Tải bản đầy đủ (.pdf) (81 trang)

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (529.64 KB, 81 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH THỦY

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
DƢỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG
HÌNH PHẠT ĐƢỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH THỦY

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
DƢỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG
HÌNH PHẠT ĐƢỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐÀM THANH THẾ

HÀ NỘI, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
trích dẫn theo nguồn đã công bố. Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Phạm Thanh Thủy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƢỚI MỨC THẤP
NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ........................................................................ 9
1.1. Khái niệm và ý nghĩa được áp dụng về quyết định hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam ....................................... 9
1.2. Điều kiện của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt ........................ 11
1.3. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt quy định của Bộ luật đến trước khi ban hành BLHS năm 1999. ... 24
1.4. QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của bộ luật của một số nước ngoài ......... 30
CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT DƢỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƢỢC ÁP

DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN ......................................................................................................................... 35
2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự .................................................. 35
2.2. Thực tiễn thực hiện quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt tại thành phố Đà Nẵng ....................................................................................... 43
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HINH PHẠT DƢỚI MỨC THẤP NHẤT
CỦA KHUNG HÌNH PHẠT .................................................................................. 51
3.1. Hoàn thiện các quy định của BLHS về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt .................................................................................................................... 51
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng qui định về QĐHP dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt qui định của Bộ luật ................................................................. 53
3.3. Xây dựng án lệ và phổ biến giáo dục pháp luật ................................................. 67
3.4. Cập nhật BLHS năm 2015 ................................................................................. 68
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

QĐHP

: Quyết định hình phạt

TNHS


: Trách nhiệm hình sự


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.

Tên bảng
Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm của
TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016

Trang
45

2.2.

Tổng hợp xét xử của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng từ
năm 2012 – 2016

47

2.3.

Tổng hợp số liệu về áp dụng Điều 47 BLHS của TAND TP Đà
Nẵng từ năm 2012 – 2016

48



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản và quan trọng của
quá trình áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn xét xử các vụ án hình sự do Tòa
án thực hiện sau khi đã làm rõ các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ TNHS và nhân thân của người phạm tội. Quyết định hình phạt đúng pháp luật,
phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, có sự
cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của người phạm tội là
cơ sở để thực hiện các nguyên tắc của luật hình sự, đặc biệt là nguyên tắc pháp chế,
nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn xét xử của Tòa án.
Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của
Bộ luật là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt, tính đặc biệt của nó thể
hiện ở mức độ giảm nhẹ hình phạt đặc biệt so với trường hợp giảm nhẹ thông
thường khác, thông thường khi quyết định hình phạt thì Tòa án quyết định mức hình
phạt trong giới hạn của chế tài, còn khi áp dụng quy định về quyết định hình phạt
nhẹ hơn thì mức hình phạt xuống dưới mức tối thiểu của chế tài, phá vỡ chế tài mà
Nhà làm luật dự kiến áp dụng đối với người phạm tội. Thực tiễn xét xử cho thấy,
các Tòa án áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất là rất phổ
biến, điều đó thể hiện ở tỷ lệ các vụ án được áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu
của chế tài là khá cao so với tổng số vụ án đã xét xử, tính phổ biến còn thể hiển ở
chỗ là hầu hết các Tòa án đều áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt trong hoạt động quyết định hình phạt của mình.
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật có vai
trò hết sức quan trọng đối với thực tiễn xét xử là phương tiện để đạt đến sự công
bằng xã hội và là biểu hiện của chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối
với người phạm tội. Do vậy, khi áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất

của khung hình phạt đòi hỏi Tòa án phải hết sức thận trọng, hạn chế những sai sót


2
khi áp dụng quy định này, bởi lẽ nếu áp dụng đúng thì sẽ bảo đảm bằng công bằng
xã hội, bảo đảm hình phạt được áp dụng tương xứng với tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đây cũng chính là cơ sở để đạt được mục
đích của hình phạt và giảm chi phí cho hoạt động thi hành hình phạt, ngược lại nếu
lạm dụng quy định này để QĐHP quá nhẹ, không nghiêm khắc sẽ làm giảm tính uy
nghiêm của hình phạt, hình phạt được áp dụng không tương xứng với tính chất và
mức độ nguy hiểm cho xã hội làm cho mục đích của hình phạt không đạt được và
gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Như vậy, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được
các Tòa án áp dụng khá phổ biến và có vai trò quan trọng cả về mặt lý luận và thực
tiễn. Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng quy định này vẫn còn nhiều bất cập, vướng
mắc và thiếu sót chẳng hạn như: QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
phải tuân thủ điều kiện ít nhất có hai tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 Điều 46
BLHS thì vẫn còn nhiều bất cập nên chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử,
thực tiễn cho thấy có rất nhiều vụ án người phạm tội có một tình tiết giảm nhẹ theo
khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS theo khoản 2 Điều
46 BLHS và xét về trường hợp phạm tội này thì đáng được hưởng mức án dưới mức
tối thiểu của chế tài, nhưng do không có đủ hai tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định
tại khoản 1 Điều 46 BLHS nên Tòa án không thể QĐHP dưới mức tối thiểu của chế
tài được; vẫn còn tình trạng vi phạm giới hạn giảm nhẹ theo quy định nghĩa là xử
mức án dưới mức tối thiểu của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn vì nhiều nguyên
nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ sự thiếu chỉ dẫn thế nào là khung hình
phạt nhẹ hơn liền kề đối với các điều luật có cấu trúc khung hình phạt không theo
trật tự thông thường; vướng mắc trong việc áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu
của chế tài khi người phạm tội đủ điều kiện luật định nhưng lại có thêm tình tiết
tăng nặng TNHS; vướng mắc khi quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại

nhẹ hơn có phải tuân thủ các quy định chung của loại hình phạt đó hay không;
vướng mắc khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc đối với người chưa thành niên phạm tội;
vướng mắc trong việc xác định các tình giảm nhẹ để làm căn cứ quyết định hình


3
phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt..v.v. Những bất cập, vướng mắc và
thiếu sót khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là do nhiều nguyên
nhân khác nhau, có những nguyên nhân thuộc về chủ quan của Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân do không nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật hình sự,
cũng có những nguyên nhân khách quan là do những bất cập của pháp luật hình sự
liên quan đến QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bên cạnh đó, cùng
với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước; xu hướng toàn cầu hóa,
nhân đạo hóa thì nhiều vấn đề của luật hình sự trong đó có QĐHP dưới mức thấp
nhất hơn quy định của Bộ luật về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu hoàn
thiện để đáp ứng yêu cầu yêu cầu cấp thiết trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án
cũng như yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính Trị
trong giai đoạn hiện nay.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quyết định hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận
văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật là một
trong những đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn được nhiều tác giả có
nhiều uy tín trong lĩnh vực hình sự đề cập trong nhiều công trình khoa học khác
nhau, chẳng hạn như các Chuyên khảo: “Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình
phạt trong luật hình sự Việt Nam” củaThạc sĩ Đinh Văn Quế và Tiến sĩ Lê Văn Đệ,
“Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của Tiến sĩ Dương Tuyết Miên,
“Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam” của Tiến

sĩ Trần Thị Quang Vinh. Các Chuyên khảo cũng đề cập đến QĐHP dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt, tuy nhiên chưa có Chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về
quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật.
Dưới cấp độ luận văn cử nhân thì có luận văn: “Quyết định hình phạt dưới mức tối
thiểu của chế tài - những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2002 của tác giả Nguyễn
Thị Khánh Ly, trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn này cũng đã
nêu ra khái niệm QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đề cập những vấn


4
đề pháp lý của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đáng
giá thực tiễn áp dụng và đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện cũng như nâng
cao hiệu quả áp dụng của quy định này. Tuy nhiên, luận văn này cũng chưa làm rõ
hết những vấn đề lý luận của quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt, chưa đánh giá hết những bất cập vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng quy định này, luận văn cũng chỉ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng.
Về các bài viết chuyên môn thì có: “Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của Bộ luật hình sự” của tác giả Lê Đăng Doanh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân
số 12/2003, “Bàn về việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt
nhẹ hơn quy định của Bộ luật” của tác giả Trương Thị Hằng đăng trên tạp chí Viện
kiểm sát nhân dân số 5/2009, “Một số vấn đề khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự”
của tác giả Nguyễn Minh Hải đăng trên Tạp chí tòa án nhân dân số 18/2009, “Một
số vấn đề áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt tù đối với người
phạm tội” của tác giả Đinh Văn Quế đăng trên Tạp chí toà án nhân dân số
03/2009.v.v.Các bài viết trên đã bàn luận, làm rõ và giải quyết nhiều vấn đề về mặt
lý luận và thực tiễn áp dụng của quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn, giúp cho
người tiếp cận nắm rõ được vấn đề mình quan tâm, nhưng các bài viết này cũng chỉ
nêu những vướng mắc cụ thể chứ chưa hệ thống những bất cập, vướng mắc khi áp
dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vào

thực tiễn xét xử.
Tóm lại, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật
tuy đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau thể hiện một phần ở
các công trình chuyên khảo, luận văn cử nhân cho đến những bài viết trên các tạp
chí chuyên ngành nhưng vẫn chưa làm rõ các vấn đề pháp lý của nó, chưa hệ thống
những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và chưa đưa ra những giải pháp toàn diện
để hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do vậy, tiếp tục nghiên cứu quy định về
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là cần thiết và có ý nghĩa quan
trọng trong việc hoàn thiện về mặt lý luận để đáp ứng yêu cầu thực tiễn xét xử của


