Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

Hoạt động thực hành quyền công tố của kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự từ thực tiễn quận 11, thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (596.29 KB, 65 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG NGUYÊN ĐÁN

HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN 11, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG NGUYÊN ĐÁN

HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN 11, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ


Hà Nội - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sỹ “Hoạt động thực hành quyền công tố của
Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự từ thực tiễn Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh” là cơng trình nghiên cứu khoa học do bản thân tơi thực
hiện với sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Nhã. Kết quả trong luận văn là
trung thực và chưa được công bố tại bất kỳ cơng trình khoa học nào.
Tơi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2019

Tác giả luận văn

Hoàng Nguyên Đán


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ ....................................................................................................07
1.1. Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của điều tra vụ án hình sự ....................... 07
1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ................................................................. 88
1.3. Nội dung thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự………………………………………………………………….15
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN
HÌNH SỰ ..................................................................................................................19
2.1. Quy định của pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ năm 1945 đến 2015 ....................... 19
2.2. Quy định của pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự .......................................................... 22
Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO
ĐẢM THỰC HIỆN .................................................................................................39
3.1. Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh ....................... 39
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố của
Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ........................................... 49
KẾT LUẬN ..............................................................................................................55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra


THQCT

Thực hành quyền cơng tố

TTHS

Tố tụng hình sự

VKS

Viện kiểm sát

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

KSV

Kiểm sát viên


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong khởi
tố vụ án hình sự .........................................................................................................63
Bảng 3.2: Số liệu khởi tố vụ án và khởi tố bị can ....................................................63
Bảng 3.3: Số vụ án, số bị can VKSND hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định không
khởi tố và khởi tố yêu cầu điều tra ............................................................................64
Bảng 3.4: Số vụ án và số bị can đình chỉ điều tra ....................................................65
Bảng 3.5: Số liệu áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam ........................66

Bảng 3.6: Số người Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, hủy bỏ
quyết định tạm giữ, yêu cầu bắt tạm giam, không phê chuẩn lệnh tạm giam ...........67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự được đánh giá là giai đoạn tố tụng tiềm ẩn
nhiều nhất nguy cơ sai sót, vi phạm pháp luật, kể cả những sai sót, vi phạm pháp
luật nghiêm trọng dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai. Vì vậy, điều
tra vụ án hình sự có vai trị quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động
buộc tội với hoạt động tố tụng chủ đạo là hoạt động của Cơ quan điều tra (CQĐT),
để hạn chế sai sót, vi phạm trong giai đoạn này phải có những chủ thể đại diện cho
Nhà nước đảm bảo hoạt động này đúng quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên là người đại diện cho VKS và trực tiếp thực hiện chức năng
quan trọng là THQCT, do đó, Kiểm sát viên giữ nhiệm vụ rất quan trọng với tư
cách là một chủ thể tham gia quá trình giải quyết vụ án hình sự, thể hiện qua việc
nắm giữ vai trò đầu mối và là chủ thể xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự
nói chung và trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng nhằm bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo
cho việc điều tra đúng pháp luật, truy tố đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội
phạm.
Tuy nhiên, việc thực hành quyền công tố của KSV trong giai đoạn điều tra ở
Việt Nam hiện nay nói chung và ở VKS Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nói
riêng đã đạt được những kết quả quan trọng nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế,
tồn tại như: Vai trò của KSV trong giai đoạn điều tra còn chưa tương xứng với chức
năng, nhiệm vụ; chất lượng thực hành quyền công tố của KSV trong giai đoạn điều
tra ở đơn vị còn nhiều hạn chế như tình trạng đình chỉ điều tra do bị can khơng
phạm tội còn xảy ra hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Kiểm sát viên trong giai đoạn
điều tra chưa phát huy được tính chủ động và tinh thần trách nhiệm chưa cao. Mặt
khác, năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực tế của Kiểm

sát viên hiện cịn chưa đồng đều; việc tăng cường cơng tố trong giai đoạn điều tra,
gắn công tố trong giai đoạn điều tra còn chưa đạt như yêu cầu đặt ra. Từ những hạn
chế trên dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, làm oan, sai người vô tội đã và đang xảy ra.
1


