Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.22 MB, 90 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG QUANG TRÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯƠNG QUANG TRÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trương Thị Như Yến


HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên em xin gửi lời cảm ơn
đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, các khoa, phòng, cơ sở Học
viện tại Đà Nẵng và quý thầy, cô trong Học viện Khoa học xã hội đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức mới về chuyên ngành Chính
sách công và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa
học.
Đặc biệt, em xin gửi làm cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô giáo TS. Trương
Thị Như Yến, một người Cô giáo rất chân thành, đầy trách nhiệm đã trực
tiếp hướng dẫn đề tài cho em với tất cả lòng nhiệt tình của người nhà giáo,
để em hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Em xin chân thành biết ơn.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sử góp ý của quý Thầy
Cô và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn!


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trên trong luận văn Thạc sĩ Chính sách công với Đề tài “ Thực
hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác, đây là quá trình học tập, nghiên cứu và
hướng dẫn tận tình của Cô giáo TS. Trương Thị Như Yến để hoàn thành
luận văn.
Tôi xin chịu hoàn toàn về lời cam đoan này.


Họ và tên

Lương Quang Trúc


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ ............................................... 9
1.1. Về thực hiện chính sách công ............................................................................ 9
1.2. Về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã .......... 17
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dường cán
bộ, công chức cấp xã. .............................................................................................. 30
1.4. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã.............................................................................................................. 34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊ BÀN HUYỆN NÚI
THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY ...................................................... 37
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam. ......................................................................................... 37
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam ......................................................................................................................... 40
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ..................................................................... 46
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH
QUẢNG NAM ....................................................................................................... 63
3.1. Quan điểm, mục