Vai trò của An sinh xã hội
Chính sách xã hội là những phương thức, cơ chế và biện pháp của Nhà nước,
của Đảng và tổ chức xã hội nhằm thỏa mãn không ngừng các yêu cầu vật chất, tinh
thần của nhân dân phù hợp với sự phát triển của đất nước. Chính sách xã hội là sự cụ
thể hóa các chủ trương, phương thức, biện pháp đó trong thực tiễn bằng các chế định
của pháp luật. Vậy nên, ASXH có vai trò rất to lớn trong Chính sách xã hội.
Ít nhất và trước hết là, vai trò bảo đảm. Bảo đảm là luôn duy trì và hướng
tới sự an toàn của các thành viên trong xã hội. Vai trò, nhiệm vụ này của ASXH
nhằm phát huy hết mọi tiềm năng, nguồn lực con người, tạo ra cho họ cơ hội phát
triển tốt nhất. Nó được cụ thể hóa bằng những chính sách y tế, an sinh giáo dục, lao
động và việc làm, sự chăm sóc tinh thần và các phúc lợi xã hội khác.
Hai là, vai trò bảo hiểm. Bảo hiểm xã hội là một chế định xã hội nhằm huy
động nguồn tài chính từ người lao động, người sử dụng lao động, sự hỗ trợ của nhà
nước và các tổ chức xã hội và các nguồn khác về vật chất để bảo hiểm cho gia đình
hoặc người lao động, cho đối tượng chính sách xã hội người có công… khi ốm đau, tai
nạn, thai sản hay già yếu, bệnh tật hay chết dẫn đến giảm bất ngờ các nguồn thu nhập.
Ba là, vai trò hỗ trợ. Là vai trò tất yếu của ASXH. Nó nhằm bảo vệ cho các
nhóm cư dân thiệt thòi, yếm thế, không đủ khả năng vật chất để bảo đảm nhu cầu tối

thiểu của cuộc sống nên họ dễ tổn thương. Hỗ trợ gồm: trợ cấp thường xuyên hay


4
đột xuất… Hoạt động này rất linh hoạt và ngày càng có yêu cầu cao; đối tượng ngày
càng mở rộng, không chỉ ốm đau, bệnh tật, bệnh xã hội, ma túy, mà còn ngăn ngừa
rủi ro thiên tai hoặc phòng vệ các nguy cơ khác.
Bốn là, vai trò cứu trợ. Cứu trợ là một hình thức được thực hiện thường
xuyên và đột xuất cho nhóm người chưa hoặc không có khả năng vượt qua các hoàn
cảnh của họ như tàn tật, trẻ mồ côi, nạn nhân chiến tranh, người khuyết tật vĩnh
viễn…với nhiều hình thức và sự đa dạng về huy động nguồn tài chính trong xã hội.
Năm là, vai trò ưu đãi. Vai trò ưu đãi trong hệ thống ASXH của Việt Nam
nhằm bảo đảm cho nhóm người có công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước và nhóm người hoạt động cống hiến vì lợi ích cộng đồng mà gặp tai nạn rủi ro
dẫn đến họ mất các khả năng hoặc giảm thiểu khả năng cạnh tranh sinh tồn và phát
triển trong đời sống xã hội. Đó là các thương bệnh binh, con cái họ và những người
có công khác. Vai trò ưu đãi xã hội gắn với trách nhiệm xã hội của một thể chế
chính trị, vì vậy trách nhiệm chính yếu thuộc về Nhà nước.
* Đặc điểm của chính sách An sinh xã hội
ASXH là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các chính sách xã hội
của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Nó còn là thước đo về trình độ phát triển,
về tính nhân văn và thể hiện bản chất nền chính trị một quốc gia. Nó có những đặc
điểm chủ yếu sau đây:
- Đặc điểm xã hội của nó là hướng tới giải quyết các quyền và các nhu cầu
của mọi thành viên trong xã hội về quyền sống khỏe mạnh, quyền làm việc, quyền
cư trú và quyền mưu cầu hạnh phúc…
- Đặc điểm điều hòa lợi ích xã hội, hướng tới đối tượng các nhóm cư dân
nghèo đói do sự khác nhau về văn hóa, về địa bàn cư trú, về các yếu tố không đồng
đều trong việc hưởng lợi các nguồn tài nguyên quốc gia và những cơ hội khác hoặc
vì các yêu cầu cư trú sinh hoạt (nơi biên giới, hải đảo)… nhằm bảo vệ các nguồn tài