Trong đó, những sai sót trong giai đoạn điều tra có tác động rất lớn đến việc xảy ra
những hạn chế nêu trên.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân
dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp...tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra”, là
những nội dung quan trọng được đặt ra đối với Viện kiểm sát nhân dân trong công
cuộc cải cách tư pháp mà Việt Nam đang tiến hành.
Nghiên cứu về hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhằm xây dựng một nền công tố mạnh, giúp cho
mọi người nhận thức đúng, đủ về chủ thể này trong hoạt động TTHS thơng qua đó
hồn thiện hệ thống pháp luật, hồn thiện cơ chế tổ chức, điều kiện làm việc, các
chế độ đãi ngộ đối với Kiểm sát viên. Do đó học viên chọn đề tài “Thực hành
quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự từ
thực tiễn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước luận văn đã có một số cơng trình nghiên cứu về Viện kiểm sát, Kiểm
sát viên thực hành quyền cơng tố, có thể kế đến như:
Hồng Xn Đàn, “Thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn điều tra các vụ
án hình sự ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học năm 2018, Học viện Khoa
học xã hội [06]. Luận án góp phần hồn thiện lý luận về thực hành quyền cơng tố
của VKS trong điều tra vụ án hình sự và tạo cơ sở cho việc nhận thức thống nhất về

chức năng công tố của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự.
Nguyễn Phương Nhung, “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân - thực tiễn tại tỉnh Yên Bái”, Luận
văn thạc sĩ luật học năm 2016, Đại học quốc gia Hà Nội [14]. Luận văn đã nghiên
cứu và đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật được chính

2


xác, nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Nguyễn Thị Hạnh, “Người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân
theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố
Hà Nội)”, Luận văn thạc sĩ luật học năm 2015, Đại học quốc gia Hà Nội [09]. Luận
văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận của pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động
của những người tiến hành tố tụng về những người tiến hành tố tụng thuộc Viện
kiểm sát nhân dân (VKSND) nói chuyng, của VKSND Thành phố Hà Nội nói riêng.
Phan Trương Hiền, “Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Củ
Chi, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học năm 2018, Học viện Khoa
học xã hội [11]. Luận văn đã nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận về địa vị pháp lý và
đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của Kiểm sát viên trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Đoàn Tạ Cửu Long, “Hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình
sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Luận án tiến sĩ luật học năm 2015, Trường Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh [13]. Luận án đã nghiên cứu toàn diện cơ sở lý
luận về hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự nhằm tạo cơ sở cho việc
nhận thức thống nhất về vị trí, vai trị và chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp.
Qua nghiên cứu cho thấy nội dung của các cơng trình nghiên cứu, luận án,

luận văn trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 thì hầu hết các cơng trình đó đều là những cơng trình
nghiên cứu trực diện về chức năng, nhiệm vụ của VKSND; về địa vị pháp lý của
Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra; hoặc đề cập đến hoạt động của Kiểm sát viên
trong suốt quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố cho đến thi hành án. Tuy nhiên,
chưa có một cơng trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và
sâu sắc về hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn

3


điều tra các vụ án hình sự và những hạn chế, bất cập cịn tồn tại cũng chưa được
phân tích đầy đủ và có hệ thống để có những phương hướng, giải pháp nâng cao
hoạt động của chủ thể này trong quá trình tham gia giải quyết vụ án hình sự ở giai
đoạn điều tra.
Từ nhận định trên, luận văn này sẽ tiếp tục nghiên cứu về hoạt động thực
hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự,
với sự phân tích số liệu cụ thể trên địa bàn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó
đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hoạt động thực hành
quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu toàn diện, hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động thực
hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và
phân tích tình hình thực tiễn cụ thể tại địa bàn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh để
từ đó đưa ra những giải pháp tăng cường hiệu quả thực hành quyền công tố của
Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận như khái niệm, nhiệm vụ và mục

