Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

Nho giáo và ảnh hưởng của nho giáo đối với lối sống người dân TT huế trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (359.77 KB, 50 trang )

NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO
ĐỐI VỚI LỐI SỐNG NGƯỜI DÂN THỪA THIÊN - HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài .
Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội được hình thành từ thế kỷ
VI tcn trong xã hội Trung Hoa cổ đại. Suốt chiều dài hơn 2500 năm hình
thành và phát triển, nó đã ghi đậm dấu ấn cho nền văn hoá Trung Hoa, tạo nên
một nước “Phương Đông” đặc thù về văn hoá chính trị. Nho giáo là một hệ
thống tư tưởng của giai cấp phong kiến. Về mặt lịch sử thì nó đã được xếp
vào hạng “di sản”, nhưng do đặc thù của nó là tư tưởng thống trị trong đời
sống chính trị - xã hội của nhà nước phong kiến phương Đông một thời gian
dài, nên cho đến nay không dễ gì đã xoá bỏ nó một cách sạch trơn, triệt để.
Những tư tưởng của nó dù dưới hình thức hay hình thức khác vẫn tồn tại. Nho
giáo với tư cách là hệ thống tư tưởng của giai cấp phong kiến thống trị nó đã
tạo ra cho các nước “đồng văn” (kể cả “nước mẹ đẻ”) một hình thái xã hội
riêng biệt đặc sắc độc đáo như nước Nhật, Triều Tiên, Singapo, Đài Loan và
Việt Nam. Riêng Thừa Thiên - Huế, nơi có thành phố Huế, một thành phố
xinh đẹp nằm bên bờ sông Hương thì ảnh hưởng lại càng đậm nét. Huế một
thời là thủ phủ của các chúa Nguyễn, là kinh đô của chế độ quân chủ phong
kiến trung ương tập quyền thống nhất cuối cùng ở Việt Nam. Học thuyết
chính trị - xã hội Nho giáo đã được vương triều cát cứ họ Nguyễn và triều
đình nhà Nguyễn đưa lên vị trí độc tôn trong nền tảng tư tưởng của đời sống
tinh thần người Việt, cùng với những nét truyền thống văn hoá người Việt, nó
kết hợp với văn hoá bản điạ mà đã tạo nên một nét riêng đặc trưng trong lối
sống ở Thừa Thiên - Huế (TT-Huế).
Một học thuyết ra đời cách đây hơn 2500 năm, tất nhiên sẽ có nhiều hạn
chế về tư tưởng, nhưng những gì mà nó tồn tại cho đến hôm nay thì rõ ràng
không thể phủ nhận những mặt tích cực của Nho giáo. Trong xây dựng nền
văn hoá tiên tiến hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu “Nho giáo
và ảnh hưởng của Nho giáo đối với lối sống người dân TT-Huế trong giai


đoạn hiện nay” là việc làm cần thiết, có ý nghĩa.
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài .
Đề tài “Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo đối với lối sống người
dân TT-Huế trong giai đoạn hiện nay” là một luận văn tốt nghiệp cử nhân
chuyên nghành triết học. Hy vọng nó chỉ ra những gì mà dấu ấn của Nho giáo
để lại, và lý giải phần nào đó mà con người TT-Huế có những điểm khác biệt
với những nơi khác, qua đó chỉ ra những đóng góp và hạn chế của Nho giáo
trong đời sống của con người xứ này. Dù có rất nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về đề tài này hoặc tương tự ví dụ như: “Nho giáo tại Việt Nam”
của nhóm tác giả do GS. TS Lê Sĩ Thắng chủ biên, năm 1994; “Nho giáo và
văn hoá Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy, năm 1998; “Nho giáo và ảnh
hưởng của Nho giáo ở Việt Nam” khoá luận tốt nghiệp cử nhân nghành GD CT, ĐHSP Huế của Nguyễn Hà Giang, năm 2000, và rất nhiều các bài báo và


phóng sự khác... Nhưng ở đây tác giả chỉ muốn tiếp cận nó ở một khía cạnh cụ
thể hơn nhằm muốn tổng hợp đưa tới cho những ai quan tâm về Nho giáo và
văn hoá xứ Huế một số thông tin khái quát, để góp phần trang bị cho hành
trang tri thức của tác giả và của bạn ngày càng phong phú thêm. Đây là một
công trình đầu tay nên chắc chắn không tránh được những sai sót tác giả rất
mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn nhằm giúp tác giả nghiên
cứu nó ngày càng được hoàn thiện hơn.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .
- Khái lược lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo.
- Khái lược sự du nhập của Nho giáo và biểu hiện của nó trong đời sống
chính trị - xã hộiViệt Nam.
- Chỉ ra quá trình hình thành phát triển của Nho giáo ở Thừa Thiên - Huế
và những biểu hiện ảnh hưởng của nó trong lối sống người dân TT-Huế trong
giai đoạn hiện nay.
IV. Đối tượng nghiên cứu của đề tài .
- Tư tưởng tiêu biểu của Nho giáo trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam.

- Sự hiện diện của nó trong lối sống người dân Thừa Thiên - Huế ở giai
đoạn hiện nay.
V. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật và điều tra xã hội học mà cụ
thể là các phương pháp lịch sử - lôgích, phương pháp diễn dịch - quy nạp,
phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp thống kê toán học được
dùng mà hoàn thành công trình này.
VI. Kết cấu của đề tài.
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được chia làm
ba chương, 8 tiết:
Chương 1 - Những nét khái quát về Nho giáo của Trung Quốc.
1.1 Hoàn cảnh ra đời.
1.2 Các thời kỳ hình thành và phát triển.
1.2.1 Nho giáo thời kỳ Tiên Tần.
1.2.2 Nho giáo sau thời kỳ Tiên Tần.
1.2.2.1 Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán (202 TCN- 220SCN)
1.2.2.2 Nho giáo thời kỳ Nguỵ - Tấn và Nam Bắc triều (220 - 590).
1.2.2.3 Nho giáo thời kỳ Tuỳ - Đường (518 - 618 và 618 - 960).
1.2.2.4 Nho giáo thời kỳ Tống - Nguyên (960 - 1368).
1.2.2.5 Nho giáo thời kỳ Minh - Thanh (1368 - 1911).
1.2.2.6 Nho giáo thời kỳ cận và hiện đại từ 1911 đến nay.
Chương 2 Khái quát sự du nhập của Nho giáo vào xã hội Việt Nam.
2.1 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc
(207 TCN - 938 SCN).
2.2 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh gìn giữ độc lập dân tộc
và thời kỳ ổn định thịnh trị của xã hội phong kiến (938 - 1527).
2.3 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng của xã hội phong
kiến (1527 - 1802).



2.4 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ nhà Nguyễn (1802 - 1945).
2.5 Nho giáo ở Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay.
Chương 3. Nho giáo ở Thừa Thiên Huế.
3.1 Nho giáo ở TT-Huế trong các triều đại phong kiến của 9 đời Chúa và
13 đời vua (1600 - 1945).
3.2 Nho giáo biểu hiện trong đời sống thường ngày của người dân TTHuế.
3.2.1 “Trời”, “thiên mệnh” thường có mặt trong quan niệm của nhân dân
TT-Huế về đời người.
3.2.2 Quan niệm về địa vị xã hội của con người TT-Huế có ảnh hưởng
của Nho giáo.
3.2.3 Biểu hiện ảnh hưởng của Nho giáo trong quan hệ giao tiếp ứng xử
xã hội của người TT-Huế.
3.3 Đánh giá đóng góp và hạn chế của Nho giáo trong lối sống con người
TT-Huế hiện nay.
B . PHẦN NỘI DUNG
Chương 1.
NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO Ở TRUNG QUỐC
1.1. Hoàn cảnh xuất xứ
Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Trung
Quốc là một trong những trung tâm lớn, cổ xưa, rực rỡ và phong phú nhất của
nền văn minh ấy. Trong đó, tư tưởng triết học có một vị trí rất quan trọng của
nền văn hoá Trung Hoa cổ đại. Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội,
quá trình phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại, tất
yếu gắn liền với sự biến đổi của tồn tại xã hội mà nó phản ánh.
Trung Quốc là một nước thuộc miền Đông Á với diện tích rộng lớn
khoảng 9,5 triệu km2 , dân số hiện nay khoảng 1,2 tỷ người gồm 60 dân tộc,
trong đó dân tộc Hán chiếm đại đa số, chiếm gần 90% dân số Trung Quốc.
Theo lịch sử thì cho đến ngày nay người Trung Hoa đã trải qua gần 6000 năm.
Tuy vậy, theo tài liệu khảo cổ thì giai đoạn Tam Hoàng, Ngũ Đế là không
đáng tin cậy. Chứng cứ xác thực, khoa học nhất về lịch sử Trung Hoa là bắt

đầu từ thời nhà Hạ.
Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang
thời kỳ đồ sắt. Về chính trị xã hội, lúc này chế độ tông pháp của nhà Chu
không còn được tôn trọng, các mối quan hệ với các nước như hầu trở nên có
phần lỏng lẻo, thiên tử không uy quyền như trước với chư hầu nữa. Nước nhỏ
bị ăn hiếp, nước lớn tổ chức xâm chiếm thôn tính nước nhỏ nhằm mở mang
bờ cõi, nhằm giành địa vị bá chủ thiên hạ. Cương thường bị đảo lộn, đạo đức
suy đồi xảy ra. Bọn thống trị sống trong xa hoa cực lạc, xa xỉ bao nhiêu thì
nhân dân lao động bị đày đoạ, cùng cực bấy nhiêu, và điều đó là động lực cho
sự cáo chung của chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Hoa .
Các lĩnh vực khác trong thời kỳ này, Trung Quốc đã có nhiều cống hiến
cho nhân loại như Toán học, Y học, Văn học, Thiên văn học, Sử học. Các bộ
môn khoa học này được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn lâu dài của


nhân dân lao động. Những tri thức khoa học này đã góp phần thúc đẩy, phát
triển đời sống người dân Trung Hoa cổ đại. Hơn thế nữa nó là tiền đề cơ sở
cho thế giới quan triết học nảy nở và phát triển mạnh mẽ.
Cũng chính trong thời đại lịch sử có nhiều biến đổi mạnh mẽ này đã đặt
ra những vấn đề triết học, chính trị - xã hội, tâm lý, đạo đức, kinh tế, pháp
luật, quân sự, kích thích, gợi mở lòng trắc ẩn, khiến cho bậc tài trí đương thời
quan tâm lý giải cốt tìm ra phương pháp giải quyết “cứu người, cứu đời”.
Chính vì vậy mà làm nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các
trường phái triết học lớn. Các nhà tư tưởng của các học phái đó là người đại
diện cho lợi ích các giai cấp, tầng lớp khác nhau vừa kế thừa tư tưởng của
nhau vừa đấu tranh với nhau đã tạo nên một bầu không khí sôi động trong đời
sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại.
Tư Mã Thiên (146 - 86)TCN trong Luận Lục Gia Yếu Chỉ đã chia “Bách
gia chư tử ” thành 6 phái chính: Nho gia, Âm - Dương gia, Mặc gia, Pháp gia,
Danh gia, Đạo đức gia. Theo Ban Cố (32-92) tác giả của Hán Thư Nghệ văn

chí thì ở sách Thất Lược của Lưu Hâm (46 TCN) và Lưu Hướng (79- 8 TCN)
cho rằng chư tử trước đời Tần gồm 189 người, có thể xếp thành 10 nhà là: Nho
gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia, Tung Hoành gia,
Nông gia, Tạp gia, Tiểu thuyết gia... Trong đó có học thuyết Nho giáo là một
học thuyết chính trị - đạo đức nổi bật nó mang nhiều yếu tố tích cực và cũng
nhiều hạn chế song nó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lịch sử Trung
Quốc. Toàn bộ tư tưởng của học thuyết của Nho gia được trình bày một cách
rõ ràng trong bộ sách kinh điển vĩ đại là Tứ thư gồm Luận ngữ, Trung dung,
Đại học, Mạnh tử và Ngũ kinh gồm Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch,
Kinh Xuân Thu, về sau có vài tác phẩm luận bình chú giải về nó.
1.2. Khái lược về các giai đoạn hình thành và phát triển của Nho giáo.
1.2.1.Nho giáo thời kỳ Tiên Tần
Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho”, theo Hán
tự thì nó gồm chữ “nhân” đúng cạnh chữ “nhu”. Nho gia còn gọi là nhà nho,
người đã học thấu đạt sách thánh hiền, được thiên hạ cần để dạy người khác
ăn ở sao cho phù hợp luân thường đạo lý của người đời. Khổng Tử đã hệ
thống hoá tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết gọi là Nho giáo hay
Nho học. Đôi khi người ta cũng gắn tên gọi của nó với tên tuổi người sáng lập
ra nó, gọi là Khổng học. Nho gia gắn liền với các tác gia tiêu biểu là Khổng
Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử.
1.2.1.1. Khổng Tử: Tên gọi là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương
Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngay nay, ông sinh năm 551 TCN đời
Lỗ Tương Công năm 22, Chu Linh Vương năm 21 tại ấp Trâu, nước Lỗ. Đây
là thời kỳ mà xã hội Trung Hoa loạn lạc triền miên, các Vua chúa chuyên
quyền, đang tâm hưởng thụ hoặc chém giết lẫn nhau để xưng hùng xưng bá,
đạo lý nhân luân bị xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó phân biệt
đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Khổng tử sau này. Cha ông là
Thúc Ngột Lương làm quan võ của triều đình nước Lỗ, mẹ là Nhan Thị. Cha
ông mất khi ông 3 tuổi, gia cảnh từ đó bần hàn nhưng bà Nhan Thị vẫn quyết