nguyên hay lợi ích an ninh quốc gia…


5
- Đặc điểm nhân văn xã hội. Nó được hình thành trên một nền tảng truyền
thống lịch sử cộng đồng dân tộc Việt. Đó là sự đùm bọc và che chở lẫn nhau trong
hoạn nạn, rủi ro, trong tai biến bất thường, hoặc các biến cố chính trị xã hội… Đất
nước càng phát triển, nhà nước càng phải chú trọng đến nền ASXH cho mỗi người
và mọi người dân, làm cho an dân là làm cho sự trường tồn của đất nước.
* Các nhân tố tác động tới an sinh xã hội
Sự tác động của các nhân tố tới hệ thống ASXH có nhiều nhưng có thể tựu
chung lại gồm: i) Trình độ hay mức độ phát triển của một quốc gia dân tộc (bao gồm
chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng) trong tương quan phát
triển chung của thế giới tại một thời điểm lịch sử cụ thể; ii) Mô hình và nền tảng của
một nền kinh tế, nhất là chính sách cụ thể của mô hình cải cách kinh tế - xã hội.
Kinh tế thế nào, mô hình phát triển của nó ra sao thì hệ thống ASXH phải bắt buộc
tương thích với nó; iii) Sự tác động của năng lực và trình độ hoạch định chính sách
của bộ máy cầm quyền. Hệ thống ASXH, phụ thuộc vào chính sách xã hội và nó
chính là sản phẩm của bộ máy Nhà nước và được điều chỉnh bởi cơ chế, phạm vi,
thời điểm và quá trình hoạch định chính sách cùng các giải pháp để thực hiện chính
sách xã hội; iiii) và cuối cùng, ASXH phụ thuộc vào sự tham gia của cộng đồng. Sức
mạnh của chính sách, hiện thực hóa nó trong đời sống và xã hội hóa huy động các
nguồn lực tài chính, nguồn lực con người…sẽ được thành công nếu tạo ra được sức
mạnh từ cộng đồng và xã hội.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng;
khi mà các sức mạnh của thông tin và những liên kết khác đã vượt ra khỏi biên giới
quốc gia; khi mà hội nhập có yêu cầu cao chưa từng có song hành với yêu cầu ổn
định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước đang đặt ra thì vấn đề
ASXH cần phải được coi nó là một chỉ báo của sự ổn định và phát triển. Mọi hoạt
động của xã hội đều phải hướng về con người - mà con người là trung tâm thì an

sinh cho con người phải được coi là quan trọng và trước hết. Nền ASXH Việt Nam
đúng nghĩa, đúng thực chất và nhân bản đang cần được tiếp tục hoàn thiện, cần được


6
chuyển đổi mạnh mẽ và phù hợp. Nếu vậy, phải có sự quan tâm can thiệp mạnh mẽ
của Nhà nước, của thể chế chính trị nhằm làm cho hệ thống ASXH vừa là chỉ báo sự
phát triển và ổn định nền kinh tế; đồng thời nó cũng là nguồn lực cho sự phát triển
bền vững của quốc gia dân tộc.
* Tiếp cận An sinh xã hội
ASXH với ý nghĩa và nội dung của nó vô cùng rộng lớn và bao quát đến
nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị xã hội và cả trong lĩnh vực an ninh quốc
phòng. Cần có những cách tiếp cận hài hòa, khoa học và thực tiễn.
Về phương pháp luận mác xít. Để xây dựng hoàn thiện hệ thống các giải
pháp về ASXH, không thể không tiếp cận theo phương pháp trong cách nhìn nhận
đánh giá nền ASXH về hình thành, vận hành trên nền tảng kinh tế - xã hội với hoàn
cảnh lịch sử cụ thể, khách quan. Yêu cầu phát triển nền ASXH là xuất phát từ thực
tiễn khách quan, tất yếu, tự thân đối với mỗi đất nước, mỗi cộng đồng nếu muốn
hướng tới sự phát triển bền vững. Vì vậy, cần phải xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến xây dựng hệ thống ASXH hoàn thiện vì mục tiêu lâu dài trong phát triển.
Về cơ cấu, chức năng của ASXH. Là nhìn nhận và đánh giá nó dưới tác
động sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội tới các nhóm xã hội, nhất là nhóm
yếm thế. Trên thực tế, khi kinh tế của nền kinh tế thị trường phát triển cao hơn thì
tác động và rủi ro tới một bộ phận người dân càng lớn, nó làm thay đổi cơ cấu,
chuyển dịch địa vị, vai trò của nhiều cá nhân và cộng đồng. Hệ thống được hiểu là
tập hợp của nhiều đơn vị, yếu tố và thành phần tương tác hợp thành thì cũng phải
hiểu rằng ASXH cũng là một hệ thống nên phải được xem xét, đánh giá, phân định
và với vai trò của một thể chế để đưa đến những quyết sách phát triển phù hợp.
Về biến đổi xã hội. Biến đổi xã hội là một tất yếu và mang tính phổ biến.
Đó chính là quá trình mà khuôn mẫu, hành vi, thiết chế, sự phân tầng và các ứng đáp

xã hội thay đổi theo thời gian. Do sự biến đổi và hành vi ứng đáp này mà các nhóm
yếm thế cũng có nhiều cơ hội để thoát ra khỏi địa vị xã hội yếm thế của họ.


