Tải bản đầy đủ (.pdf) (33 trang)

THEO dõi sự THÀNH THỤC và KÍCH THÍCH SINH sản cá CHẠCH lấu (MASTACENBELUS FAVUS)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 33 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THEO DÕI SỰ THÀNH THỤC VÀ KÍCH THÍCH SINH SẢN CÁ
CHẠCH LẤU (MASTACENBELUS FAVUS)

TP CẦN THƠ, THÁNG 7/2012


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THEO DÕI SỰ THÀNH THỤC VÀ KÍCH THÍCH SINH SẢN CÁ
CHẠCH LẤU (MASTACENBELUS FAVUS)

Cán bộ hướng dẫn:
TS. Phạm Minh Thành

TP CẦN THƠ, THÁNG 7/2012


MỤC LỤC
PHẦN I: GIỚI THIỆU ...................................................................................... 1
Mục tiêu đề tài .................................................................................................. 2
Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................................ 3

2.1 Hệ thống phân loại của cá chạch lấu ............................................................ 3
2.2. Đặc điểm sinh học cá chạch lấu .................................................................. 3


2.2.1 Hình thái bên ngoài cá chạch lấu .............................................................. 3
2.2.2 Đặc điểm phân bổ..................................................................................... 4
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng .............................................................................. 4
2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng .............................................................................. 5
2.2.5 Đặc điểm sinh sản..................................................................................... 5
2.3 Nuôi vỗ thành thục sinh dục cá chạch lấu ................................................... 5
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................... 7
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu................................................................ 7
3.2.Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm ................................................................... 7
3.3.Phương pháp thực hiện ................................................................................ 7
3.3.1 Bố trí thí nghiệm ...................................................................................... 7
3.3.1.1 Nuôi vỗ cá chạch lấu ............................................................................. 7
3.3.1.2 Sinh sản nhân tạo cá chạch lấu............................................................... 8
3.3.2 Chọn cá bố mẹ cho sinh sản...................................................................... 10
3.3.3 Phương pháp thụ tinh nhân tạo và ấp trứng .............................................. 11
3.3.3.1 Phương pháp thụ tinh nhân tạo............................................................... 11
3.3.3.2 Phương pháp ấp trứng............................................................................ 11
3.3.4 Phương pháp thu và phân tích mẫu ........................................................... 12
3.3.4.1 Phương pháp thu mẫu môi trường ........................................................ 12
3.3.4.2 Phương pháp thu các chỉ tiêu sinh sản của cá ........................................ 12
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................ 13
Phần IV: Kế quả thảo luận ............................................................................... 14
4.1 Kết quả nuôi cá bố mẹ ................................................................................ 14
4.1.1 Điều kiện môi trường ............................................................................... 14


4.1.2 Sự thành thục của cá ................................................................................ 15
4.1.2.1 Đặc điểm thành thục và tuyến sinh dục cá ............................................. 15
4.1.2.2 Tỷ lệ thành thục cá Chạch lấu sau 3 tháng nuôi vỗ ................................ 17
4.1.2.3 Hệ số thành thục Cá Chạch lấu sau 3 tháng nuôi vỗ .............................. 18

4.2 Sự biến đổi đường kính trứng của cá chạch lấu trong bể nuôi vỗ ................ 20
4.3 Sinh sản nhân tạo cá chạch lấu .................................................................... 21
4.3.1 Kết quả kích thích sinh sản cá chạch lấu bằng HCG ................................ 21
4.3.1.1 Điều kiện môi trường............................................................................. 21
4.3.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng HCG tới các chỉ tiêu sinh sản cá .................. 22
4.3.1.3 Kết quả kích thích sinh sản cá chạch lấu bằng LRHa+DOM ................. 23
4.3.1.4 Kết quả kích thích sinh sản cá chạch lấu bằng não thùy ........................ 24
4.4 Quá trình phát triển phôi cá chạch lấu ......................................................... 24
Phần V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................ 27
5.1 Kết luận ...................................................................................................... 27
5.2 Đề xuất ....................................................................................................... 27
Phần VI.TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 28


PHẦN I: GIỚI THIỆU
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích 39.747 km2, chiếm trên
12% diện tích của cả nước, là vùng ngập nước điển hình với trên 90% diện
tích ngập nước theo mùa lũ. Với lợi thế và tiềm năng đất ngập nước, những
năm gần đầy nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL phát triển rất nhanh. Năm 2000
diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 445.300 ha với tổng sản lượng 365.141 tấn.
Năm 2011 diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 762.000 ha, với sản lượng 2,192
triệu tấn. Chính sự phát triển này, đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng,
giải quyết nguồn lao động dư thừa, đồng thời góp phần nâng cao đời sống
nhân dân trong vùng.
Hòa cùng sự phát triển thủy sản của đất nước, trong nhiều năm qua, ngành
thủy sản vùng ĐBSCL đã có nhiều cố gắng tìm kiếm các loài nuôi mới, nhằm
đa dạng hóa đối tượng nuôi, giảm bớt sự khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản
tự nhiên, góp phần giữ vững cân bằng sinh thái. Một trong những vấn đề được
đặt ra cho vùng hiện nay, trong việc nghiên cứu là phát triển kỹ thuật nuôi các
loài cá bản địa có triển vọng về kinh tế. Ngoài một số loài nuôi truyền thống

