Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Tài liệu nhập môn Java

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (141.63 KB, 8 trang )

Chương 2
NHẬP MÔN JAVA
Mục tiêu
 Nắm được các đặc trưng của Java
 Các kiểu chương trình Java
 Ðịnh nghĩa về máy ảo Java
 Các nội dung của JDK (Java Development Kit)
 Sơ lược các đặc trưng mới của Java2
2.1 Giới thiệu Java
Java là một ngôn ngữ lập trình được Sun Microsystems giới thiệu vào tháng 6 năm 1995.
Từ đó, nó đã trở thành một công cụ lập trình của các lập trình viên chuyên nghiệp. Java
được xây dựng trên nền tảng của C và C++. Do vậy nó sử dụng các cú pháp của C và các
đặc trưng hướng đối tượng của C++.
Vào năm 1991, một nhóm các kỹ sư của Sun Microsystems có ý định thiết kế một ngôn
ngữ lập trình để điều khiển các thiết bị điện tử như Tivi, máy giặt, lò nướng, … Mặc dù C
và C++ có khả năng làm việc này nhưng trình biên dịch lại phụ thuộc vào từng loại CPU.
Trình biên dịch thường phải tốn nhiều thời gian để xây dựng nên rất đắt. Vì vậy để mỗi
loại CPU có một trình biên dịch riêng là rất tốn kém. Do đó nhu cầu thực tế đòi hỏi một
ngôn ngữ chạy nhanh, gọn, hiệu quả và độc lập thiết bị tức là có thể chạy trên nhiều loại
CPU khác nhau, dưới các môi trường khác nhau. “Oak” đã ra đời và vào năm 1995 được
đổi tên thành Java. Mặc dù mục tiêu ban đầu không phải cho Internet nhưng do đặc trưng
không phụ thuộc thiết bị nên Java đã trở thành ngôn ngữ lập trình cho Internet.
2.1.1 Java là gì
Java là ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng, do vậy không thể dùng Java để viết một
chương trình hướng chức năng. Java có thể giải quyết hầu hết các công việc mà các ngôn
ngữ khác có thể làm được.
Java là ngôn ngữ vừa biên dịch vừa thông dịch. Đầu tiên mã nguồn được biên dịch bằng
công cụ JAVAC để chuyển thành dạng ByteCode. Sau đó được thực thi trên từng loại máy
cụ thể nhờ chương trình thông dịch. Mục tiêu của các nhà thiết kế Java là cho phép người
lập trình viết chương trình một lần nhưng có thể chạy trên bất cứ phần cứng cụ thể.
Ngày nay, Java được sử dụng rộng rãi để viết chương trình chạy trên Internet. Nó là ngôn


ngữ lập trình hướng đối tượng độc lập thiết bị, không phụ thuộc vào hệ điều hành. Nó
không chỉ dùng để viết các ứng dụng chạy đơn lẻ hay trong mạng mà còn để xây dựng các
trình điều khiển thiết bị cho điện thoại di động, PDA, …
2.2 Các đặc trưng của Java
 Đơn giản
 Hướng đối tượng
 Độc lập phần cứng và hệ điều hành
 Mạnh
 Bảo mật
Chương 2: Nhập môn Java 25
 Phân tán
 Đa luồng
 Động
2.2.1 Đơn giản
Những người thiết kế mong muốn phát triển một ngôn ngữ dễ học và quen thuộc với đa
số người lập trình. Do vậy Java được loại bỏ các đặc trưng phức tạp của C và C++ như
thao tác con trỏ, thao tác nạp đè (overload),… Java không sử dụng lệnh “goto” cũng như
file header (.h). Cấu trúc “struct” và “union” cũng được loại bỏ khỏi Java.
2.2.2 Hướng đối tượng
Java được thiết kế xoay quanh mô hình hướng đối tượng. Vì vậy trong Java, tiêu điểm là
dữ liệu và các phương pháp thao tác lên dữ liệu đó. Dữ liệu và các phương pháp mô tả
trạng thái và cách ứng xử của một đối tượng trong Java.
2.2.3 Độc lập phần cứng và hệ điều hành
Đây là khả năng một chương trình được viết tại một máy nhưng có thể chạy được bất kỳ
đâu. Chúng được thể hiện ở mức mã nguồn và mức nhị phân.
Ở mức mã nguồn, người lập trình cần mô tả kiểu cho mỗi biến. Kiểu dữ liệu trong Java
nhất quán cho tất cả các hệ điều hành và phần cứng khác nhau. Java có riêng một thư
viện các lớp cơ sở. Vì vậy chương trình Java được viết trên một máy có thể dịch và chạy
trơn tru trên các loại máy khác mà không cần viết lại.
Ở mức nhị phân, một chương trình đã biên dịch có thể chạy trên nền khác mà không cần