đích của điều tra vụ án hình sự; Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố của
Kiểm sát viên trong điều tra vụ án hình sự; Nội dung hoạt động thực hành quyền
công tố của Kiểm sát viên trong điều tra vụ án hình sự;
- Phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật về hoạt động thực hành
quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự;
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động THQCT của Kiểm sát viên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại địa bàn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó; Từ đó,
đưa ra các quan điểm, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng THQCT của Kiểm
sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4


4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là các vấn đề lý luận và các quy định của
pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự và thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên tại Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự được tiến hành từ khởi tố vụ án và kết thúc bằng việc CQĐT kết
luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra vụ án.
Phạm vi nghiên cứu về không gian là hoạt động thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra của Kiểm sát viên ở Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 và
thời gian nghiên cứu trong giai đoạn 5 năm (2014 - 2018).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và

duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp tổng hợp, phân tích, lịch sử, so sánh, thống kê số liệu… tình hình thực
tiễn thực hành quyền công tố tại VKSND Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa mặt lý luận
Luận văn đã nghiên cứu có hệ thống và tồn diện các vấn đề lý luận về thực
hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, từ đó
đề xuất một số kiến nghị nâng cao chức năng thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn

5


Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích trong giảng dạy và
nghiên cứu của cán bộ giảng dạy, sinh viên trong các Trường đại học Luật, các cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp như Học Viện tư pháp, Trường đào
tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát hoặc sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những
người quan tâm, nghiên cứu hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự cũng như sử dụng cho các cán bộ làm công
tác thực tiễn tại VKS các địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố của
Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố
của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Chương 3: Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh và các
giải pháp bảo đảm thực hiện.
Bên cạnh đó, luận văn cịn có phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phần kết luận.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của điều tra vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Theo “Giáo trình tố tụng hình sự Việt Nam” của trường Đại học luật Hà Nội,
Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2006: “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố
tụng hình sự; trong đó cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao một số hoạt
động điều tra được sử dụng một số biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để
thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có
liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tịa án. Đồng thời thơng qua
hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ
thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa đối với các cơ quan và tổ chức hữu
quan” [31]. Từ khái niệm này, ta có thể nhận thấy một số đặc điểm như:
Thứ nhất, điều tra vụ án hình sự là một trong những giai đoạn của tố tụng
hình sự.
Thứ hai, để bắt đầu giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì CQĐT phải ra quyết
định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng việc ban hành bản kết luận điều tra và
đề nghị truy tố người bị nghi phạm tội trước Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ
án. Nếu áp dụng thủ tục rút gọn, CQĐT không phải làm bản kết luận điều tra mà ra
quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ cho VKS khi kết thúc điều tra.

Thứ ba, để thu thập chứng cứ chứng minh có sự việc phạm tội, người thực
hiện tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như các tình tiết khác có
liên quan đến vụ án trong giai đoạn điều tra thì CQĐT được áp dụng mọi biện pháp
do pháp luật tố tụng hình sự. Đồng thời, CQĐT sẽ kiến nghị biện pháp phòng ngừa
với cơ quan và tổ chức hữu quan.
1.1.2. Nhiệm vụ và ý nghĩa của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Nhiệm vụ và ý nghĩa của giai đoạn điều tra cịn có sự khác nhau ở các giáo
trình, tài liệu nhưng từ thực tiễn hoạt động điều tra có thể khái quát như sau:
7


- Thứ nhất, khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các quan hệ xã
hội hay có tố giác hoặc tin báo về tội phạm, CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền
có nhiệm vụ thu thập các chứng cứ để xác minh có hay khơng sự việc phạm tội xảy
ra, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, do một người hay nhiều người thực hiện
và có đồng phạm hay khơng, vai trị, tính chất, mức độ tham gia của mỗi người
trong vụ án đồng phạm để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án, hành vi của họ có
thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự hay
khơng… và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu thấy có dấu hiệu tội phạm.
- Thứ hai, luật tố tụng hình sự quy định, trong giai đoạn điều tra CQĐT phải
xác định được tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, kịp thời có
biện pháp để đảm bảo cho việc bồi thường và khắc phục hậu quả, đưa ra kiến nghị,
yêu cầu các cơ quan khắc phục các thiếu xót trong q trình quản lý con người,
quản lý tài sản và quản lý xã hội và những yêu cầu, kiến nghị phải được thực hiện
nghiêm chỉnh bởi các cơ quan, các tổ chức và mọi người trong xã hội, đồng thời
phải báo cáo các kết quả với cơ quan điều tra.
- Thứ ba, trong quá trình điều tra phải xác định và làm rõ được những
nguyên nhân và điều kiện phạm tội thông qua việc phải thu thập đầy đủ chứng cứ
như lấy lời khai, nhận dạng, đối chất, khám nghiệm hiện trường… nhằm chứng
minh tội phạm và tìm ra được những nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó có