như cá tra, cá basa…thì có một số loài cá bản địa có giá trị kinh tế khá cao
nhưng chưa được chú ý tới như cá chạch lấu (Mastacenbelus favus).
Cá chạch lấu có kích thước tương đối lớn, thịt cá béo, có mùi vị thơm ngon,
được xem là loài thủy đặc sản có giá trị thương phẩm cao (Trương Thủ khoa
và Trần Thị Thu Hương, 1993). Trên thị trường cá có giá bán giao động từ
375.000-400.000 đồng/kg, ở kích cỡ 300 – 500 g/con.
Với ưu điểm là thịt thơm ngon, cá chạch lấu có thể được chế biến thành nhiều
món ăn mang phong vị đặc trưng của miền sông nước như: cá chạch lấu
nướng nghệ, nướng mướp, ốp bẹ chuối nướng, cá chạch lấu kho nghệ, chiên
giòn, nấu canh chua, nấu lá dang…nên đây là đối tượng thu hút mạnh mẽ
nhiều thực khách khó tính (Quan Trần, 2007).
Tuy nhiên, cá thích sống ở nơi có nền đáy đá, cát, ngoài ra cá có khả năng
sống ở vùng nước tĩnh như kênh, hồ (Riede, 2004). Cá chạch lấu có chiều dài
tối đa 90 cm (Sokheng, c et al.1999). Cá có tập tính bắt mồi vào ban đêm, thức
ăn là ấu trùng động vật đáy, cá, giác xác, côn trùng (Pethiyagoda, 1996). Mùa
sinh sản của cá ở sông Mê Kông, từ tháng 4 đến tháng 6 (Rain both, 1996,
Riede, 2004). Qua số liệu dẫn chứng trên cho thấy cá chạch lấu là loài phù hợp
để phát triển nuôi ở nước ta, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL.
Với mục tiêu nghiên cứu và bổ sung một số chỉ tiêu sinh sản, nhằm hoàn thiện
quy trình sản xuất giống nhân tạo loài cá này, chủ động nguồn con giống, tiến
đến xây dựng qui trình nuôi thương phẩm đối tượng có giá trị kinh tế này, đề
1


tài “Theo dõi sự thành thục và một số chỉ tiêu sinh sản cùa cá chạch lấu
(Mastacembelus favus)” được thực hiện.
Mục tiêu đề tài
Cung cấp một số dẫn liệu về quá trình nuôi vỗ và các chỉ tiêu sinh sản nhân
tạo cá cá chạch lấu, nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo loài cá
này.

Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên đề tài tiến hành các nội dung sau:
-Ảnh hưởng các loại thức ăn lên quá trình thành thục sinh dục cá chạch lấu.
-So sánh ảnh hưởng các loại kích thích tố lên các chỉ tiêu sinh sản nhân tạo cá
chạch lấu.

2


PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.Hệ thống phân loại của cá chạch lấu.
Theo ITIS (2009) hệ thống phân loại của cá chạch lấu được sắp xếp như sau:
Ngành Chordata
Lớp Actinopterygii
Bộ Synbranchiformes
Họ Mastacembelidae
Giống Mastacembelus
Loài Mastacembelus favus, Hora 1923
Tên địa phương: cá chạch lấu
Tên tiếng Anh: spiny eel, tiretrack eel, zigzag eel.
2.2 Đặc điểm sinh học cá chạch lấu
2.2.1 Hình thái bên ngoài cá chạch lấu.

Hình 2.1 Hình thái bên ngoài cá chạch lấu
Cá chạch lấu có thân dài, phần trước dạng ống, phần sau dẹp hai bên đầu nhỏ
và nhọn, mõm kéo dài, phía trước có nếp da hoạt động được, chia làm ba thùy.
Vảy rất nhỏ phủ kín thân. Đường bên liên tục, chạy dài từ mép trên lỗ mang
đến gốc vi đuôi. Hai thùy bên là hai lỗ mũi trước hình ống (Trương Thủ Khoa
và Trần Thị Thu Hương,1993). Miệng nhỏ, góc miệng kéo dài đến dưới lỗ mũi
sau và do xương hàm trên tạo thành. Răng nhỏ mịn, rải đều trên cả hai hàm.

Trước và dưới mắt có một gai nhọn, lỗ mang hẹp, lược mang thưa, cạnh sau
của xương trước nắp mang có 2 – 3 gai nhọn ngắn. Mắt bé nằm cao ở phần
3


trên của đầu. Màng mang không liền với eo mang. Mõm chỉ có vảy ở mặt bên
và phía sau (Mai Đình Yên & ctv, 1992). Theo Mai Đình Yên & ctv (1992) cá
chạch lấu có vi lưng rất dài, chiều dài vi lưng tương đương 1/1,25 chiều dài
chuẩn. Phần trước của vi lưng là gai cứng, gai cuối cùng to và dài nhất, màng
da giữa các gai kém phát triển và chỉ hiện diện ở gốc. Phần sau của tia lưng là
vây mềm, cơ gốc vi lưng phát triển. Vi hậu môn có 3 gai, nhưng gai thứ ba
chìm sâu trong cơ. Vi đuôi nhỏ, ngắn, nối liền với vi lưng và vi hậu môn. Cá
không có vi bụng, cá có màu xanh đậm hoặc đen xám, có nhiều đốm vàng
hình tròn hoặc bầu dục khắp thân. Cá có vi lưng và vi hậu môn, vi ngực tròn
có một đốm đen nhỏ. Trên đầu có một vân dọc màu nâu thẫm (Trương Thủ
Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.2.2 Đặc điểm phân bố
Cá chạch lấu là loài sống chủ yếu trong nước ngọt nhưng vẫn phát triển được
trong môi trường nước lợ với nồng độ muối thấp (Pethiyagoda, 1991). Trên
thế giới cá chạch lấu có mặt ở các nước: Ấn Độ, Lào, Pakistan, Sumatra,
SriLanka, Thái Lan, Trung Quốc,… trong tự nhiên chúng phân bố rất rộng, từ
vùng thượng lưu đến hạ lưu, vùng đầm lầy, cửa sông, hay sống dưới những
lòng sông có đáy cát mịn hay thô và những nơi có thảm cỏ thực vật dày. Đây
là loài sống ẩn nấp, chui rúc, chúng thường tập trung chủ yếu ở các kênh, hồ
vào những tháng mùa hè hoặc những vùng ngập lũ vào các tháng mùa mưa.
Đây là loài sống khác biệt với những loài khác chúng thích sống một mình
dưới đáy sâu ở những nơi nước chảy nhẹ hay nước tĩnh (Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương, 1993).
Ở Việt Nam, cá phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Nam Trung Bộ.
Chúng tập trung đông tại các khe, kè đá, chân cầu… nơi nước chảy nhẹ

(Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993 ).
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chạch lấu là loài cá ăn tạp thích bắt mồi về đêm, trong tự nhiên chúng ăn
các loại côn trùng sống đáy, các loài giun, ấu trùng giáp xác và cả mùn bã hữu
cơ (Rainboth, 1996). Trong môi trường nhân tạo chúng có thể ăn các loại thức
ăn tươi sống hay đông lạnh như: các loài tôm, cá nhỏ, ấu trùng muỗi, động vật
phù du đặc biệt rất thích ăn các loài giun đất. Trong môi trường nuôi nhốt
chúng vẫn có thể bắt mồi vào ban ngày nếu như bể nuôi được che bớt ánh sang
(PetEducation, 2007).

4


2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng
Đây là loài cá có tốc độ tăng trưởng tương đối chậm. Ngoài tự nhiên, cá chạch
lấu có chiều dài tối đa 90cm và khối lượng 500g (Huang,H et al,1987;
Sokheng, C al, 1999).
2.2.5 .Đặc điểm sinh sản
Cá tham gia sinh sản sau một năm tuổi, là loài đẻ trứng dính, trứng cá màu
vàng, nơi cá đẻ là hang hốc, khe đá, bụi thực vật ven bờ. Theo Nguyễn Văn
Triều (2009), sức sinh sản tuyệt đối của cá chạch lấu dao động trong khoảng
từ 11.209 – 45.631 trứng/kg cá cái.
Theo Rainboth (1996); Riede, (2004), mùa vụ sinh sản của cá ở sông Mêkông
từ tháng 4 đến tháng 6. Cá thường tập trung sinh sản vào tháng 6 và 7 hàng
năm (Nguyễn Văn Triều, 2009).
2.3 Nuôi vỗ thành thục sinh dục cá chạch lấu.
Nuôi vỗ thành thục là tạo mọi điều để thúc đẩy sự chuyển hóa bên trong cơ
thể, tức là bắt cá phải chuyển hóa các chất dinh dưỡng của trứng. Chế độ nuôi
vỗ này cần cung cấp đầy đủ thức ăn đảm bảo đủ năng lượng cho hoạt động
sống hằng ngày của cá và đủ chất dinh dưỡng cho quá trình tạo trứng và tích

lũy cho chu kỳ sinh dục sau (Nguyễn Văn kiểm, 2005).
Do đó, trong nuôi vỗ thành thục phải giảm lượng thức ăn có thể còn 1 – 2 %
vào cuối thời kỳ nuôi vỗ thành thục, thành phần và tỷ lệ trong thức ăn thay
đổi, giảm lượng carbohydrate và tăng protein trong thức ăn, bổ sung thêm
vitamin A, D, E hoặc khoáng vi lượng, tăng cường kích thích cá trong ao bằng
các biện pháp sinh thái tổng hợp (Nguyễn Văn Kiểm, 2005).
Thức ăn là nguồn vật chất cho sinh trưởng, nguồn năng lượng cho sự trao đổi
chất và là nguồn nguyên liệu cho sự tạo thành sản phẩm sinh dục. Khi môi
trường thiếu thức ăn, sự thành thục của cá bị ảnh hưởng xấu như hệ số thành
thục, tỷ lệ thành thục thấp, đặc biệt mức độ phát triển không đồng điều của
noãn bào cũng như khả năng rối loạn thành thục của cá tăng lên mặc dù các
điều kiện khác của môi trường sống thuận lợi Quá trình thành thục của cá cần
cung cấp năng lượng thường xuyên cho hoạt động sống, tích lũy vật chất dinh
dưỡng và chuyển hóa thành những chất đặc trưng cho trứng. Mỗi giai đoạn
phát triển của tuyến sinh dục đòi hỏi thành phần và chế độ dinh dưỡng khác
nhau. Thức ăn phải phù hợp với đặc tính dinh dưỡng của loài (Nguyễn Văn
Kiểm. 2005).
Theo Nguyễn Văn Khải (2008) khi nuôi vỗ cá Chạch lấu ở mật độ 3 kg/lồng
bằng các loại thức ăn như: tép, cá tạp, thức ăn chế biến thì nhận thấy cả ba loại
5


thức ăn đều có tác động đến hệ số thành thục của cá, trong đó nuôi vỗ bằng tép
cho hệ số thành thục cao nhất (9,38 %). Tép là thức ăn có tần số xuất hiện
chiếm tỷ lệ khá cao (58%) trong ống tiêu hóa cá Chạch lấu ngoài tự nhiên.
Thành phần dưỡng chất trong tép bao gồm đạm chiếm 71,8 %, lipid chiếm
31,1%, khoáng 11,3 %, độ ẩm 80,1 %.