5
ngành Tòa án trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.
Điều đó cho thấy yêu cầu nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến việc áp dụng Điều 47
BLHS năm 1999 (Điều 54 BLHS năm 2015) là hoàn toàn có giá trị khoa học và rất
thiết thực. Làm được điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng
hình phạt, qua đó đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử
các vụ án hình sự theo tinh thần của NQ số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách tuyên đối có hệ thống về các vấn đề lý luận và
thực tiễn QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đồng thời đi sâu phân
tích đánh giá thực tiễn của BLHS trong giai đoạn 2012-2016, trên cơ sở đó chỉ ra
một số vướng mắt, tồn tại trong thực tiễn, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung thực
hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

+ Làm rõ những vấn đề thuộc về mặt pháp lý cơ bản của quy định về QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt;
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt của Tòa án trong thời gian qua, so sánh, đối chiếu để làm rõ
những bất cập, vướng mắc và nguyên nhân của nó;
+ Trên cơ sở phân tích những thiếu sót, bất cập và vướng mắc trong thực tiễn
xét xử, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLHS cũng như
hướng dẫn áp dụng và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng về
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực tiễn cho thấy rằng, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liên
quan rất nhiều đến các chế định khác của luật hình sự: Hình phạt, quyết định hình


6
phạt, căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS.v.v, việc
đề cập đến các vấn đề trên cũng chỉ nhằm mục đích giải quyết một cách có hệ thống
và làm rõ hơn vấn đề của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt. Do vậy, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của BLHS và các hướng
dẫn áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đồng thời đặt nó
trong mối quan hệ với các trường hợp quyết định hình phạt khác chứ không nghiên
cứu tất cả các trường hợp quyết định hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự. Về
nghiên cứu thực tiễn, luận văn tập trung nghiên cứu các bản án hình sự sơ thẩm và
phúc thẩm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: là nghiên cứu quy định về QĐHP dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt dưới góc độ luật hình sự. Trong quá trình nghiên cứu có
đề cập đến sự hình thành và phát triển của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt nhưng chỉ để làm sáng tỏ vấn đề chứ không đi sâu các quy định
đó, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quy định này từ khi có BLHS năm 1985 và

đặc biệt là BLHS năm 1999. Bên cạnh đó tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng
quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
+ Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - LêNin; Tư tưởng
Hồ Chí Minh và Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước về phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội; Chính sách hình sự,
chính sách nhân đạo, các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam về vấn đề cải cách
tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng X, XI và các Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02.01.2001, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26.5.2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năn 2020 của Bộ Chính trị; các quy định về QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại BLHS năm 1999 và căn cứ
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và các văn bản hướng dẫn thi hành
BLHS năm 1999.


7
+ Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP trong hoạt động QĐHP
của TAND hai cấp TP Đà Nẵng từ khi BLHS năm 1999 đến nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu luận văn cũng bám sát việc sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chính của khoa học hình sự để thấy rõ mức độ hiệu quả của quy định
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam,
đó là: phương pháp xã hội học, phương pháp loogic hình thức, phương pháp luật
học - lịch sử, phương pháp luật học - so sánh và phương pháp biện chứng.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống
kê, quy nạp để phân tích cụ thể thực trạng áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của
BLHS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cũng như nhằm làm rõ những nguyên nhân

cơ bản của các bất cập, tồn tại trong thực tiễn áp dụng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Xây dựng khái niệm QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy
định của BLHS, đảm bảo lý luận khoa học, thống, đồng thời cũng có thể là cơ sở
tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt quy định của Bộ luật.
Dựa trên những nghiên cứu lý luận về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt, tìm hiểu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về áp dụng và kết quả
đánh giá thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng nhằm góp phần nhận thức đúng các căn cứ
QĐHP dưới mức thấp nhất và tầm quan trọng của nó.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Điểm mới quan trọng nhất của luận văn là đưa ra các yêu cầu và giải pháp bảo
đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt, bao gồm: Yêu cầu thực hiện đúng các nguyên tắc áp dụng; Yêu cầu của
cải cách tư pháp; Yêu cầu bảo vệ quyền con người; Yêu cầu phòng và chống tội
phạm; Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ QĐHP gồm: Ban hành các
văn bản hướng dẫn, tập huấn thi hành BLHS 2015; Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về


8
các căn cứ QĐHP; Tăng cường năng lực người tiến hành tố tụng, Luật sư; Tăng
cường giám đốc, kiểm tra và tổng kết công tác xét xử nói chung việc áp dụng các
căn cứ QĐHP nói riêng; Xây dựng án lệ và phổ biến giáo dục pháp luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đẩu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Những vần đề lý luận và lịch sử luật pháp luật hình sự Việt Nam về
quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Chương 2: Quy định của BLHS năm 1999 về quyết định hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và
thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật về quyết
định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.