biện pháp khắc phục thích hợp. Đồng thời kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp phòng ngừa.
1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm
sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.2.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên
1.2.1.1. Khái niệm Kiểm sát viên
- Xác định dựa vào việc thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo chức
năng của VKS được thể hiện ở các văn bản sau:

8


Theo Từ điển Luật học thì: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật để làm nhiệm vụ..., thực hành quyền công tố” [36, tr.263].
Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 định nghĩa: “Kiểm sát viên là người được
bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và
…” [32, Điều 1]. Tuy nhiên, hai khái niệm này đã khơng cịn phù hợp với thời điểm
hiện tại.
- Xác định dựa vào việc thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên là thực hành
quyền công tố và đã được quy định tại Điều 74 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2014: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố…”. Như vậy, khái niệm này đã xác
định đúng về nhiệm vụ của Kiểm sát viên và từ khái niệm trên, có thể nhận thấy
một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, Kiểm sát viên là một công chức Nhà nước, là chủ thể tiến hành tố
tụng và trực tiếp thực hiện chức năng thực hành quyền cơng tố của VKS trong suốt
q trình giải quyết vụ án hình sự.
Thứ hai, theo GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Chức danh tư pháp chỉ
những người thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một
chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp
luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của
pháp luật” [47, tr.5]. Như vậy, Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, nhân danh
Nhà nước tham gia vào các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật và tùy
theo quan điểm của các quốc gia khác nhau thì được gọi là nghề cơng tố hay nghề
kiểm sát.
Thứ ba, khi được phân công thực hành quyền công tố Kiểm sát viên là người
tiến hành tố tụng có quyền hạn, nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với
các quyết định, hành vi tố tụng do họ thực hiện theo quy định của pháp luật.
Như vậy, cả ba tư cách này của Kiểm sát viên đều gắn với hoạt động nghề
nghiệp của họ.

9


1.2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án hình sự
Khái niệm quyền công tố trong khoa học luật ở Việt Nam được các nhà
nghiên cứu đưa ra trong các công trình nghiên cứu và cịn có nhiều quan điểm khác
nhau.
Nếu như chỉ hiểu theo nghĩa hẹp, thì nội dung của quyền công tố chỉ được
thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ sau khi kết thúc việc điều tra tội phạm và vụ án
hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội
trước Tòa án và chấm dứt sau khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (quyết định) có
hiệu lực pháp luật đối với người đó, tức là trong hai giai đoạn của hoạt động tư pháp
hình sự - truy tố bị can ra Tòa và buộc tội bị cáo của VKS tại phiên tòa xét xử của
Tòa án.
Còn nếu như hiểu theo nghĩa rộng, thì nội dung của quyền cơng tố được thể
hiện trong phạm vi (giới hạn) từ khi bắt đầu việc điều tra tội phạm, tiếp đó là vụ án

hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội
trước Tòa án và chấm dứt khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (quyết định) có hiệu
lực pháp luật đối với người đó, tức là trong ba giai đoạn của hoạt động tư pháp hình
sự - điều tra tội phạm, truy tố bị can và bị xét xử của Tòa án.
Để xác định đúng đắn khái niệm về quyền công tố cần phải xuất phát từ
những cơ sở có tính ngun tắc sau đây:
Một là, quyền công tố là quyền của Nhà nước, xuất hiện cùng với sự ra đời
của Nhà nước và thay đổi theo bản chất Nhà nước. Với tính cách là một quyền lực
cơng, được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội để bảo vệ lợi ích của giai
cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà bất kỳ nhà nước nào (chủ nô,
phong kiến, tư sản hay xã hội chủ nghĩa) cũng đều cần phải can thiệp duy trì vì đó
là mơi trường tồn tại của Nhà nước, là trách nhiệm xã hội của Nhà nước chứ không
phải trách nhiệm cá nhân hay một nhóm người, bởi vì Nhà nước nói chung “dường
như” là người nhân danh xã hội duy trì xã hội trong vịng trật tự.

