Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần cơ khí xây dựng số 18 (COMA18).doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (338.17 KB, 58 trang )

Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi ra nhập WTO, đất nước ta đang chuyển mình theo thế giới. Việc hiện
đại hoá cơ sở hạ tầng trong thực tế đang diễn ra rất nhanh ở khắp nơi làm thay đổi bộ
mặt đất nước từng ngày. Điều đó có nghĩa là khối lượng sản phẩm của ngành xây lắp
ngày càng lớn đồng thời số vốn đầu tư cho ngành cũng gia tăng không ngừng. Vấn đề
đặt ra và thu hút sự quan tâm của nhiều người là làm sao để quản lý vốn một cách
hiệu quả nhất, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong sản xuất kinh doanh
xây lắp.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu phức tạp nhất
trong toàn bộ công tác kế toán tại Doanh nghiệp, nó liên quan đến hầu hết các yếu tố
đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất kinh doanh tại Doanh nghiệp. Đặc biệt là
trong giai đoạn hiện nay, các Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoạt động trong cơ
chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và sự cạnh tranh trên thị trường buộc các
Doanh nghiệp phải hết sức quan tâm đến việc đảm bảo tổ chức kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác kịp thời, phù hợp với đặc điểm tổ chức sản
xuất và quản lý tại Doanh nghiệp.
Xuất phát từ ý nghĩa to lớn đó, trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần cơ
khí xây dựng số 18, em đã lựa chọn đề tài: “Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần cơ khí xây dựng số 18 (COMA18)”
cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Công ty cổ phần cơ khí xây dựng số 18 hoạt động xây lắp chiếm vai trò chủ
đạo, do nhận thức và thời gian bị hạn chế nên em xin trình bày các vấn đề trong luận
văn liên quan chủ yếu đến hoạt động xây lắp của công ty.
Luận văn gồm các phần chính :
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM, TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUẢN
LÝ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 18
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
Lê Văn Hùng– KT21


1
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG SỐ 18
Mặc dù rất cố gắng nhưng do trình độ có hạn và thực tập trong thời gian ngắn
nên luận văn này không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo thêm
của các Thầy cô và các cô, chú, anh, chị để nhận thức của em về vấn đề này ngày
càng được hoàn thiện hơn.
Em xin chân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo khoa kế toán
đặc biệt là thầy giáo Phạm Đức Cường, cũng như Ban lãnh đạo, Phòng kế toán và các
phòng ban khác trong công ty COMA18 giúp đỡ em hoàn thiện luận văn này.
Lê Văn Hùng– KT21
2
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
CHƯƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM, TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUẢN
LÝ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ XÂY DỰNG
SỐ 18 (coma18)
1.1. Đặc điểm sản phẩm của Công ty cổ phần cơ khí xây dựng số 18
1.1.1.Danh mục sản phẩm
Hiện nay COMA 18 đã và đang hoàn thành hơn một trăm công trình thuộc các
dự án của các lĩnh vực xây dựng dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, đường dây và trạm
điện, bưu chính viễn thông, thuỷ điện, gia công lắp đặt thiết bị… Không chỉ là đơn vị
đối tác với các nhà thầu, COMA 18 trở thành chủ đầu tư, nhà thầu các công trình, dự
án lớn như: Khu chung cư và nhà liền kề La Khê (Hà Đông), Nhà máy chế tạo cột
điện thép 20.000 tấn/năm, đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công
nghiệp Thanh Oai, khu nhà liền kề của cán bộ chiến sĩ Cục cảnh sát điều tra tội phạm
ma tuý C17 (Bộ Công an), Toà nhà cao cấp WESTA - COMA 18…
Chính sự đầy đủ năng lực đảm nhận tất cả các hạng mục công trình mà COMA
18 ngày càng khai thác mở rộng các công trình, bảo đảm tài chính lành mạnh, kinh
doanh trong sáng để tập trung triển khai kế hoạch thi công xây dựng cho các năm tới