9

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƢỚI
MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT
1.1. Khái niệm và ý nghĩa đƣợc áp dụng về quyết định hình phạt dƣới mức
thấp nhất của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam
Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo
dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, góp phần
tác động lớn đối với xã hội thông qua việc tuyên truyền, phổ biến các quy định luật
hình sự, tính nghiêm minh phán quyết của Tòa án tạo nên lòng tin của công dân, uy
tín của cơ quan tư pháp, tính nhân đạo và dân chủ của Nhà nước pháp quyền.
Khi QĐHP đối với bị cáo có hiều tình tiết giảm nhẹ, mặc dù Tòa án có thể
tuyên cho người phạm tội dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng xét về
mức độ tương xứng giữ tội phạm và hình phạt thì hình phạt vẫn chưa nghiêm khắc,
vì vậy luật hình sự cho phép Tòa án QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
Có nhiều quan điểm khoa học khác nhau về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt, nhiều quan điểm khoa học chỉ dừng lại ở việc giải thích nội dung
của quy phạm pháp luật mà chưa đưa ra được tiêu chí và tiêu chuẩn quan trọng đánh

giá khách quan và chính xác quy phạm pháp luật. Cụ thể:
Tại Giáo trình luật Hình sự (Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội cho rằng: QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy
định tức là áp dụng hình phạt đó với mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều
luật quy định đối với tội phạm bị xét xử, còn chuyển sang một hình phạt khác thuộc
loại nhẹ hơn nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định trong điều luật về tội
phạm bị xét xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn không được quy định trong


10
điều luật [47,tr332].
Theo quan điểm của Ths. Đinh Văn Quế trong bài tìm hiểu về hình phạt và
QĐHP trong BLHS Việt Nam thì “QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
là trường hợp Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại
nhẹ hơn” [15,tr220]
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm chung của QĐHP dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt quy định của BLHS gồm những đặc điểm sau:
- Phải tuân thủ những điều kiện nhất định theo quy định của BLHS
- Việc áp dụng chỉ do duy nhất một cơ quan áp dụng là Tòa án và chỉ được
tiến hành sau khi định tội danh đối với người phạm tội.
- Phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội.
- Hình phạt do Tòa án quyết định đối với người bị kết án trong trường hợp
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung liền kề không nằm trong khung hình phạt mà
Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng phải nằm
trong khung liền kề nhẹ hơn hoặc loại hình phạt khác nhẹ hơn.
- Phải được thể hiện bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Tóm lại: từ những phân tích nêu trên, học viên có thể đưa ra khái niệm như
sau: “QĐHP dưới mức thấp nhất của khung liền kề là hoạt động thực tiễn do HĐXX
áp dụng các quy định của pháp luật hình sự dựa trên những nguyên tắc nhất định

và thực hiện tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định một mức hình phạt dưới
mức thấp nhất thuộc một loại hình phạt được quy định trong khung hình phạt tại
điều luật cụ thể hoặc chuyển sang một loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
khung hình phạt tại điều luật cụ thể của Phần các tội phạm BLHS mà bị cáo đã
thực hiện và Tòa án đã đưa ra xét xử”
1.1.2. Ý nghĩa của việc áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ
luật
Ý nghĩa về mặt xã hội
Việc Nhà làm luật quy định QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật
trong pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng về phương diện xã hội, nó bảo


11
đảm cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội trong lĩnh vực hình sự. Trong
lĩnh vực hình sự khi nói đến công bằng thì chúng ta có thể hiểu:
Công bằng có hai khía cạnh: Công bằng ngang bằng và công bằng phân phối,
ở khía cạnh ngang nhau của công bằng thể hiện ở việc: Quy định cơ sở TNHS thống
nhất đối với tất cả mọi người thực hiện tội phạm; quy định hệ thống tội phạm và
hình phạt thống nhất đối với tất cả mọi người phạm tội; quy định khung hình phạt
thống nhất cho mỗi loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
giống nhau; quy định cơ sở thống nhất của việc quyết định hình phạt.
- Ý nghĩa về mặt pháp lý
Về mặt pháp lý, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của
Bộ luật có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện ở các khía cạnh sau:
- QĐHP dưới mức thấp nhất là quy định có ý nghĩa là phương tiện cá thể hóa
trách nhiệm hình sự sao cho hình phạt được tuyên sát nhất với tính chất, mức độ
phạm tội cụ thể
- Thể chế hóa chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người
phạm tội.
Tóm lại, QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật trong pháp luật hình