6



PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2012.
Địa điểm: Trại cá khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ
3.2.Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm
- Thức ăn nuôi vỗ thành thục sinh dục.
- Các loại kích dục tố: HCG, LRH-a + DOM, Não thùy.
- Kính hiển vi, kính lúp, cân điện tử, nhiệt kế.
- Dao mổ, kéo, kim chích, xô.
- Bể nuôi vỗ, bể đẻ, bể ấp.
- Cá bố mẹ được thu mua từ Đồng Tháp và một số tỉnh khác.
3.3.Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
3.3.1.1 Nuôi vỗ cá chạch lấu
Thí nghiệm nuôi vỗ cá bố mẹ
Thí nghiệm nuôi vỗ được bố trí trên bể composite, mỗi bể có thể tích 1m3 ,
mức nước sâu 0,8m, theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức
và 3 lần lặp lại.
Cá chạch lấu đưa vào nuôi vỗ thành thục sinh dục là những cá trưởng thành
có kích cỡ trung bình từ 100 – 300g/con được thu từ tự nhiên từ các đống chà,
đặt lù, đặt dớn,…
Tỷ lệ đực cái là 1:1
Mật độ nuôi vỗ: 1kg/m3/bể.
Thời gian thí nghiệm nuôi vỗ là 3 tháng (từ tháng 02/2012 đến tháng 5/2012).
Với NT 1 sử dụng tép sông, NT 2 sử dụng trùn quế và NT 3 sử dụng cá tạp
làm thức ăn nuôi vỗ trong quá trình thí nghiệm.
Phương thức cho ăn
Thức ăn đặt trong sàn ăn, mỗi bể đặt 1 sàn ăn. Ngày cho ăn 1 lần vào buổi
chiều mát. Giai đoạn nuôi vỗ tích cực cho ăn 5 – 7% khối lượng thân/ngày,

giai đoạn nuôi vỗ thành thục cho ăn 3% khối lượng thân/ngày.
Thức ăn trước khi cho ăn được rửa bằng NaCl 2-3 0/00 .để loại ký sinh trùng.
7


Tép sông

Trùn quế

Cá tạp

Hình 3.1 Các loại thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi vỗ.
Chăm sóc và quản lý
Trong quá trình nuôi vỗ, thường xuyên thay nước cho cá (2 ngày/lần), với
lượng nước thay khoảng 20 – 30% bể nuôi. Hằng ngày phải xi phong đáy bể,
tránh thức ăn dư thừa và phân cá thải ra lắng đáy làm ô nhiễm nước trong bể.
3.3.1.2 Sinh sản nhân tạo cá chạch lấu
Thí nghiệm kích thích sinh sản cá chạch lấu bằng HCG
Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức sử dụng liều
lượng hormone khác nhau được trình bài ở bảng 3.1. Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên.Trong trong các thí nghiệm dưới mỗi nghiệm thức được
lập lại 3 lần.
Bảng 3.1 Liều lượng HCG (UI/kg cá cái) kích thích sinh sản cá
Nghiệm thức

Liều lượng HCG (UI/kg♀)

1

1500


2

2000

3

2500

Cá sử dụng trong thí nghiệm là cá thành thục được lấy từ thí nghiệm nuôi vỗ.
Sau khi tiêm hormon cá được giữ ổn định trong xô nhựa để theo dõi.

8


Thí nghiệm kích thích sinh sản cá chạch lấu bằng LRHa (có kết hợp với
10mg DOM/kg cá cái)
Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức có liều lượng LRHa khác nhau theo
bảng 3.2.Trong trong các thí nghiệm dưới mỗi nghiệm thức được lập lại 3 lần.
Bảng 3.2 Liều lượng LRHa (µg/kg♀) kích thích sinh sản cá
Nghiệm thức

Liều lượng LRHa (µg/kg♀)

1

100

2


150

3

200

Thí nghiệm kích thích sinh sản cá chạch lấu bằng Não thùy
Sử dụng não thùy với các liều lượng khác nhau để kích thích sinh sản cá được
trình bày ở bảng 3.3.Trong trong các thí nghiệm dưới mỗi nghiệm thức được
lập lại 3 lần.
Bảng 3.3 Liều lượng Não thùy (mg/kg♀) kích thích sinh sản cá
Nghiệm thức

Liều lượng não thùy (mg/kg♀)

1

3

2

5

3

7

Trong các TN kích thích sinh sản cá ở trên, liều lượng kích thích cho cá đực
bằng 1/3 liều lượng cho cá cái


9


HCG và Não Thùy

LH-RHa

Hình 3.2 Các loại kích thích tố dùng để kích thích cá sinh sản
3.3.2 Chọn cá bố mẹ cho sinh sản
Để chọn cá bố mẹ thường dựa vào các chỉ tiêu hình thái bên ngoài như màu
sắc cơ thể, mức độ xung huyết của lỗ sinh dục...kết hợp dùng que thăm trứng
để chọn.
Cá cái: chọn cá khỏe mạnh, không bị thương tật, không bị xây xát, màu sắc
ánh vàng, phần bụng to, mềm đều, da bụng mỏng, lổ sinh dục to, tròn và lồi
lên, màu hồng nhạt. Dùng que thăm trứng thấy trứng rời, đồng đều và có màu
vàng. Đường kính trứng của cá sẵn sàng để kích thích sinh sản là >=1.45 mm.
Cá đực: Chọn con đực có thân thon dài, khỏe mạnh, không bị xây xát, dị tật,
có lỗ sinh dục tròn và hơi lõm vào trong. Dùng tay vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục
thấy có sẹ có màu trắng đuc, đặc như sữa chảy ra.
Vị trí tiêm thuốc cho cá là ở cơ lưng.