tâm nuôi con ăn học.
Từ nhỏ Khổng Tử vẫn là một đứa bé siêng năng và ham học hỏi, thích
chơi trò cúng tế. Năm 33 tuổi, Khổng Tử đến nước Chu để khảo sát việc tế lễ
ở miếu đường, gặp lúc loạn lạc Khổng Tử bỏ qua nước Tề sau đó trở về nước
Lỗ dạy học và nghiên cứu sách. Năm 53 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ mời ra
làm Trung Đô Tể (quan coi ấp Trung Đô), lúc này tư tưởng chính trị của ông
được thi hành nhiều nơi. Chẳng bao lâu ông được phong Đại Tư Khấu rồi
Nhiếp Tướng Bộ coi việc hình án, ấn định luật lệ, phép tắc trong nước. Thời
gian làm quan, Khổng Tử đã đem lại cho nước Lỗ cảnh thanh bình, ban đêm
ngủ không đóng cửa, ban ngày ra đường không ai nhặt của rơi, luân thừơng
đạo lý được coi trọng.
Sau đó vua nước Lỗ say sưa trong cảnh thanh bình mà đam mê tửu sắc,
bỏ bê việc triều chính làm cho Khổng Tử chán nản, bỏ sang nước Vệ, nước
Vệ không trọng dụng, ông bỏ sang nước Trần rồi lại về nước Vệ. Từ nước
Vệ ông sang nước Tống lại qua nước Trần, rồi về nước Vệ. Sau 14 năm bôn
ba cùng học trò mong có người sử dụng học thuyết của mình, song ông đã thất
vọng. Trở lại nước Vệ sống khoảng 5-6 năm ông mới thấy bất lực việc làm
chính trị, nên trở về nước Lỗ dạy học và san định lại các kinh sách đời trước.
Ông mất vào năm 479 TCN ở quê nhà, vào đời Lỗ Ai Công năm 16, Chu Kính
Vương năm 41, thọ khoảng 72 tuổi.
Có thể nói cả cuộc đời ông là việc “học không biết chán, dạy không biết
mỏi” ( Luận ngữ, Thuật nhi). Với phương châm “thuật nhi bất tác” ông đã san
định lại các sách của người xưa để lại gồm Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ,
Kinh Nhạc, Kinh Thư, và viết thêm Kinh Xuân Thu để bộc lộ quan điểm của
mình. Ông nói người đời sau hiểu ông hay không chính là ở bộ Kinh Xuân
Thu đó (Mạnh Tử, Đằng văn công hạ). Nhiều quan điểm của ông cũng thể hiện
qua các cuộc đàm đạo mà nội dung của nó được ghi lại trong bộ Luận ngữ do
học trò của ông chép lại. Sau này cuộc “Phần thư Khanh Nho” của Tần Thuỷ
Hoàng mà sách của đạo Nho không còn là bao. Kinh Nhạc còn một thiên là

Nhạc ký sau đó gộp vào bộ Lễ ký, nên cuối cùng bộ tác phẩm này còn lại năm
kinh (ngũ kinh), đó là Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân
Thu.
Trong hệ thống triết học của mình, Khổng Tử chủ yếu đi sâu vào các vấn
đề chính trị - xã hội. Nhưng ở các tác phẩm của ông và sách vở do học trò ghi
lại thì cho thấy rằng ông cũng đã đề cập nhiều đến các vấn đề của triết học,
thể hiện quan điểm của ông trong các vấn đề về thế giới, về chính trị - xã hội,
về luân lý đạo đức và cuộc sống con người....
- Quan niệm về thế giới: Khổng giáo tin rằng trời là chủ lễ cả vũ trụ có ý
chí mạnh mẽ điều hoà thế gian. Nhưng Khổng Tử không quan niệm về trời
như các quan niệm của tôn giáo, tức trời có hình dáng, cảm tình như con
người. Theo ông, trời là cái lý vô hình, huyền diệu, một năng lực khi thi hành
thi không sao cưỡng lại được. Quỷ thần theo Khổng Tử đó là cái khí linh
thiêng của trời đất, không hiện hữu nhưng có tất cả trong muôn vật. Khổng tử
cho rằng trời, quỷ thần rất thông minh chính trực, không thiên tư, “trời có nói


gì đâu mà bốn mùa vẫn cứ vận hành, vạn vật vẫn cứ sinh hoá mãi” (Luận ngữ,
Dương hoá). Vạn vật, trời đất, quỷ thần, con người tất cả đều có quan hệ với
nhau sống trong một cái lý chung của trời. Con người trong vũ trụ không tách
rời cái quy luật chung đó. Nó được gọi là “đạo”, tất cả đều thu về một mối, “tất
cả mọi vật đều trôi đi như dòng nước chảy, không có vật nào ngưng
nghỉ”(Luận ngữ, Vệ Linh Công). Con người sống trong vũ trụ chịu theo đạo
trời đó là “thiên mệnh”. “Thiên mệnh” đó là sự định đoạt của trời đối với mỗi
một con người từ khi sinh thành đến khi chết đi, mọi sự kiện, biến động, trạng
thái... của con người đều do trời sắp sẵn, là cái tất nhiên sẽ đến trong cuộc đời.
Từ đó, Nho giáo khuyên con người nên sống theo mệnh trời, “sống chết có
mạng, giàu sang tại trời”(Luận ngữ, Nhan uyên). Còn người quân tử là kẻ cai
trị thiên hạ thì phải biết mệnh trời. Biết mệnh trời để phục tùng nó một cách
tuyệt đối, đó là phận sự của người quân tử và để thi hành cho đời cái đạo của

thánh nhân. Thi hành đường lối trị nước của Khổng Tử chính là thi hành đạo
của Chu Công, ông luôn coi Chu Công - một công thần của nhà Chu - là bậc
thánh mà đạo của Khổng Tử cũng chính là đạo của Chu Công. Tuy nhiên
trong hoàn cảnh xã hội loạn lạc, suy vi như vậy Khổng Tử khuyên mọi người
hãy tập trung giải quyết vấn đề trước mắt đó là lập lại kỷ cương trật tự xã hội
“quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (Luận ngữ, Nhan uyên). Có nghĩa rằng
vua phải xứng đáng là vua, thần phải xứng đáng là thần, cha phải xứng đáng là
cha, con phải xứng đáng là con. Còn việc đối với trời đất, quỷ thần thì ông tỏ
ra thờ ơ. ở đây một điểm đáng lưu ý là: vì ông xuất phát từ giai cấp quý tộc
trên đà suy yếu để đề xuất học thuyết của mình nên phải mượn “tấm áo
choàng thần bí” khoác lên, làm cho học thuyết của mình có sự tin cậy, có uy
tín cao hơn. Mặt khác, ông cũng thấy rõ rằng trời, quỷ thần không thực sự
tham gia vào đời sống thực tiễn. Chính sự không triệt để và mâu thuẫn này của
ông mà sau này Nho giáo chia thành hai khuynh hướng có quan điểm về thế
giới trái ngược nhau: khuynh hướng duy tâm của Mạnh Tử và khuynh hướng
duy vật của Tuân Tử. Ông nói “đối với quỷ thần thì kính nhi viễn chi”(Luận
ngữ, Ung giã), tức đối với quỷ thần thì cung kính mà tránh xa. Khi Quý Lộ học trò của ông - hỏi về đạo thờ quỷ thần, ông nói: “đạo thờ người còn chưa
thấu hiểu sao biết đạo thờ quỷ thần...Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự
chết” (Luận ngữ, Tiến tấn). Ông muốn mọi người đề cao năng lực của chính
mình và khuyên mọi người hãy nỗ lực, tận tâm làm việc, sau đó thành bại mới
nói đến mệnh trời.
- Quan niệm về chính trị - xã hội: có thể nói đóng góp nổi bật nhất trong
triết học của Khổng Tử là lý luận về chính trị - xã hội. Trên cơ sở về nhu cầu
xã hội của xã hội Trung Quốc cổ đại về việc chuyển giao giữa hai hình thái xã
hội mà ông trực tiếp chứng kiến, ông muốn xây dựng một học thuyết nhằm
giúp các bậc trị nước lập lại kỷ cương xã hội phù hợp với sự chuyển biến của
lịch sử. Để thực hiện được điều này theo Khổng Tử xã hội phải thi hành một
cách nhất quán những tư tưởng về “Nhân, Lễ, Chính danh”, đặc biệt phải thực
hành giáo dục đối với tất cả mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội. Vì theo
Khổng Tử thì chỉ có giáo dục và thông qua giáo dục con người trong xã hội



mới có “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng” và mới thi hành được “Chính danh”.
Nhân: được coi như là phạm trù trung tâm và cơ bản nhất của triết học
Khổng Tử. Nhân gồm chữ “nhân đứng” và chữ “nhị” ghép lại, theo Lệ thần
Trần Trọng Kim thì đó là sự kết hợp giữa cái đức chung của mọi người đều có
lại với nhau. “Nhân” không chỉ riêng một đức tính nào mà nó chỉ chung cho
mọi đức tính. Người có “nhân” là người hoàn thiện nhất có thể sánh với
“thánh nhân”, là thần, thánh. Suy cho cùng “nhân” tức là đạo làm người. Đạo
làm người nó thể hiện bằng tất cả mọi động thái của con người trong cuộc
sống xã hội của con người đối với bản thân và đối với người khác. Có thể hiểu
“nhân” một cách nôm na là thái độ cư xử với mình và với người.
Đối với mình, người có “nhân” “trước hết phải làm việc khó sau đó
hưởng thành quả mới gọi là nhân” (Luận ngữ, Ung giã). Người có “nhân”, cái
cao cả nhất là “đức nhân” của mình tức là vì nhân mà hại thân chứ không phải
vì thân mà hại nhân. Cũng vì “nhân” mà con người phải tự khép mình khuôn
theo lễ tiết của xã hội. Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về “nhân” ông đáp: “khắc kỷ
phục lễ vi nhân” (Luận ngữ, Nhan uyên), tự mình, răn mình, sửa mình, dạy
mình theo khuôn phép thì trở thành “nhân”. Khổng Tử nói với Tử Trương:
“người có đức nhân là người nghiêm trang tề chỉnh, rộng lượng, khoan dung,
đức tính, lòng thành, siêng năng, cần mẫn và biết thi ân bố đức”. (Luận ngữ,
Dương hoá).
Đối với người, người có “nhân” không chỉ đối với mình có “nhân” mà
đối với người cũng phải như vậy. Người “nhân” muốn tự lập lấy mình thì
trước hết phải lập cho người đã, muốn thành đạt thì cũng lo cho người thành
đạt, “người nhân ứng xử với mình thế nào thì đối với người cũng thế ấy”
(Luận ngữ, Ung giã). Người “nhân” không khi nào làm trái đạo, cái lẽ hành
động, thi hành đức nhân của Nho gia được thể hiện trên một lập trường kiên
định, trước sau như một. Nhân là yêu người như yêu mình “điều gì mà mình
không muốn thì đừng đem đến cho người” (Luận ngữ, Vệ Linh Công). Phạm

trù “nhân” của Khổng Tử vừa mang hàm ý cao siêu chỉ có thánh nhân mới đạt
được, vừa có ý bình thường mà ai cũng có được : “người như Nhan Hồi mà
“nhân” chỉ có thể giữ được ba tháng còn người khác chỉ có thể giữ được một
ngày thôi”(Luận ngữ, Ung giã). Ông cho rằng chỉ người quân tử mới có
“nhân” và cũng chính họ mới biết cách làm thế nào để những hành vi xử sự
của họ đúng với “nhân”, cũng như đánh giá hành vi của người khác về
“nhân”.
Phạm trù “nhân” của Khổng Tử nói tóm lại là biểu hiện của hai chữ
“Trung” và “Thứ”. “Trung” là thành tâm thành ý, là trung thành, là mẫn cán
luôn chung thuỷ một lòng. Người quân tử khốn cùng vẫn giữ đạo, kẻ tiểu nhân
khốn cùng thì làm càn. “Thứ” là tấm lòng thông cảm, hiểu biết chia sẻ, hoá
thân, đặt lòng mình vào lòng của người khác, đặt vị trí của mình vào vị trí của
họ. Chính vì thế mà “đạo” của Khổng Tử chỉ cần một chữ cũng đủ để bao quát
tất cả. Khổng Tử nói rằng : “đạo của ta chỉ có một mà quán thông hết thảy”
Tăng Tử đáp “dạ vâng, quả vậy”. Môn nhân khác bèn hỏi: “vậy có nghĩa là
gì”, Tăng Tử đáp: “đạo của thầy chỉ có “trung thứ ”vậy”. (Luận ngữ, Lý nhân).