Năm 2009, trong bối cảnh suy thoái kinh tế nhưng COMA 18 đã tạo cho mình
những bước đi mới, bứt phá và mở rộng đầu tư. Hiện tại, Cty đang tập trung năng lực
thi công toà nhà cao cấp WESTA - COMA 18 với quy mô 27 tầng nổi, 3 tầng chìm;
tham gia thiết kế chế tạo, lắp đặt thi công một số dự án khu chung cư, KCN; thi công
hạ tầng công trình điện công nghiệp, điện dân dụng... phấn đấu đạt giá trị sản xuất
kinh doanh năm 2009 là 129 tỷ đồng. Ngoài ra, Cty cũng luôn chú trọng đảm bảo
việc làm và đời sống cho người lao động, đẩy mạnh các hoạt động đoàn thể và tăng
cường củng cố công tác xây dựng Đảng.
Sau 6 năm xây dựng và trưởng thành, COMA 18 đã thực sự khẳng định được
thương hiệu của mình. Các công trình do COMA 18 tham gia đầu tư và thi công được
đánh giá cao về chất lượng, mang lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị.
1.1.2.Tiêu chuẩn chất lượng
Lê Văn Hùng– KT21
3
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Sau 6 năm xây dựng và trưởng thành, COMA 18 đã thực sự khẳng định được
thương hiệu của mình. Các công trình do COMA 18 tham gia đầu tư và thi công được
đánh giá cao về chất lượng, mang lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị.
Biện pháp cơ bản của công ty để sản xuất và cung cấp sản phẩm thoả mản yêu cầu
của khách hàng .
Xây dựng, duy trì và phát triển hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001: 2000. Một chi tiết bị lỗi phải có một người, hoặc bộ phận nào đó chịu trách
nhiệm.Phổ biến chiến lược phát triển, và mục tiêu kinh tế từng giai đoạn của Công ty
cho toàn thể cán bộ công nhân viên.Kỹ luật lao động được đặt lên hàng đầu.Thường
xuyên đào tạo và đạo tạo lại cán bộ công nhân viên trong đơn vị.Phát huy trí tuệ tập thể,
cập nhật thông tin, tăng cường máy móc, thiết bị đúng chức năng.
Biểu dương và khen thưởng kịp thời những nhân tố tích cực.Gìn giữ và phát
huy truyền thống đoàn kết vốn có của Công ty.Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức
Đảng, Công Đoàn, Đoàn Thanh Niên trong Công ty để phát huy cao hơn nữa trí tuệ
tập thể phục vụ cho mục đích chất lượng của Công ty

1.1.3.Tính chất của sản phẩm
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất góp phần tạo nên cơ sở vật chất kỹ
thuật của nền kinh tế. Hoạt động xây dựng cơ bản là hoạt động hình thành nên năng
lực sản xuất cho các ngành, các lĩnh vực khác trong nền kinh tế bao gồm xây dựng
mới, mở rộng, khôi phục, cải tạo lại hay hiện đại hoá các công trình hiện có.Doanh
nghiệp xây lắp là doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất vật chất mang tính chất công
nghiệp nhưng khác với các ngành sản xuất vật chất khác.. Những đặc điểm đó là:
Thứ nhất: mỗi sản phẩm xây lắp được xây dựng và sử dụng gắn liền với một vị trí
địa lý nhất định, còn các điều kiện sản xuất vật chất khác như: lao động, vật tư thiết
bị,máy móc…luôn phải di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Mà mặt bằng thi công
thường rải rác khắp nơi và cách xa trụ sở đơn vị nên gây khó khăn cho công việc tổ chức
sản xuất, làm nảy sinh nhiều chi phí cho việc di chuyển lực lượng sản xuất.
Thứ hai, sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết
cấu phức tạp, mang tính tổng hợp về nhiều mặt: kinh tế, kỹ thuật…, thời gian xây
dựng kéo dài, mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có tính
Lê Văn Hùng– KT21
4
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
đơn chiếc, có giá trị dự toán riêng nên việc tổ chức quản lý nhất thiết phải có dự toán
thiết kế. Trong suốt quá trình xây dựng, giá dự toán sẽ là thước đo hợp lý để hạch
toán các khoản chi phí và quyết toán các công trình.
Thứ ba, sản phẩm xây lắp thường được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả
thuận với chủ đầu tư từ trước. Do vậy tính chất hàng hoá của sản phẩm thường thể
hiện không rõ. Quá trình bàn giao công trình, hạng mục công trình cho bên giao thầu
chính là quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Thứ tư, chu kỳ sản phẩm của ngành xây dựng kéo dài, dễ gây ứ đọng vốn, vòng
quay vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Các doanh nghiệp xây lắp dễ gặp phải
các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựng nếu thời gian xây dựng quá
dài dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học công nghệ.
Thứ năm, mỗi công trình được tiến hành thi công theo hợp đồng cụ thể, phụ

thuộc vào yêu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi thực
hiện các hợp đồng, đơn đặt hàng thì đơn vị xây dựng phải tiến hành thi công và bàn
giao công trình đúng tiến độ, đúng thiết kế, đảm bảo chất lượng công trình.
1.1.4. Loại hình sản xuất
Xây dựng là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp
cao. Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tài chính tích luỹ cùng với vốn
đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế -
kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản
phẩm của ngành. Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây
lắp,và các loai hình doanh nghiệp khác cũng khác biệt lớn. Công tác kế toán vừa phải đáp
ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa
phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây lắp
1.1.5.Thời gian sản xuất
Lê Văn Hùng– KT21
5
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Qúa trình tạo ra sản phẩm từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thành
thường là dài, phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công
trình. Qúa trình thi công được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại
gồm nhiều công việc khác nhau mà các công việc chủ yếu vẫn phải thực hiện ngoài
trời nên chịu ảnh hưởng rất lớn của thời tiết, của thiên nhiên. Do đó quy trình, điều
kiện thi công không ổn định, thường xuyên biến động theo địa điểm xây dựng, theo
từng giai đoạn thi công và mùa xây dựng; việc quản lý máy móc thiết bị, vật tư gặp
nhiều khó khăn.
1.1.6. Đặc điểm sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang ở doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình, hạng mục công
trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng xây lắp dở dang trong kỳ chưa được

nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.
Đánh giá sản phẩm dở dang là xác định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm dở
dang cuối kỳ phải chịu. Đánh giá sản phẩm dở dang hợp lý là một trong những nhân
tố quyết định tính trung thực hợp lý của giá thành sản phẩm xây lắp trong kỳ.
Hiện nay các doanh nghiệp có thể đánh giá sản phẩm dở dang theo các phương
pháp sau:
* Đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
* Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo sản lượng ước tính tương đương.
* Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí định mức.
Trong đó sản phẩm dở dang trong xây dựng được xác định bằng phương pháp
kiểm kê khối lượng làm dở cuối kỳ. Việc tính giá trị sản phẩm dở dang trong sản xuất
xây dựng phụ thuộc vào phương thức thanh toán, khối lượng công tác xây lắp hoàn
thành giữa người nhận thầu và người giao thầu.
Nếu sản phẩm xây lắp quy định chỉ bàn giao thanh toán sau khi đã hoàn thành
toàn bộ thì công trình, hạng mục công trình chưa bàn giao thanh toán được coi là sản
phẩm xây lắp dở dang, toàn bộ chi phí sản xuất đã phát sinh thuộc công trình, hạng
mục công trình đó đều là chi phí của sản phẩm dở dang. Khi công trình, hạng mục
công trình hoàn thành bàn giao thanh toán thì toàn bộ chi phí sản xuất đã phát sinh sẽ
Lê Văn Hùng– KT21
6
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
được tính vào giá thành công trình.
Nếu những công trình, hạng mục công trình được bàn giao thanh toán theo từng
giai đoạn xây dựng, lắp đặt thì những giai đoạn xây lắp dở dang chưa bàn giao thanh
toán là sản phẩm dở dang. Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ sẽ được tính toán một
phần cho sản phẩm dở dang cuối kỳ theo tỷ lệ dự toán công trình.
Ngoài ra, đối với xây dựng các công trình, hạng mục công trình có thời gian thi
công ngắn theo hợp đồng được chủ đầu tư thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ
công việc. Lúc này giá trị sản phẩm làm dở cuối kỳ chính là toàn bộ chi phí sản xuất
thực tế phát sinh từ khi thi công đến thời điểm kiểm kê đánh giá.

1.2.Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của Công ty cổ phần cơ khí xây
dựng số 18
1.2.1.Quy trình công nghệ
Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.Sản phẩm xây lắp là những công trình
kiến trúc, cơ sở hạ tầng mang tính đơn chiếc, có kích thước và chi phí lớn, thời gian
hoàn thành lâu dài. Xuất phát từ đặc điểm đó nên quá trình sản xuất sản phẩm của
Công ty cổ phần cơ khí xây dựng số 18 cũng giống như các công ty xây lắp khác.
Mỗi công trình đều có dự toán thiết kế riêng và phân bổ ở các địa điểm khác nhau.
Thời gian để hoàn thành một sản phẩm dài hay ngắn tùy thuộc vào quy mô từng hạng
mục, công trình lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp, điều kiện thi công thuận lợi hay
phức tạp...
Chỉ một số công trình đặc biệt Công ty được Nhà nước và Bộ xây dựng chỉ định
thầu thông qua Tổng công ty, còn lại hầu hết các công trình Công ty phải thực hiện
đấu thầu và để đảm bảo trúng thầu Công ty phải chứng minh được khả năng, năng
lực của mình trên mọi mặt,khả năng tổ chức thi công, khả năng tài chính,…Tất cả các
công trình khi tham gia đấu thầu đều phải có tiền đặt cọc hoặc giấy bảo lãnh (đặt cọc)
của ngân hàng nộp cho chủ đầu tư tránh tình trạng đơn vị trúng thầu nhưng vì lý do
nào đó bỏ không thi công thì sẽ phải bồi thường khoản tiền đặt cọc. Do vậy trước khi
làm hồ sơ dự thầu Công ty phải đi thực tế hiện trường để khảo sát điều kiện thi công
sau đó mới bắt tay vào công việc làm hồ sơ dự thầu, quá trình này phải hết sức thận
trọng, chính xác và cố gắng để trúng thầu mà vẫn đảm bảo được hiệu quả kinh tế của
Lê Văn Hùng– KT21
7
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
mỗi sản phẩm sau khi hoàn thành.
Sau khi trúng thầu, hoàn thành phần ký hợp đồng, Công ty tổ chức thi công làm
sao đảm bảo tiến độ chất lượng kỹ thuật sản phẩm và an toàn lao động. Mỗi hạng
mục công việc hoàn thành phải có biên bản nghiệm thu sơ bộ đồng ý chuyển bước
tiếp theo do giám sát kỹ thuật bên A ký xác nhận. Mỗi công trình phải mở số nhật ký
thi công hàng ngày cũng do giám sát kỹ thuật bên A ký xác nhận. Khi công trình