Hình 3.3 Tiêm thuốc cho cá

10


3.3.3 Phương pháp thụ tinh nhân tạo và ấp trứng
3.3.3.1 Phương pháp thụ tinh nhân tạo
Sau khi tiêm cá cái xong khoảng 4 – 5 giờ tính từ lần tiêm cuối cùng có thể
kiểm tra cá. Tiến hành vuốt nhẹ bụng cá cái ở gần lỗ sinh dục nếu thấy trứng

của cá chảy ra thì trứng đã rụng, tiến hành chuẩn bị dụng cụ sẵn sàng cho cá
sinh sản nhân tạo. Trước khi vuốt trứng, tiến hành vuốt tinh cá đực và bảo
quản tinh dịch trong nước muối sinh lí 90/00(0.5ml).

Hình 3.4 vuốt trứng cá

Sau đó tiến hành vuốt trứng cá cái. Trước khi vuốt trứng cá, dùng khăn mềm
lau khô dụng cụ chứa trứng cá và thân cá. Vuốt nhẹ bụng cá cái theo hướng từ
đầu xuống bụng cá, đồng thời dùng thao để đón trứng rơi ra từ lỗ sinh dục của
cá. Sau đó đổ tinh dịch của cá đực vào trứng, dùng lông gà khuấy đều, rồi cho
dung dịch thụ tinh vào (3g muối + 4 g urê + 1 lít nước) khuấy đều khoảng 2 -3
phút để trứng thụ tinh. Sau khi cho trứng thụ tinh xong ta tiến hành rãi trứng
lên khay ấp trứng, tiến hành ấp trứng.
3.3.3.2 Phương pháp ấp trứng
Trứng cá chạch lấu sau khi gieo tinh được rãi đều trên khay ấp trứng. Định kỳ
12 giờ thay nước 1 lần. Khay ấp có chiều rộng 25cm, dài 30-40cm, cao 7-9cm.
Hai thành khay mỗi bên có 3 dãy lỗ đường kính 1cm và được dán lưới có mắt
1mm. Lượng nước được điều chỉnh bằng ban điều tốc sau cho nước được đảo
đều nhẹ nhàng trong hệ thống.

11


Hình 3.5 khay ấp trứng
3.3.4 Phương pháp thu và phân tích mẫu
3.3.4.1 Phương pháp thu mẫu môi trường
Chỉ tiêu môi trường: Theo dõi các yếu tố như oxy, pH, nhiệt độ....Sử dụng
nhiệt kế để đo nhiệt độ ngày 2 lần vào lúc 8 giờ và 14 giờ, oxy và pH cách
nhau 4 ngày đo một lần, đối với quá trình nuôi vỗ. Khi ấp trứng và giữ cá bố
mẹ trong quá trình kích thích sinh sản các yếu tố môi trường được đo 6

giờ/lần.

Hình 3.6 Các dụng cụ dung để đo các yếu tố môi trường

3.3.4.2 Phương pháp thu các chỉ tiêu sinh sản của cá
Sự thành thục của cá bố mẹ
Sau 1 tháng nuôi vỗ tiến hành kiểm tra mức độ thành thục, 30 ngày/lần bằng
hình thức quan sát ngoại hình kết hợp với thăm trứng và giải phẩu để xác định
giai đoạn thành thục của buồng trứng và hệ số thành thục. Đàn cá nuôi được
xác định tỷ lệ và hệ số thành thục dựa vào công thức sau:

12


Số cá thành thục
+ Tỷ lệ thành thục = ----------------------- X 100
Số cá nuôi vỗ
Khối lượng tuyến sinh dục
+ Hệ số thành thục = ----------------------------------- X 100
Khối lượng thân
Các chỉ tiêu sinh sản của cá
Thời gian hiệu ứng: được tính từ lần tiêm cuối cùng đến khi cá đẻ trứng đồng
loạt.
Số lượng cá rụng trứng
Tỷ lệ cá đẻ (%) = --------------------------- X 100
Tổng số cá được tiêm
Số lượng trứng đẻ ra
Sức sinh sản thực tế (trứng/g cá cái) = -----------------------------------------Khối lượng cá cái tham gia sinh sản
Số lượng trứng thụ tinh
Tỷ lệ thụ tinh (%) = ------------------------------ x 100

Số lượng trứng quan sát
Số lượng cá nở
Tỷ lệ nở (%) = ---------------------- x 100
Số trứng thụ tinh
Quá trình phát triển phôi: ngay sau khi thụ tinh, sự phát triển của phôi được
quan sát dưới kính hiển vi quang học, nhằm xác định thời gian nở.
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được sẽ tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, phân
tích thống kê giữa các nghiệm thức (ANOVA) bằng phần mềm SPSS 16.0 và
phần mềm Excel.