Kẻ có nhân là kẻ có tình cảm chân thành, bao giờ cũng hết lòng vì nghĩa,
cho nên người đó bao giờ cũng hiếu đễ, lễ nghĩa, trung thứ. Khổng Tử nói : “
cương nghị mộc nột cận nhân ”(Luận ngữ, Tử lộ), nghĩa là cứng cáp mà lời nói
chất phác là gần với nhân vậy. Nhờ có “lòng nhân” nên mọi người mới coi
nhau như anh em, cả đoàn thể coi như một người. Như vậy, một người đau thì
nhiều người buồn. Bởi vì, mọi người như các bộ phận trên cơ thể con người
vậy, một bộ phận bị đau thì các bộ phận khác ảnh hưởng. Kẻ bất nhân thì
thường khôn khéo, trí thuật vì lợi ích mà lừa trên gạt dưới, dối trá, phản loạn,
không thực lòng. Khổng Tử nói: “xảo ngôn, lịnh sắc tiễn hĩ nhân”(Luận ngữ,
Học nhi), nghĩa là bề ngoài nét mặt không thuần chính, giả tạo, lời nói sắc sảo
thì ít nhân.
Như đã nói trên “nhân” là một phạm trù đóng vai trò trung tâm của

Khổng giáo. Nhờ có nhân mà con người sống với nhau trong xã hội có bầu
không khí chan hoà thân ái, “người” hơn, có cuộc sống thái bình, thịnh trị.
Người quân tử, đặc biệt là vua nắm chính sự, cai trị muôn dân mà không có
“nhân” thì xã hội sẽ bị loạn. Bởi vì, đức “nhân” là cứu cánh của họ, người có
“nhân” thì “như sao Bắc Đẩu, mọi ngôi sao khác phải hướng về”(Luận ngữ, Vi
chính), không dùng đức “nhân” mà trị thì xã hội rối loạn. Ông chủ trương
dùng đường lối “Nhân trị” để thi hành “đạo” của mình nhằm ổn định chính trị
xây dựng quốc gia thái bình.
Lễ. Con người thể hiện “đức nhân” của mình thông qua các hành vi ngôn
ngữ, thái độ... gọi là “lễ”. Chữ “lễ” trước hết dùng để chỉ cách thờ thần tức là
cúng tế, hành lễ. Sau nữa là dùng chỉ những qui chế, phong tục tập quán được
xã hội thừa nhận. Cuối cùng là để chỉ những qui ước bắt buộc của vua chúa
đối với thần dân thuộc quyền cai quản của họ. “Lễ” là hành vi biểu hiện ra bên
ngoài của con người khi thực hiện “nhân”, rõ ràng trong trường hợp này “lễ”
là hình thức, sự biểu hiện bên ngoài của “nhân”. Còn “nhân” là cái bên trong
được thi hành biểu hiện ra ngoài bằng cách thông qua “lễ”. Như vậy, “nhân”
là nội dung, “lễ” là hình thức.
Thi hành “lễ theo Khổng tử đó là giữ hoà khí cho xã hội, nghĩa là nhờ
“lễ” mà xã hội duy trì thịnh trị, thái bình, hoà thuận trung dung, ông viết: “tác
dụng của lễ là lấy hoà làm quí ”. Khổng tử chủ trương với con người ai ai cũng
phải thực hành “lễ”. Từ khi chào đời cho đến khi nhắm mắt ngay cả khi ngồi
một mình cũng phải thực hành “lễ”. Ông cho rằng việc thực hành “lễ” rất quan
trọng, cần thiết và nhất là phải thành tâm. Theo Lệ Thần Trần Trọng Kim thì
“lễ” của Nho giáo thực thi nhằm 4 mục đích:
Thứ nhất, mục đích của nó là rèn luyện con người, tu tâm, dưỡng tính tạo
cho con người có điều kiện phát dương “đức nhân”. “Lễ” theo mục đích này là
chú trọng đến đạo đức tạo cho con người một trạng thái tình cảm nhân ái,
trong sáng, thành tâm, thanh cao. Ví như khi tế lễ tổ tiên, ba ngày trước đó để
ý chăm chăm vào việc tế lễ, đến ngày tế lễ thì coi như thật là trông thấy cha
ông, tổ tiên, thành ra cái tình cảm nó trào dâng mạnh mẽ. Ông cho rằng: “tế

không phải là cái vật ở bên ngoài đến, mà nó ở trong bụng, tâm ta tự sinh
ra”(Lễ kí, Tế thống).


Khổng giáo dùng “lễ” là cốt tạo ra một trạng thái tâm lí, lễ nghĩa, nghiêm
trang khiến cho con người tự tạo ra một tập quán đạo đức tốt đẹp toàn điều
hay lẽ phải. Như ở chổ mồ mả cha dạy lòng thương mà có lòng thương, ở chổ
xã tắc, tông miếu cha dạy thành kính mà đã có lòng thành kính.
Thứ hai, mục đích của “lễ” là giữ đúng những tình cảm cho thích hợp với
đạo trung. “Lễ” được thực thi nhằm nắn đường, chỉ lối cho con người thực
hiện “đạo nhân” trong một chừng mực, qui củ, tránh tự do, thái quá. Vì nếu tự
do mà hành động thì mắc phải sai lầm, chệch lối. Quá cũng không được, thiếu
cũng không nên, đó chính là phù hợp với đạo trung. Nhan Uyên là bậc thấu
đạt “đạo nhân” hơn cả. Khổng tử bảo rằng: “sắc gì không phải lễ thì đừng
nhìn, điều gì không phải lễ thì đừng nghe, lời gì không phải lễ thì đừng nói,
việc gì không phải lễ thì đừng làm “(Luận ngữ, Nhan uyên). Đó là cách giữ
cho hành vi của con người có một chừng mực nhất định, lấy “lễ” làm tiêu
chuẩn cho mọi hành vi.
Hai mục đích này có mối quan hệ với nhau mật thiết. Đạo Khổng thi
hành “lễ” không những để cho con người có một hành vi đạo đức tốt đẹp,
nhân đạo mà còn khiến cho những hành vi đó được thực thi sao cho đúng,
ngay thẳng, không thiên lệch. Đây là điều trọng yếu trong Nho giáo, bởi nó
không chỉ cần con người có tâm tính tốt, nhân ái, mà còn đòi hỏi con người
phải xử sự, hành động một cách công minh, phù hợp, không thiên vị.
Thứ ba, mục đích của “lễ” là phân định phải trái, trật tự, phân minh. Nhờ
vậy mà định danh phận, địa vị của con người trong xã hội được rõ ràng. ở
trong xã hội có vua tôi, cha con, vợ chồng, có kẻ thân người sơ, có việc trái
việc phải cho nên cần có “lễ” để phân biệt cho rõ mọi lẽ, khiến cho mọi người
trong xã hội hành động đúng, hợp với “lễ”. Nhờ có “lễ”mà xã hội có trật tự,
nhờ vậy mà mọi vật đều được phân định rõ ràng, “nếu không có lễ thì làm thế

nào mà biết cách thờ trời đất, quỉ thần cho phải, lấy gì mà phân biệt đạo vua
tôi cho phải”(Lễ ký). Lễ cũng là phép tắc để tổ chức thi hành đạo đức, luân
thường trong gia đình, kỷ cương, luật lệ trong xã hội.
Thứ tư, mục đích của “lễ” là để tiết chế, kìm hãm cái tư dục, trái đạo của
con người. Theo Khổng tử, con người là thụ khí tính của trời, của tự nhiên do
tiếp xúc với đời mà sinh ra động, vì động mà sinh ra tình, vì do có tình là cái
tư riêng cho nên phải có “lễ” để tiết chế kìm hãm tình lại, nếu không tình sẽ
làm cho “thiên tính” mất đi. Khổng giáo vốn trọng tình cảm, nhưng vẫn biết
tình cảm của con người mà không có lí trí thì sẽ bị hư hỏng, sai lầm. Cái tư
tình của con người thường ở dạng tiềm ẩn không thể nào mà diệt trừ nó được
nên “lễ” chính là “rào cản” ngăn nó lại, không cho nó tự ý vươn vượt ra ngoài.
Giáo hoá của “lễ” có tác dụng ngăn chặn thói hư, tật xấu nhằm hướng con
người dần tiến đến điều thiện, “người giàu biết lễ thì không dâm tà, kiêu căng;
người nghèo mà biết lễ thì không làm bậy, nản chí; người làm vua làm chúa
biết lễ thì mới trị được nước, mới yên được dân” (Lễ ký, Kinh giãi).
Tóm lại, “lễ” có một tác dụng rất to lớn, nó bao trùm tất cả mọi hành vi
của con người trong xã hội. Bậc thánh nhân sử dụng “lễ” mà cai trị thì ân trạch
đưa đến cho muôn dân, xã tắc yên bình thịnh trị. Khổng Tử rất chú trọng “lễ”,


không chỉ cần cho thiên hạ mà còn rất cần cho cả bản thân mình “khắc kỉ
phục lễ vi nhân”, tự sửa mình theo lễ là nhân. Ngay cả chính bản thân ông là
một tấm gương sáng về thực hành “lễ”. Sách Luận ngữ, ở thiên Hương Đảng
có ghi rằng “khi vua lâm triều thì ông cung kính có vẻ không yên tâm, mà
không mất đi vẻ uy nghi. Khi vô cửa lớn của triều đình ông lom khom như cửa
quá thấp, khi đi ngang qua ngai vàng của vua (dù không có vua) ông cũng biến
sắc, chân bước run run, nói như chẳng ra lời ”. Không phải ông quá sợ sệt hay
mất tự tin mà như vậy, điều mà ông muốn thể hiện ra đây đó là “lễ”. “Lễ”của
chế độ nhà Chu mà Chu Công Đán là người được Khổng tử coi là bậc thánh
nhân truyền lại, và ông sẽ là người khôi phục. Và điều mà ông muốn nói ở đây

nữa là phải tôn trọng “danh”, thực ra ông chỉ tôn cái địa vị mà ông vua kia
ngồi thôi, là cái ngôi vua ấy còn con người làm vua đấy thì chắc gì.
Chính danh: từ việc dùng “lễ” để thực hành “đức nhân” ông chủ trương
học thuyết “chính danh”. “Chính danh” thực ra là bước cụ thể hoá “lễ” được
áp dụng vào tư tưởng chính trị. “Chính danh” được coi như là một phát kiến
mới của ông. Xuất phát từ sự biến đổi trật tự của xã hội Trung Hoa cổ đại
“vương đạo suy vi, bá đạo lấn át” vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha
không ra cha, con không ra con..., giới cầm quyền sa đoạ, chính sự rối ren, qui
tắc lề lối, bị phá vỡ ông chủ trương lập lại trật tự xã hội bằng việc thực hiện
“chính danh”. “Chính danh” là đưa lại công dụng cho con người, sự vật mà
công dụng đó đã được định trước phù hợp với tên gọi mà họ đã đặt nên, người
ta gọi nôm na là “danh” với “thực” hợp với nhau tức là “danh chính”. Khổng
Tử chủ trương học thuyết “chính danh” vào việc thi hành chính sự. Ông đề ra:
“chính sự là làm cho mọi việc ngay thẳng, công minh, nếu ngài (Quý Khương
Tử, người đoạt ngôi vua nước Lỗ ) đi đầu trong dân chúng về việc này thì ai
dám ăn ở hai lòng, hai dạ” (Luận ngữ, Nhan uyên). Theo ông mỗi người, mỗi
vật trong xã hội đều có một công dụng nhất định, nằm trong mối quan hệ xác
định mỗi vật, mỗi người đều có địa vị bổn phận và tương ứng với nó là một
“danh” nhất định. Mỗi “danh” đều có tiêu chuẩn riêng. Người nào, vật nào
mang “danh” nào phải thực hiện và thực hiện bằng được những tiêu chuẩn của
“danh” đó gọi là “chính danh”, nếu không thì phải gọi bằng “danh khác”. Phân
“danh”, định phận xong rồi thì xã hội mới trị, Khổng Tử nói rằng: “nếu danh
bất chính thì lời nói không đúng; lời nói không đúng thì dẫn tới việc làm sai;
nếu việc làm sai thì lễ nhạc không thành; lễ nhạc không thành thì chế độ
không được lập; chế độ không được lập thì hình phạt không đúng; hình phạt
không đúng thì dân biết làm sao cho phải, cho nên người quân tử đã dùng cái
danh ắt phải nói ra được, điều gì đã nói ra được ắt phải làm được”(Luận ngữ,
Tử lộ). Chính vì điều này mà những kẻ quân tử, nhà cai trị phải nắm chắc
“chính danh” và luôn thực hiện “chính danh” để chính trị được thịnh vượng.
Nếu không thì “dân không có chỗ cậy trông, nhờ vã; không cậy trông, nhờ vã