hoàn thành toàn bộ hai bên sẽ tổ chức nghiệm thu khối lượng xây lắp hoàn thành,
chất lượng toàn bộ công trình và bàn giao công trình cho chủ đầu tư đưa vào sử dụng.
Thời gian bảo hành công trình thường là 12 tháng tính từ đây.
Tùy theo sự thỏa thuận trên hợp đồng bên A sẽ tạm ứng hoặc thanh toán cho
bên B theo từng giai đoạn hoặc khối lượng công việc hoàn thành nào đó, khi kết thúc
công trình bàn giao sẽ được thanh toán hết số tiền còn lại trừ số tiền bảo hành bên A
giữ lại khoảng 5%, hết thời gian bảo hàng sẽ thành toán hết.
Hồ sơ nghiệm thu bàn giao tổng thể công trình bao gồm: hồ sơ hoàn công, biên
bản nghiệm thu kỹ thuật, biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành. Tất cả các biên
bản này được lập dựa trên nhật ký thi công và biên bản nghiệm thu từng hạng mục
công việc.
Lê Văn Hùng– KT21
8
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Sơ đồ 1.2: Công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty COMA18
1.2.2.Cơ cấu tổ chức sản xuất
Các xí nghiệp: gồm có 5 xí nghiệp và 02 đội xây dựng trực thuộc:
Các xí nghiệp được tự tổ chức bộ máy quản lý có Giám đốc, Phó giám đốc, các
phòng ban, tổ đội thi công..., hạch toán độc lập với Công ty, có con dấu, tài khoản riêng.
Các đội thi công được tổ chức gọn nhẹ, hạch toán báo sổ, bộ máy chỉ bao gồm:
đội trưởng, một kế toán, một thủ quỹ, 2 đến 3 cán bộ kỹ thuật, một cán bộ vật tư,
công nhân biên chế từ 40 – 50 người, còn lại là thuê lao động ngoài những công việc
mang tính chất thủ công.
Lê Văn Hùng– KT21
9
Tổ chức Hồ sơ
đấu thầu
Thông báo
trúng thầu
Chỉ định thầu

Hîp ®ång
kinh tÕ víi
chñ ®Çu t­
Bảo vệ phương
án và biện pháp
tổ chức thi công

Thành lập
công trường
Ban chỉ huy
Lập phương án
tổ chức thi
công
Tiến hành tổ chức
thi công theo kế
hoạch
Hồ sơ nghiệm thu
hạng mục công
việc, nhật ký thi
công
Tổ chức nghiệm thu
toàn bộ và bàn giao
công trình
Hồ sơ quyết toán
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
1.3. Quản lý chi phí sản xuất của Công ty
1.3.1 Quản lý chung toàn doanh nghiệp
Quản lý chi phí là một phần của các chiến lược tăng trưởng kinh doanh nhằm
không những cắt giảm chi phí mà còn tạo ra các ưu thế cạnh tranh rõ rệt trên thị
trường. Nếu doanh nghiệp không chú ý tới thì doanh nghiệp không thể nào nhận biết

được tình hình thực tế của những dự án đầu tư, các kế hoạch kinh doanh cũng như
thực trạng hoạt động của công ty.
Việc tìm giải pháp tài chính tối ưu cho chiến lược phát triển bền vững trong thời
kỳ hậu hội nhập WTO luôn là vấn đề nan giải nhất đối với các DN hiện nay. Vì vậy
các doanh nghiệp phải tính đến là việc quản lý và tiết kiệm chi phí ngày một hiệu quả
hơn để sản phẩm, dịch vụ của mình ngày càng có chất lượng, giá cả phù hợp hơn với
khách hàng.
Do đó doanh nghiệp đã có những biện pháp quản lý chi phí như:
+ Lập dự toán chi phí SXKD
+ Xác định giá phí đơn vị sản phẩm
+ Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí bộ phận theo từng trung tâm chi phí
+ Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận
+ Phân tích thông tin chi phí để lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định
kinh doanh
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ các bộ phận liên quan đến kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí chỉ có thể được kiểm soát khi DN tuân thủ theo các bước kiểm soát chi
phí. Trước hết DN phải lập định mức chi phí, cụ thể là định mức cho các khoản chi
phí theo những tiêu chuẩn gắn với từng trường hợp cụ thể trên cơ sở phân tích hoạt
động của DN. Như vậy DN phải nghiên cứu các dữ liệu trước đây, đưa ra một sự so
sánh chuẩn cũng như căn cứ vào diễn biến giá cả trên thị trường và chiến lược phát
triển của công ty. Bước kế tiếp là thu thập thông tin về chi phí thực tế. Công việc này
không chỉ là trách nhiệm của phòng kế toán, mà còn phải được sự tham gia của các
phòng, ban khác để DN chủ động hơn trong việc xử lý thông tin chi phí. Các chi phí
phải được phân bổ thành từng loại cụ thể. Ngoài ra, DN phải phân tích biến động giá
Lê Văn Hùng– KT21
10
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
cả trên thị trường theo định kỳ, dựa trên những thông tin chi phí thực tế và so sánh
với định mức đã thiết lập để dễ dàng xác định sự khác biệt giữa chi phí thực tế với