13


Phần IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả nuôi cá bố mẹ
4.1.1 Điều kiện môi trường
Các yếu tố môi trường nước trong thí nghiệm nuôi cá bố mẹ được trình bày ở
bảng 4.1
Thời điểm

NT1

NT2

Nhiệt độ

Sáng

28.51±1.46


28.54±0.79

28.74±0.82

(oC)

Chiều

30.22±1.17

30.48±1.02

29.91±1.19

Sáng

5.00±0.42

5.00 ± 0.42

5.21±0.28

O2
(mg/L)

Chiều

5.33±0.37


5.28±0.27

5.65±0.42

Sáng

7.43±0.35

7.42±0.44

7.39±0.32

Chiều

7.72±0.51

8.02±0.29

8.00±0.39

Nhiệt độ
(oC)

Sáng

28.86±1.20

28.55±0.98

28.23±0.71


Chiều

30.26±1.22

30.45±1.51

30.24±0.87

Sáng

4.59±0.37

5.00±0.41

5.27±0.29

O2
(mg/L)

Chiều

5.58±0.37

5.34±0.33

5.69±0.49

Sáng


7.45±0.32

7.39±0.35

7.45±0.32

Chiều

8.01±0.35

8.02±0.36

8.00±0.39

Nhiệt độ
(oC)

Sáng

28.76±1.00

28.70±0.95

28.71±1.05

Chiều

30.25±0.90

30.42±0.85


30.00±1.11

O2

Sáng

5.00±0.37

5.10±0.30

5.22±0.28

Tháng Chỉ tiêu

2

pH

3

pH

4

NT3

14



(mg/L)

Chiều

5.34±0.35

5.38±0.30

5.65±0.42

Sáng

7.43±0.30

7.47±0.34

7.41±0.38

Chiều

8.02±0.41

8.04±0.42

8.02±0.39

pH

Nhiệt độ
Nhiệt độ trong quá trình nuôi vỗ trong các nghiệm thức nằm trong khoảng

28.51 – 30.48 oC. Nhiệt độ thích hợp cho cá, tôm nằm trong khoảng 25 – 32 oC
(Trương Quốc Phú,2004). Như vậy, với khoảng nhiệt độ trên là phù hợp với
quá trình thành thục của cá chạch lấu.
Oxy hòa tan
Oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm dao động từ 4,59 – 5,69 mg/L. Theo
Swingle (1969) thì hàm lượng oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm cá là
trên 5 ppm. Tuy nhiên, nếu hàm lượng ôxy hòa tan vượt quá mức bảo hòa cá
sẽ bị bọt khí trong máu, làm tắt nghẽn các mạch máu dẫn đến não và tim đưa
đến xuất huyết các vây hậu môn. Ngoài ra, khi hàm lượng oxy thấp sẽ kiềm
hãm tốc độ tăng trưởng của vật nuôi: Vật nuôi hoạt động yếu, lượng thức ăn
do chúng sử dụng giảm, thậm chí có khả năng chết ngạt khi hàm lượng ôxy từ
bằng hoặc thấp hơn 0.5 mg/l. Đồng thời, ôxy thấp còn thúc đẩy hiện tượng độc
tố với thủy sinh vật trong môi trường nước (Nguyễn Đình Trung , 2004). Với
khoảng ôxy dao động trung bình từ 2 – 5 mg/l thì cá, tôm vẫn phát triển bình
thường (Trương Quốc Phú, 2006). Sự dao động ôxy hòa tan trong quá trình
nuôi vỗ cá như trên là phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển cá chạch lấu.
pH
Trong quá trình thí nghiệm, pH dao động trung bình trong khoảng từ 7,42 –
8,04 được ghi nhận ở bảng 4.1 cho thấy pH nằm trong khoảng thích hợp cho
hoạt động sinh lý bình thường của cá.
4.1.2 Sự thành thục của cá
4.1.2.1 Đặc điểm thành thục và tuyến sinh dục cá
Ở cá chạch lấu, cá đực có thể xác định được bằng cách vuốt tinh ra khi chúng
thành thục sinh dục. Qua quá trình nuôi vỗ và giải phẫu của nhiều mẫu cá để
quan sát tuyến sinh dục và kết hợp với quan sát hình thái bên ngoài của cá
chạch lấu đực và cái cho thấy rằng, có vài đặc điểm có thể xác định được giới
tính và sự xác định này có độ chính xác cao trong mùa vụ sinh sản của cá. Các
15



đặc điểm hình thái bên ngoài của cá chạch lấu khi thành thục được mô tả qua
bảng 4.2 như sau:

Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu phân biệt cá đực và cá cái khi thành thục
Chỉ tiêu qua sát
Bụng cá
Kích thước cơ thể
Lỗ sinh dục
Màu sắc cơ thể

Cá cái

Cá đực

To , tròn

Nhỏ, thon

Ngắn

Thon, dài

To, tròn, lồi

Nhỏ, lõm

Màu vàng

Màu xám đen


Buồng trứng cá chạch lấu có hình ống hơi dài, màu vàng. Bên trong buồng
trứng có vách ngăn ngang (tấm trứng), có nhiều mạch máu. Đoạn cuối của
buồng trứng kết hợp với nhau và dẫn ra lỗ huyệt thông qua ống dẫn

Hình 4.1 Hình thái tuyến sinh dục cá chạch lấu cái
Buồng tinh cá chạch lấu là hai dãy nằm sát bên xương sống, có màu trắng đực,
bên ngoài được bao phủ bởi một lớp màng mỏng, một đầu dính vào lỗ sinh
dục, một đầu tự do nằm giữa xoang nội quan.