được thì dân mất lòng tin; mất lòng tin thì không phục tùng tất xã tắc khó mà
tránh khỏi suy sụp”(Luận ngữ, Nhan uyên). Người trên phải giữ mình cho
ngay chính và làm việc gì cũng phải giữ cái danh cho ngay chính. Một hôm Tử
Lộ hỏi thầy, nếu vua Vệ giao chính sự cho thầy thì thầy phải làm việc gì


trước?. Khổng Tử trả lời: “ắt phải chính danh trước”(Luận ngữ, Tử lộ). Một
điều nữa, đó là chính danh của người trên sẽ làm cho người dưới nhìn nhận mà
làm theo, “mình ngay chính thì không sai khiến người ta cũng làm theo, mình
không ngay chính thì tuy có sai khiến cũng không có ai theo” (Luận ngữ, Tử
lộ).
Khổng Tử đã áp dụng “chính danh” trong hành động của ông một cách
nhất quán. Trong Kinh Xuân Thu đã thể hiện điều này rất rõ ràng. Ông thận
trọng trong việc dùng từ ngữ, chữ nghĩa để phân biệt đúng đắn các hiện tượng
xã hội. Cái chết của thiên tử trong Kinh Xuân Thu được ông gọi là “băng”, cái
chết của vua như hầu được gọi là “hoăng”, cái chết của vua tiếm ngôi gọi là
“tồ”, cái chết của quan chính trực, liêm khiết gọi là tốt, cái chết của kẻ nịnh
thần gọi “tử”. Trong lễ nghi nhà Chu được Chu Công truyền lại quy định:
“thiên Tử dùng vũ “bát dật” gồm có tám hàng, mỗi hàng có tám người múa
hát; như hầu dùng vũ “lục dật” gồm có sáu hàng, mỗi hàng có sáu người múa
hát; quan đại phu thì dùng vũ “tứ dật” gồm bốn hàng, mỗi hàng có bốn người
múa hát. Quan đại phu nước Lỗ là Quý Hoàn Tử theo lễ thì chỉ được dùng vũ
“tứ dật”, nhưng ông ta lại dùng lễ vũ “bát dật” tức tự cho mình ngang hàng với
thiên tử, trên cả vua nước Lỗ. Khổng tử cho rằng Quý Hoàn Tử đã “tiếm lễ”,
khi quân phạm thượng trái với nguyên tắc ”chính danh” mà ông đã đặt ra,
việc nhẫn tâm này mà làm được thì không có việc nhẫn tâm nào mà không
dám làm. Ông cũng nói rằng “chính danh” là làm tròn bổn phận của bản thân
mình với công việc của mình “bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính”, là không ở
chức vị nào thì không được mưu tính công việc của chức vị đó. Thiên hạ, xã
tắc sẽ loạn nếu thứ dân bàn đến chính trị. Đại phu nắm chính quyền mà dân lại

đi bàn việc nước rõ ràng trái với quy tắc “chính danh”. Danh đã chính, thì
việc nào cũng có công dụng riêng của nó những điều tà thuyết không thể làm
lu mờ được nó. Mọi người, mọi vật đều có địa vị chính đáng của mình trên
dưới phân minh, cao sang thấp hèn đã rõ, ai có phận nấy. Nếu người kém cỏi
đứng ở địa vị cao theo Không Tử đó là “ăn cắp” địa vị, phải nhường lại cho
người giỏi hơn. Giữ trật tự cho phân minh rõ ràng danh phận đúng đắn,
nghiêm minh đó là đều căn bản của “chính danh” mà Khổng Tử mong muốn
thi hành.
- Quan điểm về giáo dục, để xã hội thực hiện ‘chính danh” thật tốt, trước
hết phải có một nền giáo dục thật tốt, mỗi người phải được giáo dục và tự giáo
dục, chính nhờ giáo dục mà mỗi con người nhận thức được vị trí, thân thế của
mình mà hành động cho đúng “lễ”. Lý luận về giáo dục của Khổng Tử là lý
luận quan trọng trong hệ thống triết học của ông. Tư tưởng của nó, đã vượt
qua những hạn chế mà lịch sử mắc phải như tư tưởng về giai cấp, hạn chế về
nhận thức, ông chủ trương “hữu giáo vô loài”. Mục đích tối cao nhất trong
quan điểm giáo dục của Khổng Tử là dạy làm người, dạy cho con người trở
nên nhân nghĩa, trung chính để trở thành người quân tử. Ông đề cao giáo dục
coi đó là một phương tiện để bậc quân tử đạt được điều “nhân”, trong phạm
trù “nhân” này có nhiều nội dung, đầu tiên và quan trọng đó là “trí”.
Theo Khổng Tử người có “nhân” là người có “trí”. Nhưng ông nói rằng


“trí” là không phải do tự nhiên mà có, nó phải trãi qua quá trình học tập, tu
dưỡng, đây phải là quá trình bền bỉ lâu dài. Khổng Tử cho rằng : “trí là biết
người, là dùng người trực, bỏ kẻ gian, như vậy có thể giáo hoá kẻ gian thành
người trực” (Luận ngữ, Nhan uyên). “Trí” là sự minh mẫn, trí tuệ dùng để
phán xét, đánh giá, xử sự tình huống cho phải đạo, Khổng Tử nói: “hãy để bị
lừa gạt bởi những điều có lý chứ đừng bị mê hoặc bởi những điều đần độn”
(Luận ngữ, Ung giã). “Trí” là một thuộc tính của “nhân”, không thể có “nhân”
mà không có “trí” , “trí” là một quá trình học hỏi trong cuộc sống, “học tức đi

gần đến với trí” (Trung dung) nếu không học thì dù có thiện tâm đến đâu cũng
bị cái ngu muội, phóng đãng, lầm lạc, phản loạn làm biến chất.
Mục đích cao nhất của việc học theo Khổng Tử là để nhậm chức triều
đình, tham gia gánh vác công việc của quốc gia, để biết kỷ cương xã hội mà
tuân theo “trong lúc xã hội rối ren không ra làm quan không phải là người trí,
không ra giúp đời không phải là người nhân” (Luận ngữ, Dương hoá). Sự học
của con người là làm sáng cái đức sáng của thánh nhân, học để hành theo cái
đức sáng đó. Học đức sáng của người xưa ban ân trạch cho muôn dân là mong
muốn thực sự của kẻ sĩ nho học. Vì vậy, Khổng Tử nói: “người xưa vì mình
mà học, người nay vì người mà học” (Luận ngữ, Hiến vấn). “Học để làm quan
nên chỉ cần học đủ lễ, nghĩa, tín thì dân bốn phương đem con đến phục vụ
mình cần chi phải học nghề cày cấy” (Luận ngữ, Tử lộ). Ông cho các nghề
khác là nghề của kẻ bậc dưới, người có đức nhân chỉ cần tu tâm dưỡng tính
của bậc thánh nhân thì thiên hạ đổ về mà phục tùng như sao Bắc Đẩu toả sáng
để các ngôi sao khác hướng về vậy.
Giáo trình dạy học cơ bản của Khổng Tử dùng để khai sáng là Kinh Thư,
Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu. Là một nhà giáo dục lớn ông
chủ trương dạy cho tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo,
chủng tộc. Nhưng mặt khác ông lại chủ trương “đối với dân việc gì cần thiết
thì sai khiến chứ không nên giảng giải vì họ không có khả năng hiểu ý nghĩa
của việc mình làm”(Luận ngữ, Thái bá). Giải thích cho ý kiến có vẻ mâu thuẫn
trên, chúng ta làm quen với quan điểm “tính tập luận” của ông, con người sinh
ra vốn giống nhau nhưng do tập nhiễm mà khác nhau, mục đích của việc giáo
dục là tác động vào con người để cải tạo, giáo hoá trở thành con người tốt
hơn, tuy con người sinh ra nhân cách bẩn sinh là giống nhau nhưng do hoàn
cảnh, địa lý, môi trường, điều kiện sống và phong tục mà dần đem lại sự phát
triển khác nhau. Ông vua học để làm ông vua sáng, thứ dân học để biết tiếp
nhận sự cai trị.
Trong quá trình giáo dục ông khuyên học trò nên tự tin ở chính bản thân
mình, “không oán trời , không trách người, về đạo lý thì khởi học từ thấp đến

cao” (Luận ngữ, Hiến vấn), và điều quan trọng là phải biết nghe nhiều, học
nhiều, biết được điều hay, để học thấy được điều dở để tránh. Ông trình bày
một phương pháp học tập tiến bộ, đó là xoá bỏ tính thụ động của người học,
phát huy năng lực tư duy sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức. Ông nói:
“kẻ nào không cố công tìm kiếm thì ta chẳng chỉ vẽ, kẻ nào không bộc lộ được
tư tưởng của mình ta chẳng khai sáng cho, kẻ nào học một mà không biết hai


thì ta chẳng dạy nữa” (Luận ngữ, Thuật nhi). Ông quả là một nhà giáo dục vĩ
đại, phương pháp dạy học của ông cách đây 2500 năm cho đến bây giờ người
ta vẫn còn áp dụng. Trong các trường đại học trên thế giới hiện nay, các giáo
sư, thầy giáo chỉ là người hướng dẫn còn chính sinh viên là người tự đi tìm lời
giải đáp cho mình bằng các hướng dẫn của thầy giáo. Ông bắt học trò phải suy
nghĩ nghiền ngẫm, “học mà không suy nghĩ thì không thấu tình đạt lý, không
hiểu rõ ràng, suy nghĩ mà không học thì bế tắc, mờ tối dẫn đến chuyên quyền,
độc đoán bảo thủ. Ông khuyên học trò phải: “tự hỏi mình rằng ta phải làm
sao?, phải làm bằng cách nào?, có như vậy mới học thành tài được” (Luận
ngữ, Vệ Linh Công).
Về bản thân mình, trong giáo dục ông rất coi trọng nguyên tắc làm
gương. Điều đó được phản ánh trong các buổi đàm đạo về chính sự với quan
lại triều đình và những lời khuyên dành cho học trò. Chính bản thân ông luôn
luôn tự mình “khắc kỷ phục lễ vi nhân” trọn cuộc đời. Ngoài ra ông cũng coi
trọng “thuyết giáo tuỳ nghi”, tức xem qua ngôn ngữ và hành vi của học trò mà
truyền cho nội dung giáo dục phù hợp.
Tất cả những gì mà Khổng Tử đã cống hiến cho giáo dục của nhân loại
là hoàn toàn xứng đáng để ông trở thành một nhà giáo dục lớn, xứng đáng để
người đời sau tôn vinh ông là “vạn thế sư biểu”, người thầy của muôn đời.
Song quan điểm giáo dục của Khổng Tử mới chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp,
lễ nghi chứ không hẳn là để mở mang dân trí nói chung.
Theo Khổng Tử người có “nhân” có “trí” khi hành động phải có “dũng”.

“Dũng” đó là lòng can đảm, là sức mạnh để làm chủ tình thế của con người.
Ông nói: “người trí chẳng bị mê hoặc, người nhân chẳng buồn rầu người dũng
chẳng sợ sệt” (Luận ngữ, Tư hãn). Với Khổng Tử không bao giờ có việc tách
rời, phân chia giữa “nhân - trí - dũng”. Khổng Tử cha bao giờ giảng giải cho
học trò bốn việc: “quái dị”, “dũng lực”, “phản loạn”, “quỷ thần”. Vì bàn về
quái dị khiến người ta bỏ lẽ thông thường; bàn về dũng lực khiến người ta gây
gỗ; bàn về phải loạn khiến người ta sinh tâm nghịch tặc; bàn đến quỷ thần
khiến người ta u mê ám muội. Tuy vậy, ai đủ “nhân, trí, dũng” thì tất nhiên họ
đã thấu đạt lẽ phải trái nên không lo họ sai lầm, họ đã đủ “chín” để phân biệt
lẽ công bằng, “nếu thấy việc nghĩa mà không làm thì người đó thiếu dũng khí”
(Luận ngữ, Vi chính).
- Về đạo đức, trong giáo dục do nhìn thấy sức mạnh của đạo đức mà ông
đề xuất đường lối chính trị “đức trị”. Đạo đức và pháp luật đều là những
nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người với con người, giữa
cá nhân và xã hội. Tuy vậy, giữa pháp luật và đạo đức không hoàn toàn đồng
nhất, pháp luật là những yêu cầu tối thiểu còn đạo đức là những yêu cầu tối đa;
pháp luật từ bên ngoài bắt buộc phải làm, đạo đức từ bên trong, thực hiện tự
giác. Hình phạt sẽ được đưa ra đối với những hành vi phạm pháp căn cứ vào
hậu quả đã xảy ra, chứ không thể trừng trị sự vi phạm đang còn nằm trong ý
đồ của kẻ phạm tội. Đạo đức thì khác, ý thức đạo đức sẽ “trừng trị” mình ngay
khi mình nghĩ đến hành động gây ra hậu quả sai trái nào đó. Chính vì vậy, khi
vai trò của đạo đức được đề cao đến một mức độ nhất định và sự tự ý thức bị


trừng phạt bên trong cao hơn sự tự ý thức trừng phạt bên ngoài thì sự thi hành
pháp luật trở nên thừa. Điều này có thực hiện được hay không phụ thuộc rất
nhiều vào ý thức đạo đức của mỗi thanh viên trong xã hội, vào sự tiếp nhận sự
giáo dục và tự giáo dục của mỗi thành viên đó. Trong cuộc đời của mình
Khổng Tử đã cố gắng sử dụng vai trò của giáo dục để hình thành ý thức, đạo
đức cho mọi người, để đề cao vai trò giáo dục và tự giáo dục cho mọi người.