10


Hai là, quyền công tố là quyền lực công nghĩa là khi có vụ việc xâm phạm
lợi ích chung thì phải được phát hiện và đưa ra xử lý một cách cơng khai bằng con
đường Tịa án. Đây cũng là điểm chung cơ bản giữa các quan điểm khác nhau về
quyền cơng tố - quyền đưa vụ án ra Tịa và “buộc tội” người phạm pháp tại Tòa án.
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, khơng có nghĩa cứ phải đưa vụ án ra Tịa mới
là THQCT, vì cũng như các quyền năng tố tụng khác, nó được thể hiện ở các giai
đoạn khác việc thực hiện quyền đó. Các quyền năng ấy, trong đó có quyền cơng tố
vì thế có thể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác động của quyền
công tố có đủ căn cứ để cơ quan tố tụng ra những quyết định tố tụng. Như vậy, để
làm rõ phạm vi của quyền công tố không thể không xem xét đến các căn cứ làm
triệt tiêu quyền công tố.
Ba là, quyền cơng tố theo bản chất của mình là quyền yêu cầu trừng trị công

khai những hành vi phạm pháp liên quan đến lợi ích chung, do đó quyền cơng tố chỉ
có thể do một cơ quan thực hiện và được gọi là cơ quan công tố (ở nước ta thực
hiện chức năng này là VKS). Đây là một trong những yếu tố quan trọng và cần thiết
để phân biệt quyền công tố với các thẩm quyền tố tụng khác của cơ quan công tố,
của các cơ quan tiến hành tố tụng khác như cơ quan điều tra, Tòa án, hoặc với
quyền khởi kiện, quyền yêu cầu khởi tố của đương sự.
Từ những phân tích trên, khái niệm quyền cơng tố được hiểu như sau:
Quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc về Nhà nước, cơ
quan được nhà nước giao cho quyền này (ở nước ta là VKSND) thực hiện các hoạt
động nhằm phát hiện, điều tra tội phạm, truy tố người phạm tội trước Tòa án và
bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tịa.
Cũng như khái niệm về “quyền công tố”, khái niệm “thực hành quyền công
tố” cũng như nội dung, đối tượng tác động và phạm vi của nó cịn ít được đề cập
đến và chưa rõ ràng.
“Thực hành” theo nghĩa tiếng Việt được hiểu là “làm để lý thuyết áp dụng
vào thực tế” [45, tr.897]. Như vậy, thực hành quyền công tố thực chất là hoạt động
11


đưa những quy định của pháp luật về quyền công tố thuộc chức năng của Viện kiểm
sát vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị coi 1à tội phạm.
Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về thực hành quyền công tố, nhưng qua
nghiên cứu tổng hợp các quan điểm khoa học về thực hành quyền công tố, cũng như
thực tiễn quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố, chúng tôi đưa ra khái
niệm về thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tố là việc Viện
kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định để đưa người (và
pháp nhân thương mại) phạm tội ra truy tố và buộc tội trước Tòa án.
BLTTHS năm 2015 đã xác lập nội dung THQCT kể từ khi tiếp nhận, giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, xét phê chuẩn lệnh bắt người

bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp hạn chế quyền
công dân, quyền con người. Thời điểm này chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can, mới
là ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Đây chính là yêu cầu của pháp luật
giao cho VKSND trong việc quản lý và xử lý tin báo tội phạm. Bởi vì, bản chất việc
giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, nhất là việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp và việc phê chuẩn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chính là việc bắt
và tạm giữ hình sự. Việc vào cuộc sớm của cơng tố chính là sự khẳng định chức
năng THQCT của Viện kiểm sát trong việc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm.
Nếu không phân loại, xử lý đúng nguồn tin về tội phạm từ đầu để có biện pháp xử
lý đúng thì dễ xảy ra oan, sai, như trường hợp hành vi khơng cấu thành tội phạm, có
yếu tố dân sự nhưng lại bị tạm giữ hình sự và ngược lại, hành vi có dấu hiệu tội
phạm nhưng lại tiến hành xử lý hành chính.
Xuất phát từ khái niệm thực hành quyền cơng tố đã được phân tích ở trên,
đồng thời xuất phát từ khái niệm Kiểm sát viên, khái niệm giai đoạn điều tra, dựa
trên cơ sở các quy định của BLTTHS năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, chúng tôi đưa ra khái niệm thực hành
quyền công tố của KSV trong giai đoạn điều tra như sau: THQCT của KSV trong
12


giai đoạn điều tra là việc KSV được phân công THQCT sử dụng tổng hợp các
quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố của VKSND để xem xét, quyết
định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi
khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra, đề nghị truy tố hoặc đến khi kết thúc điều
tra, đình chỉ điều tra.
Đặc điểm cơ bản của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được
thể hiện như sau:
Một là, trong khi hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ sự việc
phạm tội một cách khách quan, toàn diện, bằng cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ
gỡ tội thì hoạt động cơng tố nhằm thực thi quyền truy cứu TNHS, quyết định việc

buộc tội, việc gỡ tội; quyết định hạn chế các quyền công dân như bắt, tạm giữ, tạm
giam và các biện pháp ngăn chặn khác; kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình
chỉ điều tra. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra luôn phải gắn liền với
nhiệm vụ của giai đoạn điều tra và thể hiện rõ ở nhiệm vụ, quyền hạn của KSV
trong tố tụng hình sự. Đó là việc phát hiện kịp thời tội phạm, thu thập chứng cứ
chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội.
Hai là, THQCT bao gồm hành vi và các quyết định tố tụng của người có
thẩm quyền được cơng khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do pháp luật
quy định như: Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án; Quyết định không khởi
tố vụ án của CQĐT; Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Quyết định phê chuẩn
hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can...
Ba là, hoạt động công tố là nhân danh Nhà nước thực hiện quyền buộc tội
của Kiểm sát viên và hoạt động này do Viện trưởng VKSNDTC lãnh đạo tập trung
thống nhất. Tuy nhiên, Kiểm sát viên vẫn phải xem xét, đánh giá cả những chứng
cứ gỡ tội đối với người phạm tội.
1.2.2. Mối quan hệ giữa KSV và các chủ thế tiến hành, tham gia tố tụng
trong điều tra vụ án hình sự

13


Thứ nhất, trong q trình thực hành quyền cơng tố, Kiểm sát viên tuân theo
pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng, Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng
thực thi nhiệm vụ VKS cấp mình. Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng theo quy
định của pháp luật TTHS nhưng chỉ được thực hiện độc lập một số hoạt động tố
tụng và đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc thủ trưởng và nguyên tắc trực thuộc một
chiều đặc thù của ngành Kiểm sát. Mối quan hệ giữa Viện trưởng, Phó Viện trưởng
với Kiểm sát viên trong cùng một cơ quan VKSND đều là mối quan hệ chỉ huy,
mệnh lệnh - phục tùng như trong chỉ đạo nghiệp vụ, Viện trưởng ra quyết định phân
công Kiểm sát viên thực hành quyền cơng tố; có trách nhiệm giám sát các hoạt động