7
Về phân tầng xã hội. Đó chính là hệ thống các vị trí xã hội của một trật tự
xã hội. Vị trí càng quan trọng thì xu hướng chiếm lĩnh nó càng mạnh mẽ và quyết
liệt bởi nó được xã hội cung cấp nhiều tiện ích hơn. Phân tầng xã hội có tính khách
quan, tất yếu. Nhưng xã hội phải xác định được rằng cần phải có sự trợ giúp xã hội
cho những nhóm yếm thế và những rủi ro để tạo ra sự ổn định xã hội.
* Hệ thống an sinh xã hội Việt nam hiện nay
Hệ thống An sinh xã hội Việt Nam hiện nay là một bộ phận của Chính sách
ASXH, được gắn kết hữu cơ với các chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm ổn định
chính trị gắn với sức mạnh quốc phòng - an ninh trong xây dựng và bảo vệ đất nước;
phát triển bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng. Bao gồm:
Bảo hiểm xã hội, là trụ cột quan trọng nhất của nền ASXH. Nó bao gồm cả
một hệ thống cả về chính sách, tổ chức và nguồn lực để vận hành, bảo đảm được tính
bền vững và không ngừng phát triển của thể chế. Vì vậy, nó liên quan và thậm chí “chi
phối” và ảnh hưởng đến nhiều chính sách phát triển của quốc gia. Vận hành của Bảo
hiểm xã hội theo hai cơ chế: bắt buộc và tự nguyện. BHXHVN hiện đã có các doanh
nghiệp tư nhân tham gia, thực hiện đa dạng hóa hoạt động và huy động nguồn lực.
Ưu đãi xã hội, được coi là bộ phận căn cốt của nền An sinh xã hội, thực hiện
công nhận, tôn vinh, đãi ngộ cho đối tượng người có công được hưởng các trợ giúp
của Nhà nước và cộng đồng qua các chế độ ưu đãi về vật chất, tinh thần phù hợp với
điều kiện cụ thể của khả năng kinh tế đất nước và luôn được điều chỉnh bởi các chế
định Nhà nước.
Trợ giúp xã hội là bộ phận thiết yếu hướng vào nhóm cư dân thiệt thòi, yếm
thế thường dễ bị tổn thương. Họ không có khả năng bảo đảm được nhu cầu tối thiểu
của cuộc sống do bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro, éo le bất thường. Trợ giúp xã hội được
thực hiện bằng nguồn quỹ phúc lợi của Nhà nước và sự huy động từ cộng đồng. Đối

tượng cần trợ giúp rất đa dạng và thường không ổn định và có các hình thức trợ giúp
thường xuyên và trợ giúp đột xuất.


8
Chính sách lao động, là hệ thống chính sách của Nhà nước, hướng bảo đảm
cho nhu cầu về việc làm hay ít nhất cũng tạo cho nhóm người rủi ro có cơ hội.
Chẳng hạn, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số khu vực nông thôn được đào tạo
nghề để có việc làm, được khám, chữa bệnh, hoặc trợ giúp khi chưa có việc làm,
giúp họ vượt qua những khúc cam go của cuộc sống.
Các phong trào xã hội là những hoạt động của cộng đồng thường mang tính
đơn lẻ, qua đó giúp đỡ, chia sẻ với những người gặp khó khăn. Các phong trào này
là hoạt động riêng lẻ trong mạng lưới ASXH. Nó hình thành và tồn tại bởi truyền
thống văn hóa, tình tương thân tương ái, vì vậy, nó khác với các mạng lưới của hệ
thống ASXH của các nước khác.
Trong đời sống, rủi ro có thể ngẫu nhiên đến với bất cứ con người nào và trong
những hoàn cảnh không giống nhau. Trong đó, nhóm dễ bị tổn thương nhất là trẻ em và
phụ nữ, người già, người bị bệnh tật, đồng bào dân tộc thiểu số và vùng khó khăn.
Việc thực thi chính sách ASXH là trách nhiệm của cả cộng đồng, của các tổ
chức quốc tế, thậm chí là ở từng con người, từng đơn vị doanh nghiệp…
Nghiên cứu để ban hành các chính sách trợ giúp xã hội trong ASXH là phải
nghiên cứu các quy luật chi phối nó với đời sống, sự hình thành các nguy cơ, các
giải pháp ứng phó để hướng tới chính sách hữu hiệu, phù hợp với cuộc sống. Để xây
dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm ASXH cần phải có cách nhìn tổng
thể và phải dựa vào hai xuất phát điểm, đó là: a) Phải xây dựng một hệ thống lý luận
làm cơ sở và hệ quy chiếu cho các đối tượng của ASXH và xây dựng được mục tiêu
hướng tới sự hoàn thiện; b) cần phải nắm vững được đối tượng, mục tiêu hướng định
và thực trạng xã hội của ASXH.
Bảo hiểm xã hội là một trụ cột vững chắc của ASXH. Bởi vì, BHXH với các
loại hình huy động nguồn lực là bắt buộc và tự nguyện. BHXH bắt buộc là một chế

định pháp lý nhằm bảo vệ an toàn và an sinh nhất cho người lao động bằng cách
thông qua nguồn tài chính huy động được từ người lao động, người sử dụng lao
động và sự hỗ trợ của Nhà nước góp phần tạo ra sự ổn định cho không chỉ người lao