Với chính trị, đạo đức luôn thống nhất với chính trị. Không có quy phạm đạo
đức nào mà luôn phù hợp với các chế độ chính trị khác nhau, tức là tương ứng
với một chế độ chính trị thì có một qui phạm đạo đức.
Vì lẽ đó, trong giáo dục ông luôn chú trọng đến đạo đức, đó là việc hiếu
học, ham mê dốc lòng tin vào học, phải có chí quyết tâm thực hành, thực hiện
để tạo một phương châm tu dưỡng, rèn luyện con người nhằm đạt đến một ý
thức đạo đức nhất định. Với đạo đức như vậy, con người trong xã hội của
Khổng Tử thực hiện đạo của mình đó là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ”.
1.2.1.2. Mạnh Tử (372 - 289 TCN).
Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư người gốc nước Trâu thuộc miền
nam, tỉnh Sơn Đông ngày nay. Ông sinh vào đời Chu Liệt vương thứ 4 và mất
vào đời vua Chu Noãn Vương thứ 26. Cha ông là Khích Công Nghi mất khi
ông lên ba tuổi thuộc dòng họ Mạnh Tôn, quý tộc ở nước Lỗ. Mẹ là của ông là
Cừu Thị, nuôi dưỡng giáo dục con cái với lễ nghĩa rất chặt chẽ. Trong sử Liệt
Nữ có chép rằng nhà ông ở gần nghĩa địa, lúc ấy Mạnh Tử còn nhỏ hàng ngày
thường vào nghĩa địa chơi, thấy người ta chôn cất người chết rồi khóc lóc, ông
cũng rủ chúng bạn cùng chơi trò đám tang. Mẹ ông cho rằng: “chỗ này chẳng
tiện cho con ta ở” bà bèn dời nhà đến gần chợ. Con bà lại bày trò chơi rao
hàng, bưng bánh, bán thịt. Bà lại tự nhũ: “chổ này chẳng tiện cho con ta ở ”,
bà dọn nhà đến gần trường học. Con bà mới bày trò chơi học theo lễ nhạc, Bà
nghĩ chỗ này mới đáng cho con ta ở vậy. Sử củ gọi là tích “Mạnh mẫu tam
thiên”. Sử ký của tư Mã Thiên chép rằng, khi lớn lên Mạnh Tử theo học thầy
là Tử Tư (cháu đích tôn của Khổng Tử). Hiểu rõ đạo lý của Khổng tử, lại có tài
biện thuyết nên đã trở thành một trong ba đại Nho của thời cổ đại. Với những
đóng góp của ông, người đời sau phong làm á Thánh. Để phát huy và bảo vệ
những tư tưởng của Khổng Tử, mong muốn dùng thuyết của mình để cứu đời,
Mạnh Tử đã đi khắp các nước chư hầu để truyền bá tư tưởng, chủ trương của
mình. Nhưng thủa đó các vị vua thường chỉ lo việc chiến tranh, cướp đất để
tồn tại nên không ai chú trọng đến nhân nghĩa do đó đạo của ông không được

thi hành. Sau khi về nhà ông mở trường dạy học và cùng các học trò chép lại
những lời ông đã bàn luận đối đáp với các vị chư hầu, tập hợp lại mà làm ra
bảy thiên sách Mạnh Tử. Sau này đến đời Tống, Chu Hy xếp nó vào những
sách kinh điển của Nho giáo gọi là Tứ Thư.
Thời kỳ lịch sử mà ông đang sống có thể gọi là thời kỳ bế tắc của xã hội
Trung Hoa về mặt chính trị. Các bậc trí giã nỗ lực tìm kiếm những giải pháp
hữu hiệu nhằm cai trị xã hội thái bình nhưng chưa giải quyết được. Có thể coi
thời kỳ này là thời kỳ của “Bách gia chư tử”, trăm hoa đua nở, trăm nhà lên


tiếng, nổi bật lên trong đó có các trường phái như Mặc gia của Mặc Địch, Đạo
Lão Trang của Trang Tử, Dương Chu, Pháp gia của Thận Đáo, Thương Ưởng,
ngoài ra còn có Tung Hoành gia theo nghiệp du thuyết ngoại giao, Âm Dương gia thiên về thiên văn, tướng số. Tư tưởng của mỗi nhà chẳng hề giống
nhau, nhưng mỗi nhà đều có sự tự do về suy nghĩ và biểu đạt tư tưởng của
mình.
Trong quá trình chống lại các trường phái triết học khác thời Chiến
Quốc, nhằm kế thừa và phát triển hơn nữa tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử
đã dựng lên một hệ thống triết học duy tâm chủ nghĩa của nhà nho trên nền
tảng của những tư tưởng như “thiên mệnh”, “sinh nhi chi tri” chính tâm thành
ý của Khổng Tử và các học phái kế tục học thuyết của Khổng Tử như Tử Tư,
Tăng Sâm,... Mạnh Tử đã phát triển thế giới quan duy tâm trong triết học của
Khổng Tử lên đỉnh cao.
- Quan điểm về thế giới: Mạnh tử cho rằng trời là một đấng anh minh, tối
cao, sáng tạo và chi phối vạn vật trong vũ trụ. Mọi sự vật, hiện tượng của thế
giới, từ sự biến hoá của thế giới tự nhiên đến sự biến đổi của đời sống xã hội;
từ sự thay thế của các triều đại này bằng các triều đại khác trong lịch sử, đến
chức tước của bọn quí tộc và địa vị của người thường dân cũng đều bị chi phối
bởi ý chí và quyền uy của trời. Trời có thể ban thưởng chức tước bổng lộc cho
người hiền đức và trừng phạt những kẻ tàn ác. Rõ ràng với Mạnh Tử, ông trời
được thể hiện như là một con người quyền uy vô song, đây là một đấng chí tôn

theo quan niệm của tôn giáo, dù không thể hiện ra bên ngoài nhưng ông trời
đứng đằng sau chi phối tất cả. Với quan niệm duy tâm chủ nghĩa thần bí, ông
cho rằng bản tính con người cũng do trời phú. Từ ý chí, tâm tính con người
đến các quy tắc, đạo đức luân lý của đời sống xã hội, không đâu là không do
trời định sẵn. Do vậy mà ông khuyên nhủ con người luôn luôn phục tùng
mệnh trời một cách tuyệt đối, không cưỡng lại, không trái mệnh trời, an bài
đón nhận mệnh trời một cách tự nguyện, vô điều kiện: “không có việc gì xảy
ra là không do mệnh trời, người ta phải thuận theo mà nhận lấy cái số mệnh
chính đáng ấy” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng).
Mạnh Tử cho rằng vạn vật, vũ trụ đều tồn tại trong ý chí của con người,
con người hết lòng hết dạ thì biết được bản tính của mình, biết được bản tính
của mình là biết được tính trời. Nghĩa là phải hết lòng hết dạ mà cung phụng,
phục vụ cái bổn phận, nghĩa vụ làm người. Đem hết tâm trí mình mà suy xét
thì mình có thể thấu đạt được cái tính đó, sẽ hiểu được mọi lẽ huyền vi của
trời đất. Đây là sự thần bí hoá của tư tưởng về mối quan hệ giữa người với
trời. Mạnh Tử đã bộc lộ tính chất duy tâm trong thế giới quan của ông. Thế
giới quan đó đã khuyếch đại những yếu tố duy tâm, những mặt hạn chế, những
điểm tiêu cực trong hệ thống triết học Khổng Tử. Chính thế giới quan duy tâm
của ông đã chi phối toàn bộ những quan điểm về chính trị xã hội, luân lý đạo
đức của ông nói riêng cũng như hệ thống triết học Nho giáo sau này nói
chung.
- Quan điểm về chính trị - xã hội: Tư tưởng cốt lõi, chủ yếu nhất trong
triết học Mạnh Tử là vấn đề triết lí nhân sinh, trọng tâm của nó là học thuyết


về “tính thiện”. Học thuyết này của Mạnh Tử là nền tảng của chính sách trị
nước theo chủ nghĩa “nhân chính”, vừa là căn cứ để ông đấu tranh chống lại
các tư tưởng học thuyết đối lập đương thời.
Tính thiện của Mạnh Tử đã kế thừa “tính thiện” của Khổng tử và đã phát
triển thành học thuyết về tính thiện. Ông nói “cái bản tính của con người ta

vốn là thiện cũng như bản tính tự nhiên của nước là chảy xuống chỗ thấp vậy.
Không một người nào sinh ra tự nhiên mà mất thiện, cũng như không có một
thứ nước nào sinh ra mà không chảy xuống chỗ thấp... Giả sử như người ta
đánh xuống nước mà làm cho nó vọt lên có thể quá trán, cũng như chặn dòng
nước nó dâng cao vượt núi thì đó là cái thế của nước chứ không phải là bản
tính của nước. Con người cũng vậy, nếu khiến họ làm điều bất thiện thì cái
bản tính vốn thiện của họ sẽ có sức phản phục lại ngay” (Mạnh Tử, Cáo Tử
thượng). Như vậy, theo Mạnh Tử con người luôn hướng thiện, nếu có làm điều
bất thiện thì cũng không phải là do tại bản chất của con người.
Tính thiện của con người được thể hiện trong bốn đức lớn “nhân, nghĩa,
lễ, trí” mà Mạnh Tử gọi là “tứ đoan”, khác với Khổng Tử đề cao “nhân lễ
nghĩa” thì Mạnh Tử lại đề cao “nhân nghĩa”. Đức “nhân nghĩa”, theo Mạnh Tử
là đức của bậc quân tử, đức của bậc đế vương: “người có đức ấy đi đến đâu thì
cảm hoá đến đó, nghĩ gì thì cảm ứng rất thần diệu, đạo đức cùng với trời đất
cùng vận chuyển lưu hành”(Mạnh Tử, Tận tâm thượng), cho nên bậc đế vương
cai trị thiên hạ dùng đức nhân nghĩa của mình mà soi sáng đạo trời, ban ơn
cho dân chúng: “đem lòng nhân mà thi hành nhân chính thì dễ như trở bàn
tay”(Mạnh Tử, Công tôn sửu). Ông vua mà có lòng nhân thì trong thiên hạ
không ai sánh nổi. Theo Mạnh Tử, thì nhân là ngôi nhà của con người, còn
nghĩa là con đường đi mà suốt đời con người phải theo. Bốn đức lớn “tứ đoan”
của con người bắt nguồn từ thiện còn gọi là “thiện đoan”: ai cũng có lòng trắc
ẩn nên mới thương người, ai cũng có lòng tu ố nên mới biết thẹn ghét, ai cũng
có lòng từ nhượng nên mới biết cung kính, ai cũng có lòng thị phi nên mới
biết phải trái. Lòng thương người sinh ra đức nhân, lòng thẹn ghét sinh ra đức
nghĩa, lòng cung kính sinh ra đức lễ, lòng phải trái sinh ra đức trí. Tính thiện
là bản chất chung của tất thảy mọi người, không biết khuếch sung thì ngay cả
việc thông thường như thờ cha mẹ cũng không làm được (Mạnh Tử, Công tôn
sửu). Bản tính con người được trời phú cho nên phải biết nuôi dưỡng, khuyếch
sung nên mới ngày càng phát triển. Tính thiên xuất phát từ tâm con người.
Tâm có những quan năng trời phú đó là “lương tri” và “lương năng”. “Lương

tri” là cái không cần suy nghĩ mà hay. “Lương năng” là cái không học mà biết.
Tính thiện của con người đôi khi bị hoàn cảnh chi phối, do tư tâm của mình
mà đánh mất. Vậy muốn đến mức độ vững vàng, ổn định thì Mạnh Tử cần đến
giáo dục. Nhưng sự giáo dục của ông mang tính tu thân, hướng thiện, đó chính
là sự giảm bớt đi những điều ham muốn mà ông gọi là “quả dục”. Tâm tính
chịu ảnh hưởng của vật dục, mà thế giới vật dục luôn luôn tác động, lôi cuốn.
Cho nên, muốn tu tâm dưỡng tính, con người cần phải siêng năng, mẫn cán
trong học tập tu dưỡng đạo lý. Đấy là một công việc phải làm và làm suốt đời.
Nó như là mục đích sống của con người vậy.