16


Hình 4.2 Hình thái tuyến sinh dục cá chạch lấu đực
4.1.2.2 Tỷ lệ thành thục cá Chạch lấu sau 3 tháng nuôi vỗ
Qua quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ, kết quả tỷ lệ thành thục của đàn cá bố mẹ
được ghi nhận như sau:
Bảng 4.3 Tỷ lệ thành thục Cá Chạch lấu sau 3 tháng nuôi vỗ
Nghiệm
thức
1
2
3

Tỷ lệ thành thcụ của cá cái
(%)
50,00±16.67a
63,89±12.73a
41,66 ±14.4 a

Tỷ lệ thành thục của cá đực

(%)
33,33±28,86a
44,42±9.62a
25,00±25.00a

-ghi chú: NT.1 Thức ăn là tép sông; NT.2 Thức ăn là Trùn Quế; NT.3 Thức ăn là cá tạp.
Trên cùng một cột, các số trung bình theo sau cùng một ký tự thí khác biệt không có ý nghĩa
( p > 0.05).

Ở 3 nghiệm thức sử dụng tép sông, trùn quế, cá tạp đều có cá thành thục. Tỷ lệ
thành thục cá cái cao nhất ở NT.2 (63,89%), thấp nhất ở NT.3 (41,66%). Tỷ lệ
thành thục của cá đực thấp hơn so với cá cái nhưng tỷ lệ thành thục giữa cá cái
và cá đực trong các nghiệm thức khác nhau không có ý nghĩa thống kê
(p > 0,05). Qua kết quả trên cho thấy, mặc dù không có sự kgác biệt trong
thống kê nhưng việc sử dụng các loại thức ăn khác nhau (tép sông, trùn quế, cá
tạp) ở 3 nghiệm thức đều ảnh hưởng đến tỷ lệ thành thục của cá chạch lấu
trong đó nghiệm thức sử dụng trùn quế cho tỷ lệ thành thục cao nhất (63,89%).
Thông thường trong một ao nuôi vỗ thì cá đực thành thục sớm hơn cá cái, do
đó thường xảy ra trường hợp khi cá cái thành thục chín muồi thì cá đực đã
thoái hóa hoặc tinh trùng không đảm bảo cho sự thụ tinh (Nguyễn Văn Kiểm,
2004). Cá Chạch sông (Macrognathus siamensis) đực thành thục sớm và
chiếm tỷ lệ thành thục cao hơn cá cái ở cùng một thời điểm. Nhưng từ tháng 5
17


đến tháng 7 hàng năm tỷ lệ thành thục của cá cái và cá đực đều đạt 100%
(Nguyễn Quốc Đạt, 2007). Qua thực tế nuôi vỗ cho thấy, ở 3 nghiệm thức NT
1, NT 2 và NT 3 sau 2 tháng nuôi vỗ chưa có sự khác biệt nhau về tỷ lệ thành
thục ở cá cái và cá đực, vào tháng 2 và tháng 3 khi kiểm tra sự thành thục của
cá, cá đực đều chưa thành thục (chưa có tinh), riêng đối với cá cái khi mổ quan

sát buồng trứng, một số đã chuyển sang giai đoạn III. Đến tháng 4 thì mới có
sự khác biệt về tỷ lệ thành thục sinh dục của cá cái, khi buồng trứng của chúng
đạt đến giai đoạn IV giai đoạn cá sẵn sàng tham gia sinh sản, NT 2 đạt 63,89%
so với 50,00% NT 1 và 41,66% NT 3 là rất rõ. Theo Nguyễn Văn Triều
(2009), cá chạch lấu trong tự nhiên ở giai đoạn IV xuất hiện nhiều nhất ở
tháng 6 với tỷ lệ 63,3%. Có sự khác biệt này có thể do trong quá trình nuôi vỗ
với điều kiện thức ăn đầy đủ, điều kiện môi trường thuận lợi đã thúc đẩy
nhanh quá trình trao đổi chất trong cơ thể cá, những tác động này tạo điều kiện
giúp cá thành thục sớm hơn so với trong tự nhiên (Dương Tuấn, 1981). Tuy
nhiên, NT 3 có tỷ lệ thành thục thấp (41,66%) so với NT 1 và NT 2, nguyên
nhân dẫn đến kết quả này có thể do NT.3 (cá tạp) có hàm lượng dinh dưỡng
thấp hơn so với NT,1(tép sông) và NT,2 (Trùn quế).
Như vậy, sau 3 tháng nuôi vỗ, tỷ lệ thành thục của cá cái đạt 50.00% ở NT,1 ,
63,89% ở NT 2 và 41,66% NT,3. Song song đó, tỷ lệ thành thục của cá đực
lần lược là 33,33%, 44,42%, 25,00% ở các NT 1, NT 2 và NT 3.
4.1.2.3 Hệ số thành thục Cá Chạch lấu sau 3 tháng nuôi vỗ
Hệ số thành thục của đàn cá bố mẹ sau 3 thánh nuôi vỗ cho kết quả như sau:
Bảng 4.4 % hệ số thành thục cá Chạch lấu sau 3 tháng nuôi vỗ
Ban Đầu
Nghiệm thức

Cá Cái

Sau 3 tháng nuôi vỗ

Cá đực

Cá cái

Cá đực


1

0,29± 0,07

0,10±0,35

8,81±0,28a

0,69±0,19a

2

0,33±0,06

0,06±0,01

12,44±2,75b

0,93±0,06a

3

0,39±0,42

0,38±0,27

6,55±0,95a

0,68±0,08a


18


- ghi chú: NT 1 Thức ăn là tép sông; Nt 2 Thức ăn là Trùn Quế; NT 3 Thức ăn là cá tạp.
Trên cùng một cột, các số trung bình theo sau cùng một ký tự thì khác biệt không có ý nghĩa
( p > 0,05)