sự Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về mặt xã hội và pháp lý, quy định này trong
pháp luật hình sự Việt Nam tạo cơ sở pháp lý để thực hiện cá thể hóa trách nhiệm
hình sự, bảo đảm phán quyết của Tòa án là công bằng và nhân đạo, thể hiện chính
sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội, tạo tâm lý an
tâm cải tạo cho người phạm tội, tránh những tác động tiêu cực của hình phạt đối với
người phạm tội và gia đình của họ qua đó thực hiện tối ưu mục đích của hình phạt.
Do vậy, cần phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả vận dụng của quy định QĐHP
dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử
nhằm bảo đảm nguyên tắc nhận đạo, công bằng trong hoạt động QĐHP của Tòa án
ở giai đoạn hiện nay.
1.2. Điều kiện của QĐHP dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là trường hợp đặc biệt của
QĐHP, khi áp dụng quy định này thì mức hình phạt được tuyên sẽ xuống dưới mức


12
tối thiểu của chế tài, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất nhằm bảo đảm cho
việc thực hiện nguyên tắc cá thể hóa TNHS khi QĐHP, bảo đảm hình phạt được
tuyên tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi. Để bảo đảm cho việc áp dụng
quy định này trong thực tiễn xét xử được thống nhất và tránh sự lạm quyền của Tòa
án khi vận dụng quy định này để QĐHP quá nhẹ, không bảo đảm tính hiệu quả của
hình phạt và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do vậy,
Điều 47 BLHS quy định điều kiện về số lượng tình tiết giảm nhẹ luật định và giới
hạn giảm nhẹ khi QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt, quy định điều
kiện về số lượng tình tiết giảm nhẹ luật định khi quyết định chuyển sang hình phạt
khác thuộc loại nhẹ hơn.
Điều 47 BLHS quy định như sau:
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này,
Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
nhưng phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường

hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình
phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý
do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Phân tích nội dung của điều luật ta thấy để có thể quyết định một hình phạt
dưới mức thấp nhất mức tối thiểu của chế tài thì cần phải đáp ứng các điều kiện về
tình tiết giảm nhẹ luật định và giới hạn giảm nhẹ hình phạt như sau:
1.2.1. Quy định của BLHS về điều kiện tình tiết giảm nhẹ để áp dụng QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
Theo quy định tại Điều 47 BLHS, để QĐHP nhẹ hơn thì người phạm tội phải
có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết phán ánh mức độ
giảm nhẹ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải
tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt đáng được khoan hồng của người phạm tội. Các tình
tiết giảm nhẹ TNHS là điều kiện tiên quyết để Tòa án có thể quyết định mức hình
phạt dưới mức tối thiểu của chế tài, chỉ có những tình tiết giảm nhẹ quy định tại


13
khoản 1 Điều 46 BLHS mới được coi là tình tiết giảm nhẹ như là điều kiện và phải
đáp ứng là có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ này thì Tòa án mới có thể QĐHP dưới
mức tối thiểu của chế tài.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì có các tình tiết giảm nhẹ sau:
a. Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm
Là trường hợp trong quá trình thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội
phạm đã có hành vi ngăn chặn không cho tác hại của tội phạm xảy ra hoặc làm giảm
bớt tác hại của tội phạm, hành vi ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm
được xem là tình tiết giảm nhẹ đối với mọi hình thức lỗi không phân biệt là lỗi cố ý
hay vô ý. Sự kết hợp giữa thái độ tích cực của người phạm tội là mong muốn ngăn
chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm với mức độ tác hại thực tế xảy là cơ sở

giảm nhẹ TNHS và mức độ giảm nhẹ này tùy thuộc từng trường hợp phạm tội cụ thể.
b. Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả
Là trường hợp người phạm tội với thái độ tự nguyện, không ai ép buộc bằng
nhiều cách khác nhau nhằm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục những thiệt
hại do tội phạm gây ra. Tình tiết này được thể hiện rất đa dạng như tự nguyện sửa
chữa tài sản bị hư hỏng, tự nguyện trả lại tài sản bị chiếm đoạt, ...v.v . Thực tiễn
cũng cho thấy nếu người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khác
phục hậu quả toàn bộ thì mức độ giảm nhẹ hình phạt được Tòa án áp dụng cao hơn
những trường hợp chỉ sửa chữa, bồi thường thiệt hại hay chỉ khắc phục một phần
hậu quả mà tội phạm gây ra.
c. Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Là trường hợp vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi
ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả rõ ràng quá mức cần
thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm
hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt về TNHS so với các tình tiết giảm nhẹ khác,
bởi vì người phạm tội thực hiện tội phạm trong hoàn cảnh đang có sự tấn công trái
pháp luật của người bị hại và vì bảo vệ các lợi ích nói trên mà buộc phải chống trả
lại sự tấn công, người phạm tội không có nhiều lựa chọn hành vi để phản ứng phù
hợp với mức độ tấn công của người bị hại, có nghĩa là người phạm tội bị hạn chế