định mức, đồng thời khoanh vùng những nơi phát sinh chi phí biến động. Sau khi
điều tra và biết được nguyên nhân biến động chi phí, DN sẽ xác định các chi phí và
kiểm soát được của từng bộ phận nhân viên.
Lê Văn Hùng– KT21
11
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ
XÂY DỰNG SỐ 18
Trong ngành XDCB, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất, thi công
bàn giao công trình trong một thời kỳ nhất định.Chi phí sản xuất của doanh nghiệp
xây lắp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình thi công. Để phục vụ cho việc
quản lý và hạch toán, chi phí sản xuất phải được tính toán, tập hợp theo từng thời kỳ
nhất định như tháng, quý, năm. Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ chỉ bao gồm các
chi phí bỏ ra trong kỳ đó, không bao gồm chiphí từ kỳ trước chuyển sang. Phân loại
chi phí sản xuất là nội dung quan trọng cần được thực hiện để phục vụ cho việc tổ
chức theo dõi, tập hợp chi phí sản xuất để tính được giá thành sản phẩm và kiểm soát
chặt chẽ các loại chi phí sản xuất phát sinh.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (Phân loại
theo yếu tố của chi phí).Theo cách phân loại này các chi phí có nội dung, tính chất kinh
tế giống nhau được xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh
vực nào, ở đâu, mục đích và tác dụng của chi phí đó như thế nào. Toàn bộ chi phí sản
xuất phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu.
- Chi phí nhân công: gồm tiền lương (lương chính, lương phụ).
- Chi phí khấu hao tài sản cố định.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí khác bằng tiền...

Cách phân loại này cho biết kết cấu, tỷ trọng từng loại chi phí chi ra trong quá
trình sản xuất, để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí, là cơ sở để
lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố, lập kế hoạch mua sắm vật tư,…
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này các chi phí có cùng mục đích và công dụng được tập
hợp thành một loại và bao gồm các khoản mục chi phí sau:
Lê Văn Hùng– KT21
12
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu sử dụng
trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây lắp bỏ ra.
+ Chi phí nhân công trực tiếp.
+ Chi phí sử dụng máy thi công.
+ Chi phí sản xuất chung.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất
theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản
xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau.
* Các cách phân loại khác.
- Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí:
+ Chi phí trực tiếp.
+ Chi phí gián tiếp.
- Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và quy mô
sản xuất:
+ Chi phí cố định.
+ Chi phí biến đổi.
2.1. Kế toán chi phí sản xuất tại công ty cổ phần cơ khí xây dựng số 18
Chi phí sản xuất xây lắp của Công ty gồm các chi phí về: cát, đá, sỏi, thép, xi
măng, đinh,… lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân
xây lắp và nhân viên quản lý đội, công trình; chi phí thuê ngoài máy thi công, tiền

điện,…phục vụ hoạt động xây lắp công trình, hạng mục công trình.Để quản lý chặt
chẽ chi phí dùng cho sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm, Công ty tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo
mục đích, công dụng của chi phí:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là những chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ,
các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành
thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng
xây lắp như: sắt, thép, xi măng…Nó không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho
máy thi công và sử dụng cho quản lý đội công trình.
Lê Văn Hùng– KT21
13
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số ngày
công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp, công
nhân phục vụ xây lắp, kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi
mặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công,
không phân biệt công nhân trong danh sách hay công nhân ngoài danh sách.
Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công và
các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công.
Chi phí sản xuất chung: là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ
và quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trường xây dựng. Chi phí sản xuất
chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều khoản chi phí khác nhau thường có mối
quan hệ gián tiếp với các đối tượng xây lắp như: tiền lương nhân viên quản lý đội xây
dựng, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ được tính theo tỉ lệ quy định trên tiền lương
phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp và nhân viên quản lý đội (thuộc biên chế của
công ty), khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên
quan đến hoạt động của đội…
<Dưới đây là số liệu của công trình bệnh viên Huyện thiệu hóa ,tỉnh Thanh
Hóa,do công trình nằm ở Thanh Hóa công ty không trực tiếp phân công đội máy thi
công của công ty làm công trình này được do đó công ty đã thuê đội máy thi công tại

một công ty ở đây,do vậy kế toán đã không trực tiếp thu thập và phản ánh chi phí
máy thi công.>
2.1.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2.1.1.1- Nội dung chi phí NVL trực tiếp
Khoản mục này thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và
ảnh hưởng lớn tới khoản mục giá thành. Xuất phát từ cơ chế khoán mà Công ty áp
dụng, Công ty sau khi ký được các hợp đồng xây dựng mới tiến hành giao khoán cho
các đội xây dựng. Các đội xây dựng tự tổ chức cung ứng vật tư, nhân lực để thi công
công trình. Trường hợp các đội không thể tự đảm bảo được nguồn vật tư thì có thể
yêu cầu Công ty giúp đỡ. Vì vậy, nguồn cung ứng vật tư chủ yếu cho các đội xây
dựng thi công công trình là nguồn vật liệu mua ngoài. Trong cơ chế thị trường hiện
nay việc cung cấp vật liệu tương đối dễ dàng, Công ty áp dụng cách tổ chức này cho
Lê Văn Hùng– KT21
14
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
phép các đội có thể chủ động nguồn vật liệu, thuận tiện cho hoạt động thi công, tiết
kiệm được chi phí lưu kho, bảo đảm và đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn.
2.1.1.2- Chứng từ sử dụng và trình tự luân chuyển chứng từ
Chứng từ và trình tự luân chuyên chứng từ trong công ty thực hiện qua các
bước sau:
Chứng từ gốc: Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại Công ty đều có chứng từ kế
toán làm cơ sở cho việc ghi sổ kế toán. Các chứng từ kế toán áp dụng tại công ty
Đều tuân thủ theo chế độ chứng từ kế toán hiện hành. Ngoài ra Công ty còn sử dụng
các chứng từ đặc thù như: hợp đồng giao khoán, hợp đồng thuê máy, bản thanh