Trong con người, theo Mạnh Tử ngoài phần tâm tính cao quý, trời còn
ban cho phần “khí”. “Khí” là một phạm trù mới mẻ trong Nho giáo. Mạnh Tử
cho rằng, “khí” lưu hành khắp nơi, ngưng tụ thành hình thể tạo nên vạn vật và
con người. Con người, vạn vật lại nhờ có “khí” mà sinh trưởng. Ông cũng cho
rằng “tâm tính, ý chí” và “khí” trong con người luôn tồn tại và gắn bó mật
thiết với nhau: “khí” chính là phần thể chất khí chất; còn “chí” là tính, là phần
ý thức, tinh thần của con người. Cho nên ông cha ta bảo rằng, cùng với việc
“tồn tâm” phải dưỡng cả “khí” nữa. Trong con người “chí là nguyên soái điều
khiển cái khí, khí là phần sung mãn lưu thông trong cơ thể, cao nhất là cái chí
rồi tới cái khí cho nên phải giữ bền cái chí, đừng làm hư hại cái khí” (Mạnh
Tử, Công tôn sửu thượng). Giữa cái “khí” và cái “chí” tuy có phân biệt cao
thấp, nhưng trong con người cần phải giữ vững sự điều hoà, ổn định giữa
“khí” và “chí”. Thế cân bằng giữa hai cái đó sẽ giúp con người tồn tại và phát
triển một cách thuận lợi. “Khí” có nguồn gốc từ tự nhiên, rất lớn, rất mạnh.
Mạnh Tử gọi đó là “hạo nhiên khí”. Con người vốn là bẩm thụ tinh khí của
trời đất mà sinh thành, vậy muốn tồn tại và phát triển khoẻ mạnh về thể chất
cũng như lành mạnh về tinh thần thì phải nuôi dưỡng “khí hạo nhiên”.
Phương pháp nuôi dưỡng “khí hạo nhiên” của Mạnh Tử là phải phối hợp
việc nghĩa với việc đạo, tức phải tuân theo đạo lý và nhân nghĩa. Con người,

nhất là bậc quân tử, sự bảo tồn và phát triển tâm tính, chí khí luôn được đặt lên
trên hết. Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự tu dưỡng rèn luyện, giáo dục đạo
lý cho mọi người. Đây chính là đóng góp to lớn của Mạnh Tử vào lĩnh vực lý
luận giáo dục mà người đời sau kế thừa.
- Về chính trị: Do xuất phát từ quan điểm thế giới quan duy tâm mà Mạnh
Tử tuyên truyền một thứ lý luận mang tính thần quyền, trời định sẵn tất cả từ
vua chúa đến muôn dân, minh quân đều là người thực thi mệnh lệnh của trời.
Do đó cho nên, ông đưa tới quan điểm duy tâm về lịch sử cho rằng, thánh
nhân là động lực phát triển của lịch sử, thánh nhân làm nên lịch sử. Hơn nữa,
ông cho rằng quy luật biến đổi của xã hội theo hướng “nhất loạn, nhất trị”
mang tính tuần hoàn luận. Ông khẳng định, cứ năm trăm năm theo chu kỳ vận
chuyển của ngũ hành thì sẽ xuất hiện một đấng minh quân hiền đức trị vì thiên
hạ.
Ông chia con người trong xã hội ra làm hai hạng là lao tâm và lao lực.
Hạng thứ nhất là vua chúa, quan lại. Hạng thứ hai là quần chúng nhân dân. Lẽ
thường ông cho rằng hạng lao lực phải có trách nhiệm nuôi hạng lao tâm, tuy
cả hai hạng người này có cùng chung bổn phận là làm cho thiên hạ thái bình.
Đây là lý luận biện hộ cho sự hợp lý của giai cấp thống trị trong xã hội phong
kiến mà ông là đại biểu của giai cấp đó.
Dựa trên “tính thiện” ông cũng kế thừa đường lối “nhân trị” của Khổng
Tử và đề ra thuyết “nhân chính” của mình. Ông chủ trương lấy phép tắc, đạo
lý, công đức của tiền nhân làm chuẩn mực để giáo dân, trị nước. Cần nói thêm
thuyết “nhân chính” đó là việc trị dân bằng “nhân” chứ không vì lợi, Mạnh Tử
bảo: “vua hà tất phải nói đến lợi, chỉ cần nhân nghĩa mà thôi. Nếu vua nói làm
thế nào có lợi cho nước, quan đại phu nói làm thế nào có lợi cho nhà, dân


chúng nói làm thế nào có lợi cho thân; kẻ trên người dưới ai cũng nghĩ lợi mà
tranh nhau thì xã tắc nguy khốn” (Mạnh Tử, Lương huệ vương).
Trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chủ trương “nhân chính” ông đã đề

xuất một quan điểm độc đáo và tiến bộ, đó là quan điểm “dân vi bản” thể hiện
bản lĩnh của một chính trị gia tầm cỡ. Ông nói “dân vi quý, xã tắc thứ chi,
quân vi khinh”(Mạnh Tử, Tận tâm hạ). Sở dĩ ông dám coi dân trong nước là
quí là vì theo ông, dân là gốc của nước, có nước mới có vua, vua là do dân
đặt ra chứ không phải vua đặt nên dân. Một ông vua sáng trị dân cần phải
nhân đức giảm nhẹ hình phạt, bớt thuế để dân no ấm mà học điều hay lẽ phải.
Ông cũng chủ trương cai trị, yên dân bằng cách tạo ra cho họ một sản nghiệp
để sinh sống ổn định, lúc đó tâm lí, tinh thần họ cũng ổn định theo. Theo đó,
ông chủ trương cải cách chế độ thuế khoá, điền địa công bằng tạo cho xã hội
thái bình thịnh trị. Ngoài ra ông còn chủ trương giáo hoá dân, đó là việc dạy
học. Nhà nước cần lập nên những trường học phân bố từ trung ương đến địa
phương để dạy dân về trí thức, đạo lý, phong tục và võ nghệ. Ông tổng kết
“chính trị hay thì dân sợ mà tuân theo, giáo hoá hay thì dân yêu mà kính phục;
chính trị hay thì được của dân, giáo hoá hay thì được lòng dân” (Mạnh Tử,
Tận tâm thượng).
Tử tưởng chính trị của Mạnh Tử đại diện cho quyền lợi của giai cấp
thống trị đương thời, nhưng dù sao nó cũng phần nào đó phản ánh cuộc sống
hiện thực, xu thế thời đại, khát vọng sâu xa của quần chúng nhân dân lao động
Trung Hoa trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc.
1.2.1.3 Tuân Tử :
Cuối thời Chiến quốc, trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm
tôn giáo đã xuất hiện nhà triết học duy vật kiệt xuất, đó là Tuân Tử. Ông tên
là Huống, tự là Khanh người nước Triệu, thuộc miền Nam tỉnh Hà Bắc và Sơn
Tây - Trung Quốc hiện nay. Năm sinh và năm mất của ông đến nay vẫn cha
được xác định rõ ràng và thống nhất. Theo “Nho giáo” của Lệ thần Trần
Trọng Kim nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh năm 1992, thì ông sinh vào
quãng năm 315 và 310 TCN, mất vào quãng năm 230 thọ chừng hơn 80 tuổi.
Theo Sử kí của tư Mã Thiên thì khi ông 30 tuổi mới du học ở nước Tề, do tài
cao, đức dày mà nước Tề tôn ông là “Liệt đại phu”. Sau đó ông sang Tần, đến
Triệu cuối cùng đến nước Sở làm huyện lệnh huyện Lan Lăng và mất tại đó.

Thời của ông là thời “Bách gia chư tử”, các trường phái triết học như
Nho gia, Mặc gia, Lão gia có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội bây giờ. Các học
thuyết này vừa kế thừa tư tưởng vừa công kích, đấu tranh lẫn nhau tạo ra một
bầu không khí sôi động trong tư tưởng xã hội lúc đó. Tuân Tử dựa trên thế
giới quan duy vật và lối biện luận sắc sảo của mình để phê phán, phản bác lại
các tư tưởng của các học phái khác như tư tưởng về “đạo” của Lão -Trang;
học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử, cùng sự nguỵ biện của phái Danh gia.
Điều đó chứng tỏ ông là một người uyên thâm đã từng nghiên cứu nhiều học
thuyết thời bấy giờ, những sự phê phán các học thuyết khác của ông có nhiều
giá trị cho việc nghiên cứu sau này.
- Quan điểm về thế giới, Tuân Tử đã đưa ra một quan điểm về vũ trụ hoàn


toàn mới mẽ, thể hiện tư tưởng duy vật của ông. Ông khẳng định toàn bộ thế
giới chia làm ba bộ phận “trời có bốn mùa, đất có sản vật, người có văn
tự”(Tuân Tử, Thiên luận). Trong đó trời chỉ là một bộ phận của tự nhiên và
bản thân tự nhiên chỉ là cơ sở cho sự hình thành và biến hoá của vạn vật. Trời
có các hiện tượng vật chất như “các vì sao thay nhau vận hành, mặt trăng, mặt
trời thay nhau chiếu sáng, bốn mùa thay nhau chi phối âm dương, biến hoá
sinh thành vạn vật, gió mà tuôn xuống khắp nơi”(Tuân Tử, Thiên luận). Ông
còn cho rằng theo đạo trời, mỗi loại sự vật trong giới tự nhiên đều thông qua
sự cạnh tranh giữa cái này với cái kia, để cắt bỏ cái không phải loại để nuôi cái
loại chính. Đạo của trời vận hành theo lẽ tự nhiên không liên quan đến đạo
người. Trời không có ý thức gì cả, tự nhiên vận hành theo qui luật khách quan
vốn có của nó. Đây là quan điểm duy vật tiến bộ.
Ông còn cho rằng con người nên thuận theo trật tự, đạo của giới tự nhiên
thì sẽ có hạnh phúc, may mắn; nếu trái lại sẽ bất hạnh và rủi ro. Ông khuyên
con người nên tự tin, làm chủ bản thân mình và ra sức sản xuất, tiết kiệm thì
con người không nghèo khổ; giữ gìn thân thể khoẻ mạnh, ăn uống điều độ thì
không bệnh tật. Con người có thiên chức, nhiệm vụ của con người. Trời có

thiên chức, nhiệm vụ của trời. Người quân tử, bậc chí nhân là người thấu hiểu
đạo trời, không ỷ lại trời, không phụ thuộc vào trời, không tranh thiên chức
của trời mà luôn luôn làm tốt việc của người. Qua đó chúng ta thấy rằng, Tuân
Tử dám tin tưởng và khẳng định vai trò hoạt động nhận thức, cải tạo thế giới
của con người là rất quan trọng. Ông cũng đề cập đến việc đòi hỏi con người
luôn có sự vươn lên, phát huy tinh thần tự lực, tự cường không nên ỷ lại, trông
chờ vào sự ban phát hay thụ động trong hành động. Đây là quan điểm tiến bộ
nó nhằm cổ vũ cho tinh thần, ý chí tiến thủ của con người trong cuộc sống, là
một cuộc cách mạng mang tính triết lí nhân sinh cao trong lịch sử Trung Hoa.
Trên cơ sở thế giới quan duy vật, ông đã phát triển học thuyết về tự nhiên
lên một mức độ cao hơn. Ông giải quyết mối quan hệ giữa con người và giới
tự nhiên, giữa chủ thể và khách thể một cách đúng đắn, trong đó khẳng định
vai trò tích cực của chủ thể trong hoạt động nhận thức và cải biến hiện thực.
Trong quan điểm về thế giới, Tuân Tử đã đưa ra học thuyết về “khí”, xem
“khí” là yếu tố vật chất cấu tạo nên vạn vật. Đồng thời dựa trên những tri thức
khoa học sơ khai mà ông vạch ra sự khác nhau giữa vật chất vô cơ, thực vật,
động vật và con người. Trong đó con người không chỉ là một bộ phận của thế
giới tự nhiên mà còn là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên. Về mối quan hệ
giữa vật chất và tinh thần mà ông gọi là tinh thần và thể xác, ông nói rằng
hình thể của con người là cái có trước, sau đó mới sinh ra tinh thần, ý thức,
tình cảm: “những hiện tượng tinh thần của con người sẽ mất đi khi thể xác
không còn tồn tại”(Tuân Tử, Thiên luận) .
Trên đây là những đóng góp to lớn của ông cho sự phát triển của chủ
nghĩa duy vật Trung Quốc cổ đại. Tuy vậy, khi ông cho rằng trời đất tự khi
khai sinh, cho đến nay vẫn không có gì thay đổi thì ông lại bị đánh giá là hạn
chế do phương pháp siêu hình.
- Quan niệm về con người: Khác với Khổng Tử, Mạnh Tử, xuất phát từ