9
động mà cả gia đình họ khi ốm đau, tai nạn, thai sản, già hoặc chết…dẫn đến gia
đình họ bị giảm thu bất ngờ.
Chính sách cho ASXH được thực hiện bằng nhiều hình thức như cứu trợ xã
hội, dịch vụ xã hội, chăm sóc y tế, và các khoản trợ cấp như trợ cấp thôi việc, trợ
cấp thất nghiệp, trợ cấp tai nạn… Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách
đối với người nghèo, với các nhóm cư dân cư trú ở vùng sâu, vùng xa, hướng tới
giảm khoảng cách chênh lệc giữa các nhóm cư dân.
Trải qua chiến tranh dài, nền kinh tế đất nước trì trệ, kém phát triển nên hệ
thống ASXH Việt Nam không ổn định, thường phải áp dụng các giải pháp tình thế
trước mắt. Thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp cũng đã cản trở không nhỏ đến sự
phát triển mở rộng hệ thống ASXH. Vậy nên, việc chăm lo cho các đối tượng công
nhân, viên chức, lực lượng vũ trang, người có công chỉ dừng ở mức tối thiểu. Các
đối tượng khác chưa được chú trọng quan tâm. Vì vậy, ngoài việc huy động nguồn
ngân sách, Nhà nước cần mở rộng mạnh hơn cơ chế huy động sự trợ giúp từ cộng
đồng như xây dựng các loại quỹ xã hội và cổ súy cho huy động nguồn lực tổng hợp
để trợ giúp đạt hiệu quả cao.
1.2. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa với thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta hiện nay
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội được tổ chức tại Cô-penha-ghen (Đan Mạch) vào tháng 3-1995 đã đưa ra tuyên bố 29 điểm, trong đó nhấn
mạnh: "Phát triển xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường có quan hệ phụ
thuộc và thúc đẩy lẫn nhau; là khuôn khổ cho các nỗ lực của chúng ta nhằm đạt
được một cuộc sống chất lượng cao hơn cho tất cả mọi người... Tăng trưởng kinh tế
bền vững và trên diện rộng trong bối cảnh phát triển bền vững là yếu tố cần thiết cho
duy trì phát triển xã hội công bằng lâu bền".

Nhận thức trên rất phù hợp với nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về phát
triển bền vững. Quan điểm xuyên suốt nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là gắn
tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội ngay trong từng bước


10
và từng chính sách phát triển. Nghị quyết Trung ương 6, khóa X "Về tiếp tục hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", một lần nữa nhấn
mạnh: "giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, bảo
đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường" 2; "từng bước mở rộng và cải thiện
hệ thống an sinh xã hội để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp
nhân dân trong xã hội, nhất là của nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo"3.
Nhận thức và quan điểm trên của Đảng ta cần phải được quán triệt và cụ thể
hóa trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong quá trình hội nhập.
Trên thế giới có nhiều mô hình giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Các nước theo mô hình kinh tế thị trường
tự do cũ (điển hình là Mỹ) đề cao vai trò tuyệt đối của thị trường, coi thị trường là
chính thống, thị trường không chỉ điều tiết các hoạt động kinh tế mà còn chủ yếu
điều tiết thu nhập; vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế và giải quyết vấn
đề xã hội, bảo đảm công bằng, trong đó có an sinh xã hội chỉ là thứ yếu. Trong thế
giới hiện đại, nhiều nước theo mô hình kinh tế thị trường tự do cũ đã có sự điều
chỉnh theo hướng tăng cường vai trò của nhà nước trong việc quản lý kinh tế và thực
hiện chính sách an sinh xã hội khi chuyển sang mô hình phát triển theo kinh tế thị
trường tự do mới. Tuy nhiên, ở mô hình này, vai trò của khu vực tư nhân vẫn được
nâng cao, vai trò của nhà nước vẫn bị xem nhẹ. Các nước theo mô hình kinh tế thị
trường xã hội, điển hình là Cộng hòa Liên bang Đức, về cơ bản vẫn dựa trên mô
hình kinh tế thị trường tự do mới, nhưng có sự kết hợp sử dụng cơ chế thị trường với
việc thi hành một hệ thống các chính sách phúc lợi xã hội để bảo đảm sự đồng thuận
xã hội cho phát triển.


2

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2008, tr 137
3

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2008, tr 154


11
Tư tưởng cốt lõi của mô hình kinh tế thị trường xã hội là thông qua nền kinh
tế cạnh tranh, phát huy tối đa tự do sáng tạo, tạo nên năng lực kinh tế mạnh gắn liền
với tiến bộ xã hội. Đó là một mô hình mà trong đó chế độ kinh tế được xác định bởi
những quy tắc cạnh tranh và với một hệ thống an sinh xã hội phát triển. Một hệ
thống các chính sách phúc lợi xã hội và an sinh xã hội rộng rãi đã được thực hiện do
nhà nước bảo đảm trên cơ sở các nguồn thu từ thuế thu nhập lũy tiến rất cao, đạt tới
khoảng 55% GDP. ở các nước theo mô hình nhà nước phúc lợi (Thụy Điển, Phần
Lan, Đan Mạch...), chế độ xã hội dựa trên nền dân chủ tự do, có sự kết hợp kinh tế
thị trường, tự do cạnh tranh và phát triển hệ thống phúc lợi xã hội, an sinh xã hội của
nhà nước, nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho mọi người, nhưng cũng dựa vào nguồn
thu thuế thu nhập lũy tiến rất cao. Việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh
tế và thực hiện chính sách an sinh xã hội như vậy, mặc dù có nhiều ưu điểm trong
việc thực hiện công bằng xã hội, cải thiện đời sống người nghèo, nhóm yếu thế,
song cũng bộc lộ nhiều nhược điểm. Đó là: một mặt, tính bao cấp, bình quân rất
nặng, đẻ ra tình trạng ỷ lại, lạm dụng các khoản trợ cấp xã hội ở mức độ lớn trong
dân chúng; mặt khác, gây ra sự bất mãn trong các chủ doanh nghiệp giàu có, nhiều
nguồn vốn đầu tư đã được chuyển ra nước ngoài, làm giảm động lực tăng trưởng
kinh tế trong nước, dẫn đến nền kinh tế bị trì trệ và suy thoái.