Hợp đồng.Hàng ngày khi các chứng từ gốc được tập trung về phòng kế toán, kế
toán
Trưởng kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của các chứng từ sau đó ký duyệt, thực
hiện phân loại chứng từ và giao cho các kế toán phần hành.
Chứng từ ghi sổ: Kế toán phần hành sau khi nhận được chứng từ gốc tiến hành

lập các chứng từ ghi sổ theo các mẫu đã được quy định.
Sổ chi tiết tài khoản: Kế toán phần hành sau khi lập các chứng từ ghi sổ tiến
hành vào sổ chi tiết tài khoản chi phí phát sinh theo từng đối tượng.
Bảng tổng hợp chi tiết chi phí: Bảng này có mẫu như sau và để tổng hợp chi phí
của tất cả các đối tượng (tất cả các công trình chứ không chi tiết cho từng công trình)
2.1.1.3 Tài khoản sử dụng
Tài khoản 621: chi phí nguyên vật liệu
- Tài khoản 6211 : Đá
- Tài khoản 6212 : Cát
- Tài khoản 6213 : Xi măng
….
2.1.1.4- Quy trình ghi sổ kế toán chi tiết
Khi có nhu cầu xuất vật tư cung cấp cho công trình thủ kho công trường lập
phiếu xuất kho.
Vật tư sử dụng cho thi công được hạch toán theo giá thực tế. Giá thực tế vật tư
Lê Văn Hùng– KT21
15
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
bao gồm giá mua, chi phí vận chuyển, bốc dỡ. Tại kho công trường, kế toán sử dụng
phương pháp trực tiếp để xác định giá trị thực tế của vật liệu xuất dùng.
Kế toán đội theo dõi tình hình nhập xuất vật tư trên sổ chi tiết vật liệu.
Cuối tháng căn cứ vào phiếu xuất kho, kế toán vào sổ chi tiết vật liệu và lập
bảng tổng hợp xuất vật tư.
Biểu Số 2.1.1: Phiếu xuất kho
Đơn vị: Công ty cổ phần cơ khí xây dựng số 18 Mẫu số: 02VT
Ban hành theo QĐ số 1141 TC/CĐKT
Ngày 1/11/1995 của bộ tài chính
PHIẾU XUẤT KHO
Ngày 01 tháng 07 năm 2010 Số:120
Nợ:

Có:
- Họ và tên người nhận: Lê Văn Long
- Lý do xuất kho: Xuất kho cho công trình bệnh viện Huyện thiệu hóa
- Xuất tại kho:Công trình Bệnh viện huyện thiệu hóa
STT Tên vật tư Đơn vị tính
Số
lượng
Đơn giá Thành tiền
A B D 1 2 3
1 Xi măng kg 1050 5000 5.250.000
2 Cát vàng m
3
60 80.000 4.800.000
3 Cát đen m
3
42 60.000 2.520.000
Tổng 12.570.000
Tổng số tiền (viết bằng chữ):
Người nhận Thủ kho Thủ trưởng đơn vị
Lê Văn Hùng– KT21
16
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Biểu số 2.1.2: Bảng tổng hợp xuất vật tư tháng
Bảng tổng hợp xuất vật tư tháng 07/2010
Công trình: Bệnh viện Huyện thiệu hóa
STT Tên vật tư ĐV Số lượng Thành tiền
1.
2.
3.
4.

5.
-Xi măng
- Cát đen
- Cát vàng
- Dây điện
................
Kg
M
3
M
3
m
11.000
42
60
500
55.000.000
2.520.000
4.800.000
195.000
Tổng cộng 200.500.000
Cuối tháng kế toán đội tập hợp các chứng từ gốc cùng các chứng từ có liên
quan nộp lên phòng tài vụ của công ty. Căn cứ vào các chứng từ gốc kế toán công ty
ghi chứng từ ghi sổ. Từ chứng từ ghi sổ và các chứng từ gốc, kế toán vào sổ chi tiết,
sổ cái tài khoản 621. Cuối mỗi quý, kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào
TK 154 vào chứng từ ghi sổ và các chứng từ ghi sổ khác có liên quan.
Biểu số 2.1.3: Chứng từ ghi sổ TK 621
Mẫu
Chứng từ ghi sổ Số:110
Ngày 31 tháng 07 năm 2010

STT Diễn giải
TK
ĐƯ
Số tiền
Nợ Có
Chi phí NVL TT cho công trình 621
152 200.500.000
200.500.000
Tổng 200.500.000
Người lập biểu Kế toán trưởng
Lê Văn Hùng– KT21
17
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Biểu số 2.1.4: Sổ chi tiết nguyên vật liệu TK 621
Sổ chi tiết nguyên vật liệu
TK 621: Bệnh viện Huyện thiệu hóa
Chứng từ
SH NT
Diễn giải
TK
ĐƯ
Số tiền
Nợ Có
Dư đầu kì
0