bản năng sinh lý của con người mà ông cho tính con người là ác, học thuyết

tính ác của ông dựa trên cơ sở lòng ham muốn thoả mãn nhu cầu của con
người: “mắt ham nhìn màu sắc, tai thích nghe âm thanh, miệng khoái nếm
mùi vị, tâm ưa chuộng lợi lộc, xương thịt ưa muốn khoái lạc tất cả đều nẩy
sinh từ tính tình của con người”(Tuân Tử, Chính danh). Nếu như thoả mãn
“tính tình” đó của con người tất dẫn đến sự tranh đoạt. Ông cho rằng con
người thực hiện tính thiện là do dạy bảo, học tập chứ không phải là do bản
tính.
- Quan điểm về giáo dục: Do thừa nhận tính ác của con người nên Tuân
Tử đề cập đến giáo dục như là một cứu cánh của chính trị xã hội. Theo ông
tính ác có thể cải hoá để tiến bộ. Đạt địa vị của người quân tử là phải nhờ đến
sự giáo dục lễ nghĩa, bằng sự tu thân tích đức. Sự phân biệt giai cấp trong xã
hội, theo ông không phải là “thiên tính” mà là do kết quả của sự tích luỹ đạo
đức trong cuộc sống. Ông cũng chứng minh sai lầm tính hợp lý tất yếu của các
thể chế nhà nước và khuôn phép lễ nghi của giai cấp quí tộc phong kiến
đương thời. Giáo dục và cải biến trật tự xã hội theo Tuân Tử là phải dùng các
biện pháp hành động do con người làm ra từ bên ngoài áp đặt vào, nghĩa là có
tính cưỡng chế, cho nên ông rất coi trọng “lễ” và “nhạc”. Quan niệm của Tuân
Tử về “lễ” đó không chỉ là qui tắc ứng xử trong gia tộc mà còn là nguyên tắc
căn bản để trị nước “không tuân theo lễ mà làm, không coi trọng lễ đó là
không giữ chính đạo: tuân theo lễ mà làm, lại coi trọng lễ gọi là chính
trực”(Tuân Tử, Lễ luận). Có thể coi “lễ” là hạt nhân trong tư tưởng chính trị
của Tuân Tử. Cùng với “lễ” là “nhạc”. Nhạc là phương tiện điều hoà tính khí,
di dưỡng tinh thần, hướng dẫn con người ta đi đến đạo chân chính . Thực chất
về quan niệm giáo dục của Tuân tử là cải tạo xã hội, phủ nhận chế độ cha
truyền con nối trong xã hội phong kiến. Đây là một điều tiến bộ, tuy nhiên nó
vẫn chưa vượt qua thời đại.
- Quan điểm về xã hội: khi nghiên cứu về xã hội, Tuân Tử cho rằng con
người khác động vật ở chỗ là có sự phân biệt thứ bậc, có tổ chức xã hội và
sinh hoạt xã hội theo tính chất cộng đồng. Theo ông con người tổ chức thành
xã hội là do nhu cầu sinh tồn. Trong xã hội ai có phận nấy, có địa vị, trách

nhiệm nhất định, tạo thành một thể thống nhất. Danh phận được định ra rõ
ràng nhờ qui tắc, thể chế xã hội. Hệ thống qui tắc, thể chế của xã hội đó chính
là lễ nghĩa và nhà nước. Nhờ có nó mà xã hội tránh được sự tranh chấp tạo sự
ổn định cho cộng đồng. Quan niệm về nguồn gốc nhà nước và thể chế chính
trị của Tuân Tử chính là sự hợp lý hoá chế độ đẳng cấp của giai cấp thống trị
đương thời mà ông là người đại biểu.
- Quan niệm về chính trị: Tuân Tử một mặt đề cao “nhân nghĩa” trọng “lễ
nhạc” trong đạo trị nước: “coi quân tử như cây nến, cây nến ngay thì bóng
ngay; quân tử như cái mâm, mâm tròn thì nước tròn” (Tuân Tử, Quân đạo),
phê phán cách trị nước bằng quyền lực tàn bạo. Mặt khác ông chú trọng đến
phương pháp trị nước bằng hình pháp. Theo ông, lễ là nguồn gốc của trị, như
dùng lễ thôi thì chưa đủ để trị nước, giáo hoá dân mà còn phải nghiêm trị hình
phạt. Chỉ có “lễ” và “pháp” kết hợp mới khiến cho đất nước “hợp văn lí, quy


ư trị”. Vì vậy, ông chủ trương “nguyên tắc trị nước: lễ nghĩa kèm hình phạt”.
Ông cho rằng pháp luật nghiêm minh, ngăn cấm được điều bạo ngược, ghét
bỏ điều ác, răn đe điều xấu xảy ra; pháp lệnh thi hành thì phong tục tốt đẹp.
Chính những tư tưởng này của Tuân Tử, mà sau này các nhà triết học
phái Pháp gia như Hàn Phi, Lý Tư thừa kế và phát triển chuyển hẵn từ phương
pháp lễ trị sang pháp trị giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất đất nước Trung
Hoa.
- Về quan điểm nhận thức: Đây là một đóng góp lớn cho lịch sử triết học
về lí luận nhận thức. Quan điểm lí luận nhận thức của Tuân Tử được xây dựng
trên nền tảng thế giới quan duy vật đặc sắc. Ông khẳng định con người có đủ
khả năng nhận thức vạn vật trong thế giới, coi nhận thức chính là sự phản ánh
các sự vật hiện tượng khách quan bởi con người. Trong đó sự kết hợp giữa
năng lực nhận thức của con người với sự vật khách quan là điều kiện tạo nên
tri thức.
Trong quá trình nhận thức, Tuân Tử khẳng định rằng quá trình nhận thức

của con người bắt đầu từ kinh nghiệm cảm giác và mỗi giác quan đều có khả
năng nhận thức được các sự vật bên ngoài tác động vào các giác quan của con
người. Chính các giác quan này đem lại cho con người những hiểu biết riêng
lẽ bên ngoài. Muốn nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về sự vật hiện tượng thì
con người dựa vào sự hoạt động của khí quan tư duy mà ông gọi là “tâm trí”.
Tâm làm rõ sự biết mới nhờ trí mà nghe tiếng được, mới nhờ mắt mà biết được
hình (Tuân Tử, Chính danh)... Tâm là chủ tế của tinh thần của con người, điều
khiển các cơ quan cảm giác và có khả năng đặc biệt gọi là “lương tri”, có
nghĩa là khả năng phân tích, tổng hợp khái quát hoá, trừu tượng hoá những qui
ước, những cái gì giống với nó. Như vậy suy lí phải dựa trên cảm giác đó. Ông
đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa cảm giác và tư duy. Tuy
nhiên, ông lại phóng đại vai trò hoạt động của “tâm”, coi nó là chủ tế của ý
thức, điều khiển mọi họat động của nhận thức, nên nhận thức luận của ông còn
mang tính hạn hẹp và nghiêng về phía chủ nghĩa duy tâm.
Trong cuộc đấu tranh với bọn nguỵ biện duy tâm, Tuân Tử đã trình bày lí
luận lôgích học của mình, đó là việc trình bày một cách duy vật quá trình hình
thành công dụng ý nghĩa của danh từ, khái niệm. “Danh” được hình thành trên
cơ sở nhận thức sự vật, phản ánh sự vật. Đó là sự bao quát tương đối sự vật ở
một đặc điểm chung giống nhau. “Danh” có “danh chung” và “danh riêng”.
“Danh chung” gọi là “vật” dùng để chỉ nhiều sự mà muốn gọi tới tất cả. Có lúc
muốn gọi tới một mặt, một sự sự vật thì đó là “danh riêng”. Như vậy “danh
chung” là kết quả của quá trình suy lí tổng hợp, còn “danh riêng” là kết quả
của quá trình suy luận phân tích.
Tuân Tử cho rằng “danh” hay “khái niệm” cái mà con người dựa vào sự
đồng, dị của sự vật khách quan để nêu ra, mang tính quy ước, được mọi người
trong xã hội thừa nhận. Từ đó, ông áp dụng vào trong xã hội để thi hành chủ
trương, đường lối chính trị “chính danh” của mình. Ông viết: “nhà vua chế
danh, danh có định thì thực mới rõ, đạo mới thi hành thì có thể dẫn đến chỗ
nhất trí. Cho nên lựa lời làm danh láo để loạn chính danh khiến dân nghi hoặc,



nhiều người kiện tụng, ấy gọi là đại gian, tội cũng như là tội mạo dấu hiệu đo
lường” (Tuân Tử, Chính danh). Qua lí luận lôgích của mình, Tuân Tử đã phê
phán và vạch ra tính chất nguỵ biện của các học phái triết học thời đó khi luận
về “danh” và “thực”, đặc biệt là tư tưởng của danh gia và Mặc gia hậu kì.
Những thành quả trong hệ thống triết học của ông như chủ nghĩa vô thần
triệt để trong quan niệm về tự nhiên, sự phát triển về lí luận nhận thức và
lôgích học, cũng như quan điểm về vai trò tích cực của con người trong hoạt
động nhận thức và cải biến thế giới, so với những quan điểm duy tâm thần bí,
chiết trung nguỵ biện của các nhà triết học đại diện cho quan điểm bọn quý tộc
cũ, đã là một bước tiến dài trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại.
1.2.2. Nho giáo sau thời kỳ Tiên Tần.
1.2.2.1. Nho giáo thời kì Lưỡng Hán (202 TCN - 220 SCN).
Nho giáo thực sự đã được khẳng định ở thời Mạnh Tử, cùng ngang hàng
với thế lực Lão giáo và Mặc giáo. Đến đời Tần, Pháp gia của Hàn Phi Tử đã
giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất đất nước Trung Hoa làm cho Nho giáo bị
lấn át. Từ thời Tây Hán trở đi, dần dần Nho giáo được khôi phục, đến thời
Đông Hán thì Nho giáo chiếm một vị trí quan trọng trong chính quyền và
nhân dân. Thực ra Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán nội dung của nó không có gì
nổi bật so với vẻ bề ngoài của nó là được chính quyền trọng dụng. Những
người theo phái Nho giáo chỉ biết tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, ngoài
mục đích đó ra kẻ sĩ Nho học không biết làm gì hơn. ở thời kỳ này những hình
mẫu người “kẻ sĩ” theo Nho học, đó là học sách thánh hiền theo lối tầm
chương trích cú, nối chí làm quan cai trị thiên hạ, lưu danh thiên cổ. Thời kỳ
này, nổi bật có ba nhà đại diện cho tư tưởng Nho giáo.
Đổng Trọng Thư (179 - 104)TCN, là người đặt nên móng cho tư tưởng
triết học chính thống thời Lưỡng Hán. Học thuyết triết học về cơ bản lấy Nho
gia Tiên Tần làm cơ sở, đồng thời tiếp thu quan điểm triết học khác phái, đặc
biệt là học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành làm thành một hệ thống mang tính
thần học duy tâm với các luận đề “trời người hợp nhất”, “trời người cảm ứng”,

“trời không biến đổi đạo cũng không biến đổi”. Áp dụng quan điểm thần học
duy tâm của mình vào xã hội, ông cho rằng trời là vị chúa tể cai trị tất cả vũ
trụ, vương quyền ở hạ giới là trời trao lại cho thiên tử, toàn thể xã hội phải
tuân theo trách nhiệm, địa vị của mình. Đây là luận điểm xuyên tạc nhằm biện
hộ cho sự tồn tại hợp lí của chế độ phong kiến. Ông cũng dựa vào học thuyết
Âm - Dương, Ngũ Hành về sự tương sinh, tương khắc mà nêu lên sự duy trì,
trật tự xã hội, tính hợp lý phân định giai cấp trong xã hội mang đậm màu sắc
mục đích luận. Trong vấn đề luân lý xã hội, Đổng Trọng Thư đã hệ thống hoá
các phạm trù đạo đức thành hệ thống các mối quan hệ cơ bản của xã hội, đó là
“tam cương, ngũ thường”. Khác với Khổng Tử, dưới sự chi phối của thần
quyền mà các quan niệm này của Đổng Trọng Thư trở nên xơ cứng và có phần
khắc nghiệt, chi phối toàn bộ đời sống xã hội Trung Quốc suốt thời kỳ phong
kiến. Về con người, Đổng Trọng Thư cho rằng trong con người có âm dương.
Khi sinh ra chưa gọi là “thiện” mà chỉ mang mầm móng “thiện” trong đó, như
cây lúa sẽ cho hạt lúa. Và ông chia tính người thành 3 hạng: thượng, trung, hạ.