Cá cái ban đầu mới nuôi vỗ có hệ số thành thục trung bình là 0,29% ở NT 1,
0,33% ở NT 2, 0,39% ở NT 3 và cá đực lần lược có hệ số thành thục trung
bình là 0,01%; 0,06%; 0,38% đối vớ NT 1, NT 2 và NT 3. Sau 3 tháng nuôi vỗ
cho thấy, tuyến sinh dục của một số cá nuôi đạt giai đoạn IV, giai đoạn cá sẵn
sàng tham gia sinh sản. Sự khác biệt về hệ số thành thục của cá cái có ý nghĩa
thống kê (p>0,05) giữa các loại thức ăn là 8,81% ở NT 1, 12,44% NT 2 và
6,55% ở NT 3. Hệ số thành thục của cá chạch lấu khi nuôi vỗ bằng các loại
thức ăn khác nhau ở NT 2 (12,44%) và ở NT 1 (8,81%) cùng với NT 3
(6,55%) đều cao hơn so với cá ngoài tự nhiên, đạt cực đại vào tháng 6 (3,57%)
và tháng 7 (3,61%) (Nguyễn Văn Triều, 2009). Đối với cá đực thì khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa 3 nghiệm thức. Tuy nhiên, hệ số
thành thục của cá đực vẫn tăng dần theo thời gian nuôi vỗ giữa các nghiệm
thức. Hệ số thành thục ban đầu của cá đực là 0,01% đối với NT 1, 0,06% đối
với NT 2 và 0,38% đối với NT 3, sau 3 tháng nuôi vỗ tăng lên lần lược là
0,69% ở NT 1, 0,93% ở NT 2, 0,68% đối với NT 3.
Kết quả trên cho thấy, qua 3 tháng nuôi vỗ cá chạch lấu đã thích nghi trong
điều kiện nhân tạo nên hệ số thành thục giữa các nghiệm thức đầu tăng lên rõ
rệt. NT 2 (trùn quế) có tác dụng tốt đối với sự thành thục của cá chạch lấu hơn
NT 1 (tép sông) và NT 3 (cá tạp), có thể do NT 2 (trùn quế) có thành phần
đạm cao hơn so với tép và với cá tạp. Đồng thời, trùn quế là loại thức ăn ưa
thích của loài. Điều này cũng phù hợp với qui luật khi cho cá ăn loại thức ăn
ưa thích của loài thì chúng sẽ kích thích quá trình thành thục sinh dục tốt hơn

(Nguyễn Văn Kiểm, 2005).

19


4.2 Sự biến đổi đường kính trứng của cá chạch lấu trong bể nuôi vỗ
Qua quá trình nuôi vỗ kích thước trứng được ghi nhận thông qua bảng 4.6.
Bảng 4.5 Biến đổi đường kính trứng (mm) của cá chạch lấu nuôi vỗ
Khối lượng
thân (g)

Khối lượng
TSD (g)

Đường kính TB
(min ÷ max)

Giai đoạn trứng

110

10,04

1,31 (1.03 ÷ 1,90)

IV

120

10,48


1,20 (0,50 ÷ 1,55)

IV

100

15,00

1,29 (0,75 ÷ 1,55)

IV

125

16,00

1,36 (0,75 ÷ 1,55)

IV

100

7,54

1,25 (0,62 ÷ 1,55)

IV

145


9,39

1,34 (1,13 ÷ 1,56)

IV

Kết quả quan sát đường kính trứng cá chạch lấu ở 3 nghiệm thức thể hiện ở
bảng 4.5 cho thấy trứng cá chạch lấu ở giai đoạn IV có đường kính trứng trung
bình từ 1,20 – 1,36 mm.

20


4.3 Sinh sản nhân tạo cá chạch lấu
4.3.1 Kết quả kích thích sinh sản cá chạch lấu bằng HCG
4.3.1.1 Điều kiện môi trường
Các yếu tố môi trường nước trong thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.6
Bảng 4.6 Điều kiện môi trường thí nghiệm
Nghiệm thức

1

2

3

Chỉ tiêu môi
trường


Tại dụng cụ
chứa cá bố mẹ

Tại dụng cụ ấp
trứng

Nhiệt độ (0C)

27.56 ± 0.82

27.81± 0.88

Oxy (mg/L)

4.62 ± 0.23

4.63 ± 0.22

pH

7.37 ± 0.23

7.31 ± 0.37

Nhiệt độ (0C)

27.43 ± 0.77

27.93 ± 0.97


Oxy (mg/L)

4.68 ± 0.25

4.62 ± 0.23

pH

7.31 ± 0.26

7.37 ± 0.35

Nhiệt độ (0C)

28.06 ± 1.17

28.12 ± 0.91

Oxy (mg/L)

4.56 ± 0.17

4.63 ± 0.23

pH

7.25 ± 0.27

7.43 ± 0.18


Theo Nguyễn Đình Trung (2004), đa số các loài cá nuôi có nhiệt độ thích hợp
cho sự phát triển từ 20-300C, pH biến động từ 6-9 và nồng độ oxy hòa tan
trong nước từ 3-5 mg/L.
Bảng 4.6 cho thấy, với điều kiện nhiệt độ 27,56 -28,12 0C, oxy hòa tan 4,564,68 mg/l, pH từ 7,25- 7,43, trong bể đẻ cũng như trong bể ấp trứng hoàn toàn
thích hợp cho quá trình rụng trứng và nở của cá chạch lấu.

21


×