dịch lại mã nguồn. Tuy vậy cần có phần mềm máy ảo Java (sẽ đề cập đến ở phần sau)
hoạt động như một trình thông dịch tại máy thực thi.
H ình 2.1
Trình biên dịch sẽ chuyển các chương trình viết bằng C, C++ hay ngôn ngữ khác thành
mã máy nhưng phụ thuộc vào CPU. Nên khi muốn chạy trên loại CPU khác, chúng ta
phải biên dịch lại chương trình.
Hình 2.2
Môi trường phát triển của Java được chia làm hai phần: Trình biên dịch và trình thông
dịch. Không như C hay C++, trình biên dịch của Java chuyển mã nguồn thành dạng
bytecode độc lập với phần cứng mà có thể chạy trên bất kỳ CPU nào.
Nhưng để thực thi chương trình dưới dạng bytecode, tại mỗi máy cần phải có trình thông
26 Core Java
compiler
compiler
compiler
dịch của Java hay còn gọi là máy ảo Java. Máy ảo Java chuyển bytecode thành mã lệnh
mà CPU thực thi được.
2.2.4 Mạnh mẽ
Java yêu cầu chặt chẽ về kiểu dữ liệu và phải mô tả rõ ràng khi viết chương trình. Chúng
sẽ kiểm tra lúc biên dịch và cả trong thời gian thông dịch vì vậy Java loại bỏ các kiểu dữ
liệu dễ gây ra lỗi.
2.2.5 Bảo mật
Java cung cấp một số lớp để kiểm tra bảo mật.
Ở lớp đầu tiên, dữ liệu và các phương pháp được đóng gói bên trong lớp. Chúng chỉ được
truy xuất thông qua các giao diện mà lớp cung cấp. Java không hỗ trợ con trỏ vì vậy
không cho phép truy xuất bộ nhớ trực tiếp. Nó cũng ngăn chặn không cho truy xuất thông
tin bên ngoài của mảng bằng kỹ thuật tràn và cũng cung cấp kỹ thuật dọn rác trong bộ
nhớ. Các đặc trưng này tạo cho Java an toàn và có khả năng cơ động cao.
Trong lớp thứ hai, trình biên dịch kiểm soát để đảm bảo mã an toàn. Lớp thứ ba được
đảm bảo bởi trình thông dịch. Chúng kiểm tra xem bytecode có đảm bảo các qui tắc an

toàn trước khi thực thi. Lớp thứ tư kiểm soát việc nạp các lớp lên bộ nhớ để giám sát việc
vi phạm giới hạn truy xuất trước khi nạp vào hệ thống.
2.2.6 Phân tán
Java có thể dùng để xây dựng các ứng dụng có thể làm việc trên nhiều phần cứng, hệ
điều hành và giao diện đồ họa. Java được thiết kế cho các ứng dụng chạy trên mạng. Vì
vậy chúng được sử dụng rộng rãi trên Internet, nơi sử dụng nhiều nền tảng khác nhau.
2.2.7 Đa luồng
Chương trình Java sử dụng kỹ thuật đa tiến trình (Multithread) để thực thi các công việc
đồng thời. Chúng cũng cung cấp giải pháp đồng bộ giữa các tiến trình. Đặc tính hỗ trợ đa
tiến trình này cho phép xây dựng các ứng dụng trên mạng chạy uyển chuyển.
2.2.8 Động
Java được thiết kế như một ngôn ngữ động để đáp ứng cho những môi trường mở. Các
chương trình Java bổ xung các thông tin cho các đối tượng tại thời gian thực thi. Điều này
cho phép khả năng liên kết động các mã.
2.3 Các kiểu chương trình Java
Chúng ta có thể xây dựng các loại chương trình Java như sau:
2.3.1 Applets
Đây là chương trình chạy trên Internet thông qua các trình duyệt hỗ trợ Java như IE hay
Netscape. Bạn có thể dùng các công cụ của Java để xây dựng Applet. Applet được nhúng
bên trong trang Web hoặc file HTML. Khi trang Web hiển thị trong trình duyệt, Applet sẽ
được nạp và thực thi.
2.3.2 Ứng dụng thực thi qua dòng lệnh
Các chương trình này chạy từ dấu nhắc lệnh và không sử dụng giao diện đồ họa. Các
Chương 2: Nhập môn Java 27
thông tin nhập xuất được thể hiện tại dấu nhắc lệnh.
2.3.3 Ứng dụng đồ họa
Đây là các chương trình Java chạy độc lập cho phép người dùng tương tác qua giao diện
đồ họa.
2.3.4 Servlet
Java thích hợp để phát triển ứng dụng nhiều lớp. Applet là chương trình đồ họa chạy trên