Tính thượng thuộc về thánh nhân và có quyền cai trị xã hội. Tính trung thì
cũng có thể trở thành thiện nếu được luân lý đạo đức phong kiến giáo hoá,
cũng có thể trở thành ác nếu không được giáo hoá; tính hạ thì ngu dốt, tham
lam do vậy mà khó cải hoá, đó là từng lớp nhân dân lao động trong xã hội.
Thực chất của thuyết “ tính tam phẩm” là sự thổi phồng mặt tiêu cực của luận
điểm “thượng trí, hạ ngu” của Khổng Tử, nó cũng là sự biện luận cho tính hợp
lý của chế độ phong kiến.
Hệ thống triết học của Đổng Trọng Thư là một thứ triết học kinh viện ở
chỗ: nó lấy hệ tư tưởng Nho gia Tiền Tần làm cơ sở, sau đó cải tạo bổ sung
thần bí hoá thành kinh học. Tất cả các kinh sách thời Tiền Tần khi nghiên cứu
người ta chăm chú học tập, kế thừa gia pháp dần dần hình thành các cách giải
thích kinh truyện rất phiền phức. Do vậy mà “sấm vĩ” xuất hiện, “sấm vĩ”
dùng để giải thích những điển tích Nho gia mang màu sắc mê tín.

Dương Hùng (53 TCN - 18 SCN): Ông từng làm quan thời Tây Hán, triết
học của ông dựa trên quan điểm “đạo” trong sách Lão Tử và “dịch”. Theo
Dương Hùng vạn vật đều xuất hiện, biến hoá theo quy tắc và bản thể duy nhất
đó là “huyền”. “Huyền” là đạo mở ra muôn loài, ở trong chỗ u vi mà không ai
rõ hình trạng. Ông bác bỏ quan điểm duy tâm thần bí, siêu hình cho rằng tự
nhiên, xã hội do thượng đế sáng tạo và chỉ dựng lên một lần, không có sự thay
đổi gì cả. Theo ông vũ trụ có biến hoá, sinh sôi “có sinh tất có diệt, có đầu tất
có cuối” (Pháp ngôn, Quân tử ). Trên cơ sở tư tưởng về “huyền” ông coi sinh
tử là tự nhiên và phê phán quan điểm ảo tưởng trường sinh bất tử và sấm vĩ
hoang đường. Về con người ông nói rằng khi sinh ra con người theo bản tính
tự nhiên, song nhờ “ huyền” mà có âm, có dương tác động, dương biến hoá mà
thành tính, tính có thể ác có thể là thiện. Cho nên ông chủ trương giáo hoá tu
dưỡng, học tập chế ngự để trở thành thiện.
Vương Sung (27 - 100): Thời Đông Hán, sự suy vi của nền kinh tế, chính
trị - xã hội Trung Hoa đã rộ lên một loạt tư tưởng mê tín dị đoan làm chỗ dựa
tinh thần xã hội. Vương Sung đứng trên lập trường duy vật đã phê phán kịch
liệt những tư tưởng sai lầm, mê tín dị đoan, chủ trương cải biến xã hội dựa trên
những thành quả của tri thức khoa học và thực tiễn sản xuất hiện thời. Ông đã
phát triển chủ nghĩa duy vật cổ đại lên một bước. Ông cho rằng thế giới do
một nguyên thể vật chất đầu tiên duy nhất, vĩnh viễn là “nguyên khí” tạo nên.
Con người, vạn vật là một phần của “khí”. Từ đó ông bác bỏ các quan điểm
của Đổng Trọng Thư về trời, người như thuyết “trời người cảm ứng” và
“vương quyền thần thụ”. Ông nói đó chỉ là suy người để hiểu trời, là sự nguỵ
tạo để ru ngủ nhân dân lao động của những kẻ thống trị. Ông đã phê phán
quan điểm mê tín tôn giáo về quỷ thần và linh hồn bất tử (nhưng lại thừa nhận
vật chất cấu thành linh hồn sau khi chết vẫn tồn tại, quỷ thần là do khí thái
dương mà ra). Về mặt nhận thức luận, ông đề cao kinh nghiệm cảm tính
nhưng cũng coi trọng tư duy lý tính và chủ trương lấy sự thực, thực tế làm tiêu
chuẩn kiểm nghiệm đúng sai. Đây quả là một đóng góp to lớn trong lý luận
nhận thức nhân loại. Về quan điểm lịch sử xã hội, ông cho rằng, lịch sử phát

triển, biến đổi theo hướng ngày càng tiến bộ nhưng lại cho rằng xã hội trị hay


loạn là do số mệnh, do đó ông không thấy vai trò lịch sử của con người. Ông
cho rằng, con người cũng có số mệnh. Hệ thống triết học của Vương Sung cho
thấy tư tưởng của ông là tư tưởng của lớp tri thức bị chèn ép trong xã hội nên
không nhất quán triệt để.
1.2.2.2. Nho giáo thời kỳ Nguỵ - Tấn và Nam Bắc triều (220 - 590).
Nho giáo thời kỳ này vẫn bị ảnh hưởng của thời kỳ Lưỡng Hán, đó là
tuân thủ kinh điển, tuân thủ lời huấn dạy của người xưa. Các học giả Nho giáo
có danh tiếng thời kỳ này đều là những nhà văn giỏi chứ không phải là nhà tư
tưởng trác việt có thể làm hoàng dương Nho giáo.
Nho giáo thời kỳ này nói chung bị pha trộn với đạo Lão Trang làm cho
triết học mang màu sắc thần bí cao xa, mà về ý nghĩa thực tiễn thần của con
người không tìm được chỗ nương tựa tin cậy, do vậy tìm đến chỗ triết lý cao
siêu quên đi khổ não trần thế. Nho giáo bị sụp, như vậy ở thời kỳ này một
phần là do Hán Nho làm mất đi linh hồn ban đầu của nó, và phần chính là Hán
Nho không thể áp dụng triển khai trong thời kỳ Nguỵ - Tấn.
1.2.2.3. Nho giáo thời kỳ Tuỳ - Đường (581 - 618 và 618 - 960).
Đời Tuỳ lúc đầu mở trường dạy học kinh Nho ở khắp nước, nhưng vì
chủ đích sự học không đạt lại bỏ dở dang, chỉ đặt chức Thái học bác sĩ hai
người và 72 người đệ tử trông coi. Đời Đường việc quan tâm Nho giáo có khá
hơn, việc học kinh Nho, chọn kẻ sĩ bàn luận việc học có phát triển. Tuy nhà
Đường tôn sùng đạo Phật coi là quốc giáo, nhưng năm Trinh Quán thứ 11(637)
vua Đường Thái Tông tôn Khổng Tử làm tiên thánh, Nhan Hồi làm tiên sư,
thờ chung với Chu Công ở nhà Thái học. Năm Khai Nguyên thứ 27 (năm
739) vua Đường Huyền Tông truy thuỵ Khổng Tử là “văn tiên vương” và cho
thờ theo nghi lễ của bậc vương.
Nhưng nhìn chung, Nho giáo thời Tuỳ - Đường tuy tiến bộ về mặt chính
trị hơn so với thời kỳ Nguỵ Tấn và Nam Bắc triều, nhưng về mặt tư tưởng nó

lại không hơn là mấy, tức là vẫn tầm chương trích cú. Đời nhà Tuỳ có Vương
Thông, ông muốn cứu vãn những lễ nghi của Nho giáo nhưng không được.
Tuy vậy, đó là tiếng nói yếu ớt của kẻ sĩ trong thời kỳ suy đồi lễ nghi phong
kiến. Đời nhà Đường có Hàn Dũ, tuy không uyên thâm Nho học nhưng ông
bài trừ Phật giáo mạnh mẽ và triệt để, các tác phẩm văn chương của ông phần
nào thể hiện tư tưởng Nho giáo của con người kẻ sĩ, trong đạo lý, danh tiết.
Như vậy thời kỳ Tuỳ - Đường, tư tưởng Nho giáo chỉ là sự kế thừa thời
Nguỵ - Tấn và chỉ là sự tồn tại trong tư tưởng các bậc Nho học mà thôi chứ
không phải là hệ tư tưởng trong xã hội.
1.2.2.4. Nho giáo thời kỳ Tống - Nguyên (960 - 1368).
Giai đoạn này, chính quyền phong kiến dùng chính sách độc tôn Nho
giáo, kế thừa những tưởng triết học của các trường phái khác như Phật giáo,
Đạo giáo sáng tạo nên một hình thái mới của Nho học đó là “lý học”. Ngoài ra
họ còn chủ trương phản đối Pháp gia. Mục đích của giai cấp thống trị không
ngoài việc duy trì và củng cố nền thống trị phong kiến và nô dịch đời sống
tinh thần của nhân dân. Giai đoạn này triết học Nho giáo phát triển mạnh mẽ
và sự ảnh hưởng của nó đến nước ta cũng rất lớn.


Nho học lý học: “Lý học” lấy tư tưởng triết học của Khổng Mạnh làm hạt
nhân nhưng sự phát triển của nó có nội dung sâu sắc hơn đã tạo ra một hệ
thống chặt chẽ tinh vi hơn. Nó đúc kết những yếu tố tích cực, những mặt tinh
tuý và gạt bỏ những mặt tiêu cực, tư tưởng bi quan, vô vi của triết hoc Phật
giáo và Đạo giáo, lấy Nho học làm chủ đã đưa triết học Trung Quốc phát triển
cao hơn về hình thức lẫn nội dung. Vì thế lý học thời Tống Nguyên còn được
gọi là “Tân Nho”. Lý học khởi đầu bằng hai anh em Trình Di và sau được Chu
Hy hoàn thiện, tư tưởng Trình Hạo được Lục Cữu Uyên và đỉnh cao là Vương
Thủ Nhân đời Minh bổ sung, hoàn thiện.
Trình Hạo (1032 - 1085). Về triết học, ông cho rằng “lý” hay “thiên lý” là
bản thể của thế giói vạn vật. “Lý” không diệt không sinh, tồn tại khắp nơi. “Lý

trời” là do thực thể thoát khỏi vượt trên thế giới vạn vật và ở trong tâm con
người “trời tức là lý tức tâm”. Ông cho rằng tính người là “thiện” hợp với đức
sinh của trời đất, tức là “nhân”. Tính “ác” là do khí âm dương thụ bẩm mà tạo
ra. “Ác” như nước đục. Có nước chảy ra tận biển mà vẫn trong, có nước
chảy gần mà vẫn bị đục, dùng công để làm trong nước, khi trong thì nó vẫn là
nước lúc nảy chứ không phải là thay nước khác hay đã lấy cái đục ra chỗ
khác, nước trong là tính “thiện” vậy. Trình Hạo cho rằng, “tính là thiện”
nhưng do thụ bẩm âm dương mà không còn là “thiện tính” nữa mà là “thành
tính”. “Thành tính” tức có trong - đục phân biệt tương đối. Thiện, ác cũng
không có thiện, ác phân biệt. Thiện là “thiên lý”, ác là sự quá đi là bất cập chứ
không phải là ác. Tuy là ác nhưng gốc làm ra ác là thiện, nếu làm không đúng
“thiên lý” mới sinh ra ác. Trời đất, vạn vật nhất thể thì “nhân” phải công minh
lúc đó ta và sự vật mới phân biệt, nhân rồi có thứ và có ái.
Nhân hoà cùng vạn vật nên giữ lấy nhân chỉ biết thành kính, thành tâm,
chân thật, không lầm. Đã thành là kính, kính là sự nuôi dưỡng cái “tâm”. Bất
cứ điều gì cũng phải lấy “tâm” làm chủ tức “kính cái tâm” là chỉ hướng đến
cái “thiện”, ngoài “thiện” ra không có cái gì khác. Thành kính sẽ đưa đến “lễ”,
“lễ” là lẽ đương nhiên theo “thiên lý” chứ không có chút tư nhân nào. Muốn
cho “tâm” làm chủ tế thì phải nuôi dưỡng nó, phải giữ cho tính định, không bị
ảnh hưởng bởi bất kỳ tác động nào. Cái “tâm” làm chủ tế chi phối tất cả mọi
hoạt động. Vậy nên không để cái “tâm” bị chi phối bởi sai trái, tư dục. Cũng
không nên cho cái ngoài là đúng cái trong là sai, chi bằng quên cái trong ngoài
là hơn. Tức theo Trình Hạo, là phải để cái “tâm” trở về cái “thiện” theo “thiên
lý” cái tâm an nhiên tự tại. Lúc này Trình Hạo đã đạt được cái lẽ đạo của Lão
Trang - Chu Đôn Di. Tử Tưởng “thiên lý’’ đè nặng khiến ông bảo thủ trong tư
tưởng chính trị. Ông cho rằng “lý” là đạo đức, là nguyên tắc, là thể chế xã hội,
nên trật tự phong kiến “quân thần, phụ tử” là cái lý cố định của thiên hạ và
không muốn cải cách. Chính điều đó đã trở thành công cụ tinh thần đắc lực
phục vụ cho giai cấp thống trị.
Trình Hạo, thấy rõ cái “thiên lý” thiên địa vạn vật thể của Nho giáo: lấy

dân làm gốc, lấy thành và kính để giữ “tâm”. Nhờ “nhân” mà mọi việc được
phân biệt rõ ràng. Ngoài ông còn chủ trương học thuyết “tính thiện” của Mạnh
Tử, lấy đó mà hành động cho hợp đạo trời. Với ảnh hưởng của đạo Lão Trang,


×