14
khả năng lựa chọn hành vi và đây chính là cơ sở giảm nhẹ đặc biệt của tình tiết này.
d. Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
Là trường hợp vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà
nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà đã
gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết. Như vậy, người phạm tội thực
hiện tội phạm trong hoàn cảnh đang diễn ra một tình trạng nguy hiểm, buộc phải hy
sinh lợi ích nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa nhưng, đây là cơ sở để giảm nhẹ TNHS
và tình tiết này là một tình tiết giảm nhẹ đặc biệt hơn.

đ. Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp
luật của người bị hại hoặc người khác gây ra
Đây là trường hợp phạm tội do người phạm tội không hoàn toàn làm chủ được
tinh thần, tình cảm của mình do tác động của một hành vi trái pháp luật của người bị
hại hoặc do người khác gây ra. Trong tình trạng trên, người phạm tội phần nào bị hạn
chế khả năng điều kiển hành vi, vì vậy họ lựa chọn cách xử sự không phù hợp với qui
định của pháp luật dẫn đến hành vi phạm tội. Đây chính là cơ sở giảm nhẹ TNHS,
mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật,
mức độ bị kích động về tinh thần và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
e. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra
Là trường hợp phạm tội dưới sự tác động của một hoàn cảnh khách quan đặc
biệt mà không do người phạm tội gây ra, là những hoàn cảnh mà tự mình người đó
không thể vượt quanhư: Thiên tai, địch họa, tai nạn, bệnh tật, thất nghiệp lâu ngày
túng quẫn về kinh tế nên dẫn đến hành vi phạm tội nhằm đáp ứng nhu cầu tối thiểu
có tính cấp bách. Khi người phạm tội rơi vào hoàn cảnh trên họ bị hạn chế về khả
năng lựa chọn hành vi, hoàn cảnh chi phối phần nào đến hành vi phạm tội của họ và
đây cũng chính là cơ sở để giảm nhẹ TNHS.
g. Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn
Là trường hợp phạm tội nhưng thiệt hại trên thực tế chưa xảy ra hoặc đã xảy ra
nhưng không lớn, trong thực tiễn thì tình tiết này thường được áp dụng cho những
trường hợp hành vi phạm tội bị phát hiện kịp thời nên không phát sinh thiệt hại do
có sự ngăn chặn kịp thời của người khác, tài sản bị chiếm đoạt được trả lại ngay cho


15
người bị hại hoặc đã gây thiệt hại nhưng chỉ là những thiệt hại nhỏ về tài sản. Sự
hạn chế ở mức độ thiệt hại là cơ sở để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng mức độ
giảm nhẹ của tình tiết này thấp hơn so với tình tiết “Người phạm tội đã ngăn chặn,
làm giảm bớt tác hại của tội phạm”, vì mức độ thiệt hại trong trường hợp này mang
tính khách quan nằm ngoài sự mong muốn chủ quan của người phạm tội.

h. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
Là tình tiết giảm nhẹ khi hội đủ hai điều kiện: phạm tội lần đầu và thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng.Trong thực tiễn, khi vận dụng tình tiết này vẫn chưa có sự thống
nhất về nội dung của nó, về phạm tội lần đầu còn nhiều cách hiểu khác nhau nhưng
tựu trung có hai quan điểm đó là: Phạm tội lần đầu là lần đầu tiên bị bị xét xử, bị kết
án và phạm tội lần đầu là lần đầu tiên thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà
theo quy định của pháp luật hình sự là tội phạm. Về “trường hợp ít nghiệm trọng” thì
cũng còn nhiều quan điểm khác nhau có quan điểm dựa vào mức hình phạt cao nhất
không quá ba năm thì thuộc trường hợp ít nghiêm trong, ngược lại có quan điểm cho
rằng để đánh giá trường hợp nào thì thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thì phải dựa
vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội trên thực tế.
i. Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức
Là trường hợp phạm tội do bị chi phối bởi ý chí của người khác thông qua việc
bị đe dọa hoặc bị cưỡng bức. Nội dung của sự đe dọa thường được thể hiện ở việc
đe dọa gây thiệt hại cho người khác. Cưỡng bức ở đây được hiểu là hành vi dùng vũ
lực uy hiếp tinh thần của người khác buộc họ phải thực hiện tội phạm.
k. Phạm tội do lạc hậu
Là trường hợp phạm tội do bị hạn chế về mặt nhận thức, sự hạn chế này là do
điều kiện, hoàn cảnh sống đưa lại nên nó có giá trị giảm nhẹ TNHS như người
phạm tội do mê tín, dị đoan của người thiểu số ở miền núi, hoặc ở những vùng sâu,
nên điều kiện tiếp nhận kiến thức có phần hạn chế, để được áp dụng tình tiết giảm
nhẹ này không những dựa vào trình độ lạc hậu mà còn phải xem xét đến việc phạm
tội đó có gắn liền với trình độ lạc hậu đó hay không.
l. Người phạm tội là phụ nữ có thai
Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng trong trường hợp người phạm