121
1/7
Mua cát cho thi công
111 18.500.000

PXK
120
5/7
Xuất xi măng cho thi công
....................
152 5.250.000
31/7
Cộng phát sinh trong tháng 7
200.500.000
........................
31/8
Cộng phát sinh tháng 8
118.000.000
...........................
30/9
Cộng phát sinh tháng 9
105.200.000
30/9
Kết chuyển CPNVL quý 3
154 423.700.000
Tổng phát sinh
423.700.000 423.700.000
Dư cuối kì 0
Lê Văn Hùng– KT21
18
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Biểu số 2.1.5:Sổ cái TK 621
SỔ CÁI
TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CTGS

SH NT
Diễn giải
TK
ĐƯ
Số tiền
Nợ Có
Dư đầu kì
0
110 31/7 CPNVLTT công trình bệnh
viện
152
200.500.000
117 31/7 CPNVLTT trường PTTH
Lê Văn Hưu
152
120.700.000
................
215 30/9 Kết chuyển chi phí NVL
trực tiếp công trình bệnh
viện huyện thiệu hóa
154
423.700.000
216 30/9 Kết chuyển chi phí NVL
trực tiếp công trình PTTH
Lê Văn Hưu
154
914.520.000
............
Tổng phát sinh
18.178.962.000 18.178.962.000

Dư cuối kì 0
Lê Văn Hùng– KT21
19
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2.1.1.5- Quy trình ghi sổ tổng hợp
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty như sau

Sơ đồ 2.1.1 : Quy trình ghi sổ tổng hợp NVL
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Lê Văn Hùng– KT21
20
Chứng từ gốc về chi phí và
các bảng phân bổ
Lập chứng từ
Sổ cái tài khoản 621
Bảng cân đối số phát
sinh
Sổ chi tiết TK 621
Bảng tính giá thành
và các bảng tổng
hợp chi phí
Báo cáo kế toán
Sổ đăng kí
chứng từ ghisổ
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2.1.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
2.1.2.1- Nội dung
Tại Công ty khoản mục chi phí nhân công trực tiếp chiếm tỷ trọng khá lớn trong

giá thành các công trình (10 ->15%), hơn nữa có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của
người lao động cũng như nghĩa vụ của đơn vị đối với người lao động do đơn vị quản lý,
sử dụng do vậy hạch toán đúng, đủ chi phí nhân công trực tiếp không chỉ góp phần vào
việc tính toán hợp lý, chính xác giá thành công trình mà còn giúp việc thanh toán chi trả
lương, tiền công kịp thời, khuyến khích động viên người lao động.
Lực lượng lao động trong công ty gồm: công nhân trong danh sách và công
nhân ngoài danh sách (thuê ngoài). Trong đó, công nhân trong danh sách là nòng cốt
bao gồm công nhân trực tiếp và công nhân gián tiếp, số này được tổ chức thành các
đội xây lắp và được công ty giao xây lắp các công trình, hạng mục công trình nhất
định. Lao động ngoài danh sách làm theo hợp đồng ngắn hạn và biến động tùy thuộc
từng thời kỳ theo yêu cầu sản xuất thi công.
Hiện nay, Công ty đang áp dụng hai hình thức trả lương, đó là: trả lương theo
thời gian và trả lương theo sản phẩm (lương khoán).
Lương khoán: chỉ áp dụng đối với công nhân làm việc tại công trình và có định
mức hao phí nhân công, được giao khoán tới từng tổ, đội xây lắp.
Lương thời gian: áp dụng đối với cán bộ chỉ đạo thi công, bộ máy gián tiếp của
công ty và cũng áp dụng cho những công nhân làm công việc không có định mức tiêu
hao chi phí nhân công (làm công nhật).
Đối với khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, hàng quý Công ty tiến hành trích
theo tỷ lệ quy định của Nhà nước cho bộ phận công nhân viên trong danh sách. Đối
với bộ phận thuê ngoài, Công ty không trích BHXH, BHYT, KPCĐ.
Đối với công nhân trực tiếp sản xuất :
Hiện nay, tại Công ty thực hiện phương thức khoán lương cho công nhân trực
tiếp sản xuất ở các đội. Căn cứ vào dự toán công trình trúng thầu, chi phí nhân công
trong dự toán, Phòng kế hoạch, Ban giám đốc sẽ giao khoán quỹ lương của công
trình, xí nghiệp, đội căn cứ vào tiền lương được hưởng của công trình để dự toán tiền
lương của công nhân sao cho hiệu quả nhất.
Lê Văn Hùng– KT21
21
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Mỗi tháng giữa công ty và đội xây lắp đều có hợp đồng giao khoán trong đó ghi
rõ nội dung, khối lượng, đơn giá công việc. Đội xây dựng căn cứ vào hợp đồng này
để thực hiện khối lượng công việc được giao, đảm bảo đúng kỹ thuật, tiến độ thi
công.
Hàng ngày, tổ trưởng tổ sản xuất có nhiệm vụ theo dõi chấm công cho từng
công nhân trong ngày vào bảng chấm công của tháng. Cuối tháng, cán bộ kỹ thuật và
đội trưởng đội xây lắp tiến hành nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành. Căn
cứ hợp đồng khoán và biên bản này, kế toán xác định tổng mức lương mà đội xây lắp
được hưởng trong tháng.
Tổng số lương khoán = Tổng khối lượng công việc x Đơn giá khối lượng công việc
Căn cứ bảng chấm công do độ gửi lên, kế toán xác định đơn giá 1 công và tiền
lương mỗi công nhân được hưởng:
Đơn giá một công =
Tổng lương khoán
Tổng số công
Lương khoán 1 công nhân = đơn giá 1 công x số công của mỗi công nhân
2.1.2.2- Chứng từ sử dụng và trình tự luân chuyển chứng từ
*Chứng từ sử dụng:
+Bảng chấm công
+Bảng nghiệm thu khối lượng hoàn thành
+Bảng thanh toán lương và phụ cấp
+Hợp đồng thuê ngoài, bảng nghiệm thu khối lượng thuê ngoài bảng thanh toán
lương thuê ngoài.
+Bảng phân bổ các khoản trích theo lương
+ BHXH
+ BHYT
+ KPCĐ
*Trình tự luân chuyển chứng từ
Căn cứ vào các chứng từ gốc như Bảng chấm công, Bảng thanh toán lương
nhân công trực tiếp và nhân công thuê ngoài mà kế toán đội gửi lên, kế toán kiểm tra