Để khắc phục, nhiều nước buộc phải cắt giảm phúc lợi và trợ cấp xã hội,
như giảm trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp trẻ em, trợ cấp cho những người ốm đau, tàn
tật, chi phí khám bệnh và phúc lợi bảo hiểm cho cha mẹ...
Nhận thức và kinh nghiệm của thế giới về giải quyết mối quan hệ này là rất
hữu ích đối với nước ta. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thức rõ và cụ thể hơn
trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng, nhất là quán triệt và cụ thể hóa quan
điểm, chủ trương và giải pháp trong Nghị quyết Trung ương 6, khóa X "Về tiếp tục
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" vào giải quyết
mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện chính sách an sinh xã hội phù hợp
với điều kiện ở nước ta.


12
Tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách an sinh xã hội là hai phạm trù
khác nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Tăng trưởng kinh tế tạo
tiền đề và điều kiện vật chất để giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội thông qua chính
sách phúc lợi xã hội và an sinh xã hội. Nhưng nếu chính sách tăng trưởng không
hướng vào mục tiêu bền vững và hiệu quả kinh tế - xã hội thì sẽ dẫn đến những hậu
quả xã hội khó lường, nhất là nạn thất nghiệp, bất công xã hội, phân hóa giàu nghèo
tăng. Do đó, một chính sách kinh tế tốt là một chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế trong công bằng, không làm gia tăng quá đáng mức độ chênh lệch về thu nhập
giữa các nhóm dân cư, tăng trưởng phải gắn với xóa đói giảm nghèo; bảo đảm cho
mọi người, nhất là người nghèo, nhóm xã hội yếu thế đều được hưởng lợi từ thành
quả tăng trưởng kinh tế. Muốn vậy, phải có sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước vào
kinh tế để bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên diện rộng và có lợi cho người nghèo, vì
người nghèo. Đặc biệt, Nhà nước can thiệp vào quan hệ phân phối bảo đảm phân bổ
nguồn lực, phân phối lần đầu và phân phối lại theo hướng gắn tăng trưởng kinh tế
với tiến bộ và công bằng xã hội.
Các nguồn lực xã hội được phân bổ theo cơ chế thị trường và theo chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Nhà nước bảo đảm đạt hiệu quả kinh tế - xã

hội cao; Nhà nước dùng công cụ chính sách để điều tiết quá trình phân phối lại, nhất
là chi tiêu công, phân phối thông qua chính sách xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi
xã hội, bảo đảm công bằng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, tăng trưởng
kinh tế là tiền đề, điều kiện vật chất để phát triển và thực hiện chính sách an sinh xã
hội, nhưng một chính sách an sinh xã hội muốn khả thi thì phải phù hợp với khả
năng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong kinh tế thị trường, rủi ro xã hội là khó tránh khỏi và có xu
hướng ngày càng tăng, nhất là rủi ro do mặt trái của cơ chế thị trường gây ra (nghèo
đói, thất nghiệp, mất việc làm...) và rủi ro xã hội khác (ốm đau, tai nạn, thiên tai...).
Do đó, nhu cầu về bảo đảm an sinh xã hội của con người là rất lớn. Xã hội càng phát
triển, đời sống con người càng phong phú, nhu cầu đáp ứng về an sinh xã hội càng


13
đa dạng và tăng lên. Có thể nói rằng, càng phát triển kinh tế thị trường thì xã hội
càng phải được an sinh. Các nhu cầu về an sinh xã hội cơ bản bao gồm bảo hiểm xã
hội, duy trì mức thu nhập đủ sống khi gặp rủi ro, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
(giáo dục, y tế, sử dụng nước sạch sinh hoạt...).
Phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với kinh tế thị trường và tạo cơ
hội cho mọi người tiếp cận các chính sách an sinh xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội,
giảm nghèo và hòa nhập xã hội nhóm yếu thế (trợ giúp xã hội)... chính là thực hiện
công bằng trong kinh tế thị trường và là một trong những chỉ báo quan trọng của
định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt có
khả năng bảo vệ và giúp mọi người chống đỡ với các rủi ro xã hội trong kinh tế thị
trường là một trong những mục tiêu phát triển xã hội quan trọng hướng vào phát triển
con người. Và do đó, trở thành yếu tố, động lực thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Đầu tư
cho chính sách an sinh xã hội cũng chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tăng trưởng kinh
tế gắn với xóa đói giảm nghèo, tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các mục tiêu
phát triển xã hội và phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng. Trong đó, phát triển

mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; khuyến khích làm
giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững và gắn
với phát triển; trợ giúp nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, nhất là người già cô đơn, trẻ
em mồ côi, người tàn tật, tạo điều kiện để họ vươn lên hòa nhập vào cộng đồng.
2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN
SINH XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội trong phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
* Kết quả đạt được:
Sau hơn 25 năm qua, công tác bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta đã đạt được
nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống an sinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện


14
hơn. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. An
sinh xã hội đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho người nghèo và nhiều đối tượng dễ
bị tổn thương trong xã hội.
Về mặt thể chế, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã
hoạch định và triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội quan trọng, huy động được
nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng khó khăn vươn lên
trong cuộc sống. Các chính sách và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội được triển khai
đồng bộ trên cả các phương diện: Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp
cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà
ở,...; Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín
dụng, việc làm; Và phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các địa phương phục vụ
người dân tốt hơn.
Hệ thống bảo hiểm xã hội được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức
ngày càng phong phú đa dạng, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho những
người tham gia. Bảo hiểm xã hội được triển khai đồng bộ với 3 loại hình là: bảo hiểm

bắt buộc; bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Số người tham gia bảo hiểm bắt
buộc ngày càng tăng nhanh. Đặc biệt, đã thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí
cho trẻ em dưới 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ bảo hiểm y
tế cho các hộ cận nghèo, v.v..
Hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng được hoàn
thiện. Mức trợ cấp ưu đãi hàng năm cơ bản đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của
người dân.
Các chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện rộng hơn cả về quy mô và
đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, các phong trào “Tương thân, tương ái”, “Quỹ vì người nghèo“,
“Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được tổ chức thường xuyên và thu hút
sự hưởng ứng của nhiều lực lượng xã hội, đóng góp đáng kể vào việc nâng cao an
sinh xã hội cho mọi người, nhất là những người nghèo, vùng nghèo.


15
Chính nhờ đó, hiện nay hệ thống an sinh xã hội về cơ bản, có khả năng bảo
vệ, khắc phục rủi ro cho người lao động, người dân trong cơ chế thị trường và rủi ro
xã hội khác, nhất là trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động lúc tuổi già và qua đời. Đến nay, độ bao
phủ của hệ thống an sinh xã hội ngày càng mở rộng, chất lượng cung cấp dịch vụ an
sinh xã hội ngày một tốt hơn. Nếu như năm 1996 mới có 3,2 triệu người tham gia
bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì đến năm 2007, con số đó đã lên tới 8,2 triệu người,
tăng 2,6 lần so với năm 1996, chiếm 67% đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm
xã hội bắt buộc; lương hưu liên tục được điều chỉnh, trong 3 năm (2003 - 2005) đã
điều chỉnh 5 lần, tăng từ 164,8% đến 228,8% so với trước tháng 12-2002. Tốc độ
giảm nghèo nhanh và liên tục qua các năm, theo chuẩn áp dụng cho giai đoạn 2001 2005, đến năm 2005 chỉ còn 7% hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm từ 2% - 3%;
theo chuẩn nghèo mới áp dụng từ năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân
3%/năm, từ 20% đầu năm 2006, đến cuối năm 2007 còn 14,8%; người nghèo được
tiếp cận tốt hơn các nguồn lực kinh tế và các dịch vụ xã hội cơ bản: chỉ tính riêng 2

năm (2006 - 2007) có khoảng 2,866 triệu hộ nghèo được vay vốn ưu đãi, 1,33 triệu
lượt hộ nghèo được hướng dẫn cách làm ăn, 15 triệu lượt người nghèo được cấp thẻ
bảo hiểm y tế, 5 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, 230 ngàn hộ
nghèo được hỗ trợ nhà ở. Hằng năm, cứu trợ đột xuất cho từ 1 đến 1,5 triệu người
gặp rủi ro do thiên tai, mất mùa... ổn định cuộc sống, giảm thiểu thiệt hại về người
và của; đến nay khoảng 50% đối tượng cần bảo trợ xã hội được Nhà nước và cộng
đồng hỗ trợ bảo đảm cuộc sống cơ bản và có phần cải thiện.
* Hạn chế và thách thức:
Bên cạnh đó, hệ thống an sinh xã hội vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập. Mức
độ bao phủ của bảo hiểm xã hội còn thấp, tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội
bắt buộc mới chiếm khoảng 16% tổng lao động xã hội và 67% đối tượng thuộc diện
đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nợ đọng đóng bảo hiểm xã hội còn lớn (10%). Bảo
hiểm xã hội chưa có sự tách bạch giữa khu vực hành chính sự nghiệp và khu vực thị


16
trường; chưa thực hiện đầy đủ nguyên tắc đóng - hưởng; còn gắn chặt vào điều
chỉnh tiền lương tối thiểu và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Quỹ Bảo hiểm xã hội dài
hạn (thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất) thiếu vững chắc, tiềm ẩn nguy cơ mất cân
đối thu - chi trong dài hạn. Một số cơ chế, chính sách giảm nghèo hiện hành không
còn phù hợp và có nhiều rào cản trong thực hiện; chưa có chính sách khuyến khích
thoát nghèo vươn lên khá giả; xóa đói, giảm nghèo chưa gắn chặt với phát triển cộng
đồng và phát triển nông thôn; tư tưởng ỷ lại, bao cấp và "bệnh" thành tích còn nặng.
Kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa thật vững chắc; tỷ lệ hộ nghèo đã thoát nghèo
nhưng nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70% - 80%), tỷ lệ tái nghèo còn cao (7% 10%). Phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng (hiện nay là 8,37 lần); người
nghèo khó tiếp cận dịch vụ xã hội và phúc lợi xã hội, nhất là dịch vụ xã hội chất
lượng cao. Mức trợ cấp xã hội của Nhà nước còn thấp, chỉ bằng 1/2 chuẩn nghèo;
mức độ bao phủ của các chính sách trợ giúp xã hội cũng thấp, tỷ lệ đối tượng chưa
được hưởng trợ cấp còn lớn, khoảng 50% (Việt Nam có khoảng hơn 1,3 triệu đối
tượng cần trợ cấp xã hội).

* Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế: Do nhận thức về vai trò của an
sinh xã hội của cơ quan quản lý các cấp và một bộ phận cán bộ, đảng viên, tổ chức,
doanh nghiệp và người dân chưa đúng và chưa đầy đủ; năng lực xây dựng chính sách
an sinh xã hội còn hạn chế, việc tổ chức thực hiện ở các cấp, nhất là cấp cơ sở còn
nhiều bất cập, sự phối hợp, lồng ghép các nguồn lực thực hiện các chính sách thấp;
mức độ xã hội hóa chưa đủ, chưa huy động được sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng
xã hội vào việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội; việc khuyến khích và tạo điều
kiện để người dân tự an sinh còn hạn chế; việc tổng kết, đánh giá để điều chỉnh các
chương trình an sinh xã hội còn chậm trễ.
* Những hạn chế trên đây đã đặt hệ thống an sinh xã hội của nước ta trước
nhiều thách thức lớn. Cụ thể là:
Thứ nhất, trong quá trình đổi mới kinh tế, nhiều vấn đề an sinh xã hội bức
xúc, mới phát sinh chưa được giải đáp một cách kịp thời cả về lý luận và thực tiễn.


17
Cùng với sự phát triển thì các nguy cơ, rủi ro kinh tế và xã hội ngày càng có xu
hướng tăng, càng đa dạng, phức tạp và có diện ảnh hưởng rộng.
Thứ hai, xu thế già hóa dân số đang và sẽ đặt ra nhiều khó khăn cho hệ
thống an sinh xã hội hiện hành và trong tương lai như: hệ thống y tế, bảo hiểm xã
hội, các dịch vụ chăm sóc xã hội cho người cao tuổi.
Thứ ba, sự phân hóa nhanh, mạnh trong nền kinh tế thị trường, đã làm cho
các nhóm xã hội yếu thế ngày càng trở nên yếu thế hơn và dễ bị tổn thương hơn do
hạn chế về khả năng cạnh tranh, khả năng phòng ngừa rủi ro trên thương trường.
Trước những thực trạng trên, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đề ra nhiệm
vụ cho những năm tới là: “Tạo bước tiến bộ rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân... Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động... Tuổi thọ trung
bình năm 2015 đạt 74 tuổi. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm"4. Để đạt được
những mục tiêu đó, cần khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội

lành mạnh, đủ khả năng thực hiện các chức năng của mình.
2.2. Định hướng và giải pháp chủ yếu thực hiện chính sách an sinh xã hội
trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
* Định hướng:
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế cần phải tiếp tục gắn tăng trưởng kinh tế và phát triển hệ
thống an sinh xã hội với những định hướng cơ bản sau:
- Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt (bao gồm hệ thống bảo
hiểm xã hội; thị trường lao động tích cực và thụ động; trợ giúp xã hội; chương trình
giảm nghèo...) và có thể hỗ trợ lẫn nhau. Tăng đầu tư của Nhà nước và mở rộng xã
hội hóa cho phát triển hệ thống an sinh xã hội, coi đó là đầu tư cho phát triển, thực hiện
công bằng xã hội, góp phần ổn định xã hội và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
4

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.189, 191


18
- Xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội hoàn chỉnh, theo nguyên tắc đóng hưởng (bao gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm nghề nghiệp). Nghiên cứu tách bảo hiểm xã hội đối với khu vực hành
chính sự nghiệp và khu vực doanh nghiệp; bổ sung, sửa đổi các chế độ bảo hiểm xã hội
còn bất hợp lý; điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội theo cơ chế tạo nguồn,
độc lập tương đối với chính sách tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ ngân sách nhà
nước; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm tự nguyện khác nhằm mở rộng
vững chắc, tiến tới mọi người lao động ở mọi thành phần kinh tế đều được tham gia bảo
hiểm xã hội; bảo đảm cân đối thu - chi bảo hiểm xã hội trên cơ sở mức đóng - hưởng
tăng lên theo lộ trình quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, áp dụng các biện pháp đầu tư
hiệu quả từ Quỹ Bảo hiểm xã hội để bảo toàn và tăng trưởng bền vững quỹ.
- Thực hiện chính sách tăng trưởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững;
tiếp tục thực hiện chủ trương và chính sách khuyến khích làm giàu đi đôi với tích

cực thực hiện giảm nghèo, vươn lên no ấm, trước nhất là ở nông thôn, vùng miền
núi, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng trước đây; đưa
mục tiêu giảm nghèo vào nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của
cả nước, của từng địa phương; giữ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ở mức hợp
lý, không trở thành vấn đề xã hội bức xúc. Nghiên cứu xây dựng chương trình, chính
sách phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn gắn với giảm nghèo.
- Đa dạng hóa các loại hình trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội tự nguyện,
nhân đạo, chuyển mạnh sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận và chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng; sửa đổi, bổ sung chế
độ trợ cấp xã hội dựa trên cơ sở tăng mức sống tối thiểu của toàn xã hội; tạo cơ hội
và ưu tiên cho các đối tượng bảo trợ xã hội tiếp cận nguồn lực kinh tế (trước hết là
người còn khả năng lao động), dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng về giáo dục đào
tạo, dạy nghề, tạo việc làm, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, văn hóa thông tin... thông qua
thực hiện các chương trình mục tiêu.
* Giải pháp chủ yếu:


19
Để bảo đảm an sinh xã hội trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần thực hiện tổng hợp những giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền trong
việc thực hiện an sinh xã hội; cụ thể hóa các mục tiêu an sinh xã hội được đề ra trong
các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ hằng năm của các cấp ủy đảng; phát
huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc
thực hiện các chương trình, chính sách an sinh xã hội.
Thứ hai, Tăng cường quản lý nhà nước về an sinh xã hội, rà soát, đánh giá toàn diện
các chính sách an sinh xã hội hiện hành. Tiếp tục thực hiện các chính sách có hiệu quả, điều
chỉnh những chính sách đang còn bất cập và bổ sung một số chính sách mới; tăng cường số
lượng và chất lượng đội ngũ chuyên môn, nghiệp vụ và cán sự xã hội; xây dựng chính sách
khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản; hiện đại

hóa công tác quản lý đối tượng an sinh xã hội; xây dựng bộ chỉ số an sinh xã hội làm cơ sở
theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện an sinh xã hội trong từng thời kỳ.
Thứ ba, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận
thức của các cấp, các ngành và người dân; phổ biến, giới thiệu các chính sách, chương
trình an sinh xã hội đang triển khai; tăng cường công tác thông tin, truyền thông về an
sinh xã hội, chú trọng đến người dân, nhất là các hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, vùng
dân tộc thiểu số, miền núi; đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động xã hội, như
“Ngày vì người nghèo”, “Tương thân tương ái”, “Xây dựng nhà tình nghĩa”...
Thứ tư, tiếp tục thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững, hoàn thiện hệ thống
văn bản pháp luật và cơ chế chính sách liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo.
Tăng cường giáo dục, tuyên truyền để người nghèo nâng cao nhận thức về hoàn cảnh
và có quyết tâm thoát nghèo. Thường xuyên xây dựng, triển khai thực hiện các dự án
và các chương trình hành động về công tác xóa đói, giảm nghèo. Các doanh nghiệp có
chính sách dạy nghề và tạo việc làm ổn định cho người nghèo. Có cơ chế, biện pháp
kiểm tra, giám sát bảo đảm mọi nguồn lực dành cho xóa đói, giảm nghèo được sử
dụng đúng mục đích.


20
KẾT LUẬN
Chính sách an sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản của
quốc gia. Đặc trưng rất cơ bản của chính sách an sinh xã hội là hướng vào phát triển
con người với những giá trị và chuẩn mực xã hội tiến bộ; mang tính xã hội, nhân văn
và nhân đạo sâu sắc; thể hiện trách nhiệm cao của Nhà nước, của cộng đồng xã hội
và của mọi công dân; đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội to lớn. An sinh xã hội dựa
trên nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm và công bằng xã hội, là một trong những chỉ báo
quan trọng của một xã hội phát triển. Xã hội càng phát triển, đời sống con người
càng phong phú, nhu cầu đáp ứng về an sinh xã hội càng đa dạng và tăng lên. Có thể
nói rằng, chính sách an sinh xã hội gắn liền với phát triển, là yếu tố của phát triển,
đầu tư cho chính sách an sinh xã hội cũng chính là đầu tư cho phát triển. Thực hiện

chính sách an sinh xã hội đúng đắn, hướng vào phát triển con người, vì hạnh phúc
của nhân dân là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong
công cuộc xây dựng đất nước.Thời gian qua, ở nước ta chính sách an sinh xã hội đã
được chú trọng thực hiện và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên cũng
đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Do đó, trong những năm tới
chính sách an sinh xã hội phải bảo đảm kết hợp giữa giải quyết những vấn đề xã hội
cơ bản và lâu dài với những vấn đề nóng bỏng, cấp bách trước mắt hướng vào phát
triển bền vững xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước
và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển xã hội, văn
hóa, nhất là vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo và
hòa nhập nhóm xã hội yếu thế; giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển
con người, phát huy tối đa yếu tố con người, nguồn nhân lực vào công cuộc xây
dựng đất nước. Để đạt được những mục tiêu đó, cần tập trung nỗ lực thực hiện đồng
bộ nhiều giải pháp với sự chung tay của toàn Đảng, toàn dân và sự giúp đỡ thiết
thực, có hiệu quả của cộng đồng quốc tế./.


21

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Xuân Dự (2012), ASXH: Mô hình nhà nước xã hội hay nhà nước phúc
lợi? Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
2. PGS, TS. Đinh Công TuấnViện Nghiên cứu châu Âu, Tác động của khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến hệ thống an sinh xã hội các
nước Bắc Âu, Tạp chí cộng sản
3. Báo Mới (2011), Điều chỉnh dự toán thu chi năm 2011 của Bảo hiểm xã hội
Việt Nam,
4. Đinh Công Tuấn (2011), Mô hình phát triển Bắc Âu, Nxb Từ điển Bách
khoa, Hà Nội
5. Linh Hương (2012), Kinh tế toàn cầu vẫn trong tình trạng tồi tệ,

6. TS Phạm Hiệp (2012)Chuyển đổi nhận thức về an sinh xã hội vì phát triển
bền vững đất nước trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, Tạp chí cộng sản
7. Nguyễn Đắc Hưng (2012)Thực hiện mục tiêu kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng
bền vững và bảo đảm an sinh xã hội, Tạp chí cộng sản
8. Nguyễn Hữu Dũng (2010)Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội đối với
nông dân nước ta hiện nay Tạp chí cộng sản
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 137
10.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 2011, tr.189, 191



×