và chỉ đạo kịp thời các vấn đề nghiệp vụ đối với Kiểm sát viên và chịu trách nhiệm
về các quyết định của mình.
Bên cạnh đó, Kiểm sát viên cịn có mối quan hệ với Kiểm tra viên và trong
mối quan hệ này, Kiểm sát viên giữ vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát
Kiểm tra viên thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, trong quá trình thực hành quyền cơng tố ở giai đoạn điều tra, Kiểm
sát viên cịn có mối quan hệ với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều
tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của
các cơ quan theo luật định. Trong mối quan hệ này, Kiểm sát viên vừa giữ vai trò
chỉ đạo thể hiện ở việc Kiểm sát viên trực tiếp hoặc trình Viện trưởng VKS ra các
quyết định tố tụng và yêu cầu Cơ quan điều tra, những cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra và những người tiến hành tố tụng của các cơ
quan này phải thực hiện và những chủ thể này khơng có quyền can thiệp vào hoạt
động của Kiểm sát viên vừa có tính chất phối hợp, kiểm sốt lẫn nhau theo đó Kiểm
sát viên kiểm tra, giám sát kết quả hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra của Điều tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra được phân cơng giải quyết vụ án hình sự nhưng
cũng có trách nhiệm thơng báo các kết quả giải quyết vụ án cho Điều tra viên.

14


Thứ ba, ngoài những mối quan hệ như đã nêu trên, trong q trình thực hành
quyền cơng tố trong giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên cịn có mối quan hệ với những
người tham gia TTHS. Trong mối quan hệ này, Kiểm sát viên đóng vai trị là người
đại diện cho quyền lực nhà nước tiến hành hoạt động TTHS nên có thể nhận thấy sự
bất bình đẳng và thiếu cân bằng nhưng Kiểm sát viên vẫn phải tôn trọng, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể này trong hoạt động thực hành quyền
công tố.
1.3. Nội dung hoạt động thực hành quyền công tố của KSV trong giai

đoạn điều tra vụ án hình sự
1.3.1. Phạm vi thực hành quyền công tố
Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và
BLTTHS năm 2015 xác định Kiểm sát viên là người đại diện cho VKS thực hành
quyền cơng tố, do đó, KSV có nhiệm vụ, quyền hạn ngay từ trong giai đoạn tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Bên cạnh đó ngay
trong các văn bản luật thực định của Việt Nam hiện nay cũng đã xác định, các giai
đoạn của thực hành quyền công tố được phân định một cách rõ ràng từ thực hành
quyền công tố trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi
tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra; thực hành quyền công tố trong
giai đoạn truy tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử. Như vậy, thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là một phần của hoạt động thực hành
quyền công tố trong tố tụng hình sự nói chung.
Từ sự phân tích như trên, theo quan điểm của chúng tơi thì phạm vi THQCT
của KSV ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi Cơ
quan điều tra kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc khi có kết luận điều tra và
quyết định đình chỉ điều tra.
1.3.2. Đối tượng thực hành quyền cơng tố
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là một trong những nội
dung cụ thể của thực hành quyền cơng tố trong tố tụng hình sự nên đối tượng của
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra cũng chính là đối tượng của thực
15


hành quyền cơng tố trong tố tụng hình sự là tội phạm và người phạm tội. Theo đó,
KSV là người được nhà nước giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động được
BLTTHS quy định trong giai đoạn điều tra nhằm xác định tội phạm và người thực
hiện hành vi phạm tội.
Về nội dung quyền cơng tố cũng có ý kiến cịn nhầm lẫn với nội dung thực
hành quyền cơng tố, đó là: Nội dung của quyền cơng tố được hiểu là tổng hợp các

quyền năng pháp lý do luật định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được
phát hiện và xử lý theo pháp luật, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người
vô tội [28, tr.85-87]. Chúng tôi nhận thấy, nội dung của quyền công tố là sự buộc tội
còn việc tiến hành những biện pháp gì do luật định và cơ quan nhà nước nào được
giao nhiệm vụ thực hiện biện pháp pháp lý ấy để truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội lại là thực hành quyền công tố.
1.3.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
Kiểm sát viên là người đại diện cho VKS thực hiện các hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra theo quy định của pháp luật.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là hai chức năng độc lập được
Hiếp pháp, Luật Tổ chức VKSND, BLTTHS quy định, nhưng có mối quan hệ mật
thiết với nhau được thể hiện ở các phương diện sau:
Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên thực hành quyền công
tố được sử dụng và trực tiếp quyết định tất cả các biện pháp mà pháp luật tố tụng
hình sự quy định nhằm mục đích chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như
hành vi phạm tội của họ để truy tố người phạm tội ra trước Tồ án hoặc là đình chỉ
vụ án theo quy định của pháp luật. Kiểm sát viên kiểm sát điều tra là để đảm bảo
hoạt động điều tra được tiến hành đúng trình tự, đầy đủ nội dung do pháp luật quy
định và phải khách quan. Nếu trong quá trình kiểm sát điều tra mà phát hiện vi
phạm thì Kiểm sát viên khơng trực tiếp ra quyết định, chỉ ra kiến nghị và yêu cầu
khắc phục các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm. Hai lĩnh vực này tuy độc
lập về chức năng, nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nếu chúng ta chỉ chú