Lê Văn Hùng– KT21
22
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
và định khoản trên chứng từ ghi sổ. Từ các chứng từ ghi sổ cuối mỗi tháng kế toán
vào sổ chi tiết, sổ cái TK 622 và các tài khoản khác có liên quan
2.1.2.3 Tài khoản sử dụng
Hạch toán các khoản lương và các khoản tính theo lương của công nhân trực
tiếp sản xuất kế toán sử dụng các tài khoản:
TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
TK 334: Lương phải trả công nhân
TK 3382: Kinh phí công đoàn
TK 3383: Bảo hiểm xã hội
TK 3384: Bảo hiểm y tế
2.1.2.4 Quy trình ghi sổ kế toán chi tiết
Sau khi làm các hợp đồng, các tổ công trình tự thi công. Trong quá trình đó tổ
trưởng tự chấm công cho các thành viên trong tổ qua bảng chấm công. Lương cho tổ
trưởng là 90.000đ/công, các công thợ là 75.000đ/công.
Khi kết thúc công việc, đại diện tổ sẽ cùng đội trưởng làm bản nghiệm thu kết
quả khoán gọn và thông qua bảng chấm công của các tổ, kế toán đội lập bảng thanh
toán lương cho các tổ và tổ trưởng tự chia lương cho các thành viên trong tổ theo số
công mà họ làm.
Cuối tháng kế toán đội tập hợp các hợp đồng khoán gọn và bảng chấm công
để lập bảng thanh toán lương và BHXH cho công nhân trực tiếp thi công.
Lê Văn Hùng– KT21
23
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Biểu số 2.1.6: Bảng chấm công
Công ty Cổ phần cơ khí xây dựng số 18
Đội xây dựng số 1
Tổ 1

BẢNG CHẤM CÔNG
Tháng 7 năm 2010
Công trình:Bệnh viện huyện thiệu hóa
STT Họ tên Chức vụ
Số ngày trong tháng Quy ra số công hưởng
1 2 .. 31
Lương
thời
gian
Lương
sản
phẩm
BH
XH
1 Lê Duy Dũng Thợ xây
x x 29
2 Lê Văn Tuấn Thợ xây
x x x 27
.............
Tổng 260
Đội trưởng Người chấm công
Lê Văn Hùng– KT21
24
Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Biểu số 2.1.7: Bảng thanh toán tiền lương tháng
Công ty cổ phần cơ khí xây dựng số 18
Đội xây dựng số 1
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG THÁNG 07/2010
Đội xây dựng số 1
Công trình: Bệnh viện huyện thiệu hóa

Số
TT
Họ và tên Bộ phận Tổng lương
Các khoản
khấu trừ
Còn lại
1 Lê Văn Tuấn Tổ 1 6.630.000 3.977.800 2.652.200
2 Lê Duy Dũng Tổ 2
..................
Tổng 27.384.000
- Đối với lao động thuê ngoài:
Do khối lượng công việc lớn cần nhiều nhân công nên khi thi công cần thuê
ngoài lao động tại địa bàn công trình. Việc thuê ngoài nhân công sẽ làm giảm bớt chi
phí di chuyển lao động và chi phí sinh hoạt của công nhân. Đội trưởng công trình
cùng với các tổ trưởng quản lý đội ngũ nhân công này và trả lương theo hình thức
khoán gọn. Đây chính là hình thức trả lương theo sản phẩm. Mức khoán định mức
dựa trên định mức khoán của từng phần việc.
Căn cứ vào khối lượng công việc các tổ trưởng các đội sẽ lập hợp đồng thuê
mướn nhân công, giao khoán khối lượng công việc cần phải hoàn thành cho người
đại diện của nhóm nhân công đó. Sau khi công việc hoàn thành và lập biên bản
nghiệm thu, kế toán đội lập bảng thanh toán nhân công thuê ngoài.
Lê Văn Hùng– KT21
25

×