16
tội là phụ nữ đang mang thai, cơ sở giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết
“người phạm tội là phụ nữ có thai” xuất phát từ tình trạng đặc biệt về tâm sinh lý

của người đang mang thai có ảnh hưởng đến khả năng tự kiểm soát hành vi nên
phần nào ảnh hưởng đến mức độ lỗi của người phạm tội. Thể hiện chính sách nhân
đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội là phụ nữ có thai nhằm khoan hồng cho
hành vi phạm tội, tạo cơ hội để họ sửa chữa sai lầm và chăm sóc con khi nó được
sinh ra.
m. Người phạm tội là người già
Là tình tiết giảm nhẹ TNHS là xuất phát từ việc cho rằng người già bị giảm sút
về trí lực và thể lực nên phần nào hạn chế sự kiểm soát hành vi, bên cạnh đó thì tình
tiết giảm nhẹ này cũng thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người
phạm tội là người già.
n. Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình
Đây là trường hợp phạm tội mà tại thời điểm phạm tội người phạm tội đang
trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do
bị mắc bệnh. Như vậy, tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng đến khả năng nhận thức,
khả năng điều khiển hành vi nên mức độ lỗi trong trường hợp phạm tội này hạn chế
hơn so với trường hợp thông thường.
o. Người phạm tội tự thú
Là trường hợp tội phạm chưa được phát giác mà người phạm tội tự nguyện
khai báo hành vi phạm tội của mình với cơ quan có thẩm quyền. Về bản chất thì tự
thú khác với đầu thú, nếu tự thú là hành vi khai báo trước khi tội phạm bị phát giác
còn đầu thú thì ngược lại sau khi tội phạm đã được phát hiện thì người phạm tối mới
đến khai báo về hành vi phạm tội của mình. Người phạm tội tự thú là tình tiết giảm
nhẹ đặc biệt so với các tình tiết giảm nhẹ khác thể hiện sự hối hận về hành vi phạm
tội của mình và chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, điều đó phản ánh khả năng
cải tạo tốt của người phạm tội.
p. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Là trường hợp tội phạm đã bị phát hiện, nhưng khi điều tra, truy tố hoặc xét xử



17
người phạm tội tự nguyện khai báo hành vi phạm tội của mình, khai báo không phải
là nghĩa vụ của người phạm tội, họ không có trách nhiệm chứng minh hành vi phạm
tội hay vô tội của mình, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến
hành tố tụng. Do vậy, người phạm tội tự nguyện khai báo hành vi phạm tội của
mình giúp cho việc điều tra, truy tố và xét xử vụ án được nhanh chóng, đúng người,
đúng tội và đúng pháp luật, đây là cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này.
Ăn năn hối cải được hiểu là thái độ hối hận về việc đã thực hiện tội phạm và
mong muốn được sửa chữa lỗi lầm của mình thông qua quyết tâm cải tạo để trở
thành người có ích cho xã hội, sự ăn năn hối cải đó còn thể hiện ở thái xin lỗi người
bị hại, gia đình bị hại mong muốn họ tha thứ.
q. Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện,
điều tra tội phạm
Tình tiết giảm nhẹ này được hiểu người phạm tội đã hành vi cung cấp tin tức, tài
liệu, bằng chứng có ý nghĩa thiết thực cho việc phát hiện tội phạm và xử lý đúng đắn
vụ án. Thái độ tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm để phát hiện tội phạm đã
thể hiện sự nhận thức về tội lỗi mà người phạm tội và đồng bọn thực hiện, chính sự
hợp tác này đã giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm điều tra nhanh chóng vụ án, tội
phạm mới hoặc người phạm tội khác nhằm bảo đảm trật tự an toàn cho xã hội.
r. Người phạm tội đã lập công chuộc tội
Người phạm tội đã lập công chuộc tội là: Đã lập công chuộc tội là trường hợp
sau khi thực hiện tội phạm cho đến trước khi bị xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm), người phạm tội không những ăn năn hối cải, tích cực giúp đỡ
các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm do họ thực hiện, mà họ còn
có những hành động giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các
tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt kẻ phạm tội, có hành động thể hiện
sự quên mình vì lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của
người khác... được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận.
Cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này là ở thái độ hối lỗi sâu sắc của người
phạm tội, không chỉ dừng lại thái độ hối lỗi, tự sửa chửa hành vi phạm tội mà còn

có hành động giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm, đây được coi là sự


