Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn lớp 8 trường THCS Tam Hưng, Hà Nội năm học 2016 2017

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (140.74 KB, 3 trang )

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

PHÒNG GD&ĐT THANH OAI

ĐỀ THI KHẢO SÁT GIỮA KÌ II

TRƯỜNG THCS TAM HƯNG

Năm học 2016 - 2017
Môn: Ngữ văn – Lớp 8
Thời gian làm bài: 90 phút

Phần I (5,0 điểm): Đọc đoạn văn sau
“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất;
được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn
sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn
khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi
này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi
kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”
Câu 1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
Câu 2. Tác phẩm có đoạn văn trên thuộc thể loại nào? Nêu hiểu biết của em về thể loại
văn đó?
Câu 3: Nội dung chủ yếu của đoạn văn trên là gì?
Câu 4: Giải thích thế nào là “thắng địa”?
Câu 5: Câu: “Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh
đô bậc nhất của đế vương muôn đời” thuộc kiểu câu gì? Thực hiện hành động nói nào?
Câu 6: Viết đoạn văn (5 – 7 câu) làm sáng tỏ luận điểm “Đại La là thắng địa xứng là
kinh đô của đế vương muôn đời”
Phần II (5,0 điểm): Cho câu thơ:
Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Câu 1: Chép tiếp 5 câu thơ để tạo thành một đoạn thơ hoàn chỉnh?


Câu 2: Đoạn thơ trên trích từ tác phẩm nào? Của ai? Nội dung chính của đoạn thơ đó là
gì?
Câu 3: Viết đoạn văn (12 – 15 câu) trình bày cảm nhận của em về khổ thơ trên trong đó
có sử dụng một câu cảm thán.


VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

Đáp án đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn lớp 8
Phần I: (5,0 điểm)
Câu 1: Đoạn văn trích trong tác phẩm “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu) (0,25 điểm)
Tác giả: Lí Công Uẩn. (0,25 điểm)
Câu 2: Văn bản trên thuộc thể chiếu. (0,5 điểm)
Chiếu là thể văn do vua chúa dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu có thể viết bằng văn xuôi,
văn vần, văn biền ngẫu, được công bố và đón nhận một cách trang trọng. (0,5 điểm)
Câu 3: Nội dung của đoạn văn: Nêu những thuận lợi của địa thế thành Đại La và khẳng
định đó là nơi tốt nhất để đóng đô. (0,5 điểm)
Câu 4: Học sinh giải thích được:
Thắng địa: Chỗ đất có phong cảnh và địa thế đẹp. (0,5 điểm)
Câu 5: Câu: “Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh
đô bậc nhất của đế vương muôn đời” thuộc kiểu câu trần thuật. (0,25 điểm)
- Thực hiện hành động trình bày. (0,25 điểm)
Câu 6: (2,0 điểm)
a. Hình thức (0,5 điểm)
- Học sinh viết đúng đoạn văn, có từ ( 5 – 7 câu)
- Diễn đạt trôi chảy không mắc quá 2 lỗi chính tả.
b. Nội dung (1,5 điểm) Cần nêu rõ:
+ Về lịch sử: Vốn là kinh đô cũ của Cao Vương.
+ Về địa lí: Trung tâm trời đất có núi sông, đất rộng mà bằng cao mà thoáng.
+ Về văn hóa, chính trị, kinh tế: Là mảnh đất thịnh vượng, đầu mối giao lưu

Hội tụ đủ mọi mặt của đất nước, xứng đáng là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế.
Phần II (5,0 điểm)
Câu 1: Chép đầy đủ đúng 5 câu để tạo thành một đoạn thơ (0,5 điểm)
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.


VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Câu 2.
- Đoạn thơ trên trích trong bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh. (0,5 điểm)
- Nội dung chính của đoạn thơ: miêu tả cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá trong một buổi
sáng đẹp trời. (0,5 điểm)
Câu 3 (3,5 điểm)
a. Hình thức (1,0 điểm)
* Viết đúng hình thức đoạn văn. Đủ số câu (12 – 15 câu) (0,5 điểm)
* Có sử dụng 1 câu cảm thán, gạch chân các câu đó (0,5 điểm)
b. Về nội dung cần trình bày được các ý sau (2,5 điểm)
- Đoàn thuyền xuất phát giữa buổi bình minh trong sáng, dịu mát và rực rỡ nắng mai
hồng.
- Những chàng trai miền biển khỏe mạnh, vạm vỡ hăng hái chèo ra khơi.
- Hình ảnh so sánh kết hợp với các động từ mạnh “hăng, phăng, vượt” cho ta thấy khí thế
mạnh mẽ, dũng mãnh của con thuyền khi ra khơi.
- Hình ảnh so sánh chính xác, giàu ý nghĩa: “cánh buồm - mảnh hồn làng” làm cho hình
ảnh cánh buồm trở lên lớn lao, kì vĩ, thiêng liêng và rất thơ mộng. Nhà thơ chợt nhận ra
cái linh hồn của làng chài quê hương trong hình ảnh cánh buồm.

- Cánh buồm được nhân hóa như một con người, nó đang rướn cao thân mình thu hết gió
của đại dương đẩy con thuyền đi nhanh hơn.
- Đoạn thơ đã vẽ lên một bức tranh lao động khoẻ khoắn tràn đầy sức sống thể hiện khát
vọng chinh phục thiên nhiên của người dân làng chài.



×