16


trọng làm tốt một khâu này hay khâu khác thì rất có thể sẽ dẫn đến oan, sai, bỏ lọt
tội phạm… Vì vậy, Kiểm sát viên phải làm tốt nhiệm vụ THQCT, KSĐT để hai
chức năng này sẽ hỗ trợ cho nhau nhằm góp phần đảm bảo hoạt động điều tra được
tiến hành một cách khách quan, tồn diện, chính xác và đúng pháp luật.


17


Kết luận chương 1
Kiểm sát viên là người đại diện trực tiếp được VKS phân công THQCT trong
các giai đoạn tố tụng hình sự như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và chức năng này
đã được Hiếp pháp, Luật Tổ chức VKSND, BLTTHS quy định. Trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên ln có những mối quan hệ với các chủ thể
khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự như giữa Kiểm sát viên với
Điều tra viên, những người có thẩm quyền thuộc các cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra; với những người tham gia tố tụng. Trong mối
quan hệ này, Kiểm sát viên là người đại diện cho quyền lực nhà nước tiến hành hoạt
động TTHS nên trong mối quan hệ này KSV vừa mang tính chỉ đạo vừa mang tính
phối hợp, kiểm sốt lẫn nhau. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên vừa đóng vai trị là người
buộc tội vừa có trách nhiệm thu thập các chứng cứ, tài liệu liên quan gỡ tội cho bị
cáo; bảo đảm quyền con người của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người
bị bắt, bị tạm giữ.
Từ những phân tích trên là cơ sở để chúng tơi tiếp tục nghiên cứu, phân tích
các quy định của pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam trong chương tiếp theo.

18


Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN
HÌNH SỰ
2.1. Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố của Kiểm sát

viên trong điều tra vụ án hình sự từ năm 1945 đến 2015
Qua các thời kỳ lịch sử, gắn liền với công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển
đất nước, các quy định của pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố của
Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ngày càng được hồn thiện,
qua đó việc tn thủ pháp chế và bảo vệ quyền của con người, quyền của công dân
trong TTHS ngày càng được tôn trọng và nghiêm ngặt hơn. Để hiểu rõ hơn về vấn
đề này, cần tìm hiểu quy định của pháp luật qua các thời kỳ.
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Ngày 02/09/1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập,
Chính phủ lâm thời đã ban hành một loạt các sắc lệnh (Sắc lệnh số 13/SL ngày
24/01/1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/04/1946 quy định thẩm quyền của Tịa án
và sự phân cơng giữa các nhân viên trong Tịa án và nhân viên Cơng tố viện, Sắc
lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946…) để thiết lập hệ thống cơ quan tư pháp trong đó
có cơ quan cơng tố.
Theo Sắc lệnh số 13 thì ở Tịa đệ nhị cấp, Biện lý có hai nhiệm vụ chính là
Tư pháp cảnh sát và công tố.
Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành
Nghị định số 256/TTg ngày 01/07/1959 quy định cụ thể nhiệm vụ của Viện công tố
trong Điều 1 là: “…Điều tra và truy tố trước tịa án những kẻ phạm pháp về hình
sự; Giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của cơ quan điều
tra…” và tổ chức Viện công tố bao gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Cơng tố
ủy viên (theo Điều 4 Nghị định 256).
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988

19


×