18
tiến bộ của người phạm tội nên tình tiết này được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS.
s. Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu,
học tập hoặc công tác
Đây là tình tiết phản ánh quá trình phấn đấu tốt của người phạm tội trước khi
thực tội phạm, sự phấn đấu tốt đó thể hiện ở những thành tích xuất sắc trong sản
xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác được Nhà nước ghi nhận và phong tặng các
danh hiệu ở các cấp độ khác nhau. Cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này xuất phát
từ đòi hỏi công bằng thông qua việc cân nhắc giữa công và tội, đồng thời cũng tính
đến khả năng cải hóa người phạm tội.
Các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS là những tình tiết
giảm nhẹ có giá trị giảm nhẹ cao hơn so với các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản
2 Điều 46 BLHS, bởi lẽ nó là những tình tiết giảm nhẹ luật định liên quan đến tính
chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội,
nhân thân người phạm tội các tình tiết giảm nhẹ này có ý nghĩa làm giảm mức độ
nguy hiểm của tội phạm, phản ánh khả năng cải tạo giáo dục hoặc hoàn cảnh đặc biệt
của người phạm tội đáng được khoan hồng. Các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều
46 BLHS cũng phản ánh ý nghĩa giảm nhẹ TNHS nhưng chúng là những tình tiết
giảm nhẹ do Tòa án xác định trong quá trình xét xử vụ án đối với trường hợp phạm
tội cụ thể, không phải là tình tiết giảm nhẹ luật định nên có giá trị giảm nhẹ thấp hơn
so với các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS.
Nhà làm luật qui định điều kiện để Tòa án có thể QĐHP nhẹ hơn khi người
phạm tội đáp ứng điều kiện là phải có hai tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1
Điều 46 chứ không phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có tình tiết giảm nhẹ
qui định tại khoản 2 Điều 46 hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2
Điều 46 BLHS. Do vậy, Khi hướng dẫn áp dụng QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ
luật thì Tòa án ND tối cao có hướng dẫn “Cần phải hạn chế và hết sức chặt chẽ khi

áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, trong trường hợp nếu
không có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm
1999, thì bị cáo phải bị xử ở mức cao của khung hình phạt”.
Thực tiễn xét xử cho thấy, cùng một loại tội phạm nhưng không phải ai cũng


19
thực hiện giống nhau về phương thức, thủ đoạn phạm tội, tính chất và mức độ thực
hiện tội phạm không giống nhau, nhân thân người phạm tội cũng rất khác nhau.
Mặc dù, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã được
Nhà làm luật cân nhắc trong xây dựng cấu thành tội phạm và khung hình phạt
nhưng các Nhà làm luật cũng không thể dự liệu hết các trường hợp phạm tội xảy ra
trong thực tế.
Trong quá trình xét xử, Tòa án thường đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội của người phạm tội khi chưa xem xét các tình tiết
giảm nhẹ TNHS mà tương ứng với mức thấp của khung chế tài và họ có nhiều tình
tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì Tòa án áp dụng hình phạt dưới
mức tối thiểu của chế tài. Việc áp dụng như vậy là phù hợp với thực tiễn xét xử vì
có những trường hợp phạm tội khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội tương ứng với mức thấp của chế tài và họ có nhiều
tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 46 BLHS mà Tòa án QĐHP trong giới
hạn của chế tài là quá nghiêm khắc, không tương xứng với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Do vậy, trong trường hợp nêu trên Tòa
án thường vận dụng quy định về QĐHP nhẹ hơn để quyết định mức hình phạt dưới
mức tối thiểu của chế tài đối với người phạm tội.
Khi QĐHP nhẹ hơn Tòa án còn phải đáp ứng yêu cầu “…Lý do của việc giảm
nhẹ phải được ghi rõ trong bản án…”
Yêu cầu để Tòa án có thể QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài đó là “…Lý do
của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án…” được hiểu là trong phần nhận
xét thì Tòa án cần nêu lên sự nhận xét đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của

hành vi phạm tội đối với người bị hại nói riêng và cho xã hội nói chung, đáng giá
mức độ ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ đối với hành vi thực hiện tội phạm của
người phạm tội. Trên cơ sở đánh giá đó Tòa án kết luận cần áp dụng mức hình phạt
nào sao cho tương xứng với hành vi phạm tội của người phạm tội nhằm bảo đảm
tính hiệu quả của hình phạt. Trong phần quyết định Tòa án viện dẫn những căn cứ
áp dụng khi QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài và quyết định loại, mức hình phạt
cụ thể đối với họ. Yêu cầu này nhằm đảm bảo cho Tòa án áp dụng quy định về


×