trình duyệt tại máy trạm. Ở các ứng dụng Web, máy trạm gửi yêu cầu tới máy chủ. Máy
chủ xử lý và gửi ngược kết quả trở lại máy trạm. Các chương trình Java API chạy trên máy
chủ giám sát các quá trình tại máy chủ và trả lời các yêu cầu của máy trạm. Các chương
trình Java API chạy trên máy chủ này mở rộng khả năng của các ứng dụng Java API
chuẩn. Các ứng dụng trên máy chủ này được gọi là các Servlet. hoặc Applet tại máy chủ.
Các xử lý trên Form của HTML là cách sử dụng đơn giản nhất của Servlet. Chúng còn có
thể được dùng để xử lý dữ liệu, thực thi các transaction và thường được thực thi qua máy
chủ Web.
2.3.5 Ứng dụng cơ sở dữ liệu
Các ứng dụng này sử dụng JDBC API để kết nối tới cơ sở dữ liệu. Chúng có thể là Applet
hay ứng dụng, nhưng Applet bị giới hạn bởi tính bảo mật.
2.4 Máy ảo Java (JVM-Java Virtual Machine)
Máy ảo Java là trái tim của ngôn ngữ Java. Môi trường Java bao gồm năm phần tử sau:
 Ngôn ngữ
 Ðịnh nghĩa Bytecode
 Các thư viện lớp Java/Sun
 Máy ảo Java (JVM)
 Cấu trúc của file .class
Các phần tử tạo cho Java thành công là
 Ðịnh nghĩa Bytecode
 Cấu trúc của file .class
 Máy ảo Java (JVM)
Khả năng cơ động của file .class cho phép các chương trình Java viết một lần nhưng chạy
ở bất kỳ đâu. Khả năng này có được nhờ sự giúp đỡ của máy ảo Java.
2.4.1 Máy ảo Java là gì ?
Máy ảo là một phần mềm dựa trên cơ sở máy tính ảo. Nó có tập hợp các lệnh logic để xác
định các hoạt động của máy tính. Người ta có thể xem nó như một hệ điều hành thu nhỏ.
Nó thiết lập các lớp trừu tượng cho: Phần cứng bên dưới, hệ điều hành, mã đã biên dịch.
Trình biên dịch chuyển mã nguồn thành tập các lệnh của máy ảo mà không phụ thuộc vào
phần cứng cụ thể. Trình thông dịch trên mỗi máy sẽ chuyển tập lệnh này thành chương

trình thực thi. Máy ảo tạo ra một môi trường bên trong để thực thi các lệnh bằng cách:
 Nạp các file .class
 Quản lý bộ nhớ
 Dọn “rác”
Việc không nhất quán của phần cứng làm cho máy ảo phải sử dụng ngăn xếp để lưu trữ
các thông tin sau:
28 Core Java
 Các “Frame” chứa các trạng thái của các phương pháp.
 Các toán hạng của mã bytecode.
 Các tham số truyền cho phương pháp.
 Các biến cục bộ.
Khi JVM thực thi mã, một thanh ghi cục bộ có tên “Program Counter” được sử dụng.
Thanh ghi này trỏ tới lệnh đang thực hiện. Khi cần thiết, có thể thay đổi nội dung thanh
ghi để đổi hướng thực thi của chương trình. Trong trường hợp thông thường thì từng lệnh
một nối tiếp nhau sẽ được thực thi.
Một khái niệm thông dụng khác trong Java là trình biên dịch “Just In Time-JIT”. Các
trình duyệt thông dụng như Netscape hay IE đều có JIT bên trong để tăng tốc độ thực thi
chương trình Java. Mục đích chính của JIT là chuyển tập lệnh bytecode thành mã máy cụ
thể cho từng loại CPU. Các lệnh này sẽ được lưu trữ và sử dụng mỗi khi gọi đến.
2.4.2 Quản lý bộ nhớ và dọn rác
Trong C, C++ hay Pascal người lập trình sử dụng phương pháp nguyên thủy để cấp phát
và thu hồi bộ nhớ ở vùng “Heap”. Heap là vùng bộ nhớ lớn được phân chia cho tất cả các
thread.
Để quản lý Heap, bộ nhớ được theo dõi qua các danh sách sau:
Danh sách các vùng nhớ rảnh chưa cấp phát.
Danh sách các vùng đã cấp.
Khi có một yêu cầu về cấp phát bộ nhớ, hệ thống xem xét trong danh sách chưa cấp phát
để lấy ra khối bộ nhớ đầu tiên có kích cỡ sát nhất. Chiến thuật cấp phát này giảm tối
thiểu việc phân mảnh của heap.
“Coalescing” là kỹ thuật khác cũng giảm thiểu việc phân mảnh của heap bằ ng cách

gom lại các vùng nhớ chưa dùng liền nhau. Còn kỹ thuậ t sắp xếp lại các phần đã dùng
để tạo vùng nhớ rảnh lớn hơn gọi là “Compaction”.
Java sử dụng hai heap riêng biệt cho cấp phát vùng nhớ tĩnh và vùng nhớ động. Một heap
(heap tĩnh) chứa các định nghĩa về lớp, các hằng và danh sách các phương pháp. Heap
còn lại (heap động) được chia làm hai phần được cấp phát theo hai chiều ngược nhau.
Một bên chứa đối tượng còn một bên chứa con trỏ trỏ đến đối tượng đó.
“Handle” là cấu trúc bao gồm hai con trỏ. Một trỏ đến bảng phương pháp của đối tượng,
con trỏ thứ hai trỏ đến chính đối tượng đó. Chú ý rằng khi “compaction” cần cập nhật lại
giá trị con trỏ của cấu trúc “handle”.
Thuật toán dọn rác có thể áp dụng cho các đối tượng đặt trong heap động. Khi có yêu
cầu về bộ nhớ, trình quản lý heap trước tiên kiểm tra danh sách bộ nhớ chưa cấp phát.
Nếu không tìm thấy khối bộ nhớ nào phù hợp (về kích cỡ) thì trình dọn rác sẽ được kích
hoạt khi hệ thống rảnh. Nhưng khi đòi hỏi bộ nhớ cấp bách thì trình dọn rác sẽ được kích
hoạt ngay.
Trình dọn rác gọi hàm Finalize trước khi dọn dẹp đối tượng. Hàm này sẽ dọn dẹp các tài
nguyên bên ngoài như các file đang mở. Công việc này không được trình dọn rác thực thi.
2.4.3 Quá trình kiểm tra file .class
Việc kiểm tra được áp dụng cho tất cả các file .class sắp được nạp lên bộ nhớ để đảm bảo
tính an toàn. Trình “Class Loader” sẽ kiểm tra tất cả các file .class không thuộc hệ điều
hành với mục đích giám sát sự tuân thủ các nghi thức để phát hiện các file .class có nguy
cơ gây hư hỏng đến bộ nhớ, hệ thống file cục bộ, mạng hoặc hệ điều hành. Quá trình
kiểm tra sẽ xem xét đến tính toàn vẹn toàn cục của lớp.
File .class bao gồm ba phần logic là:
Chương 2: Nhập môn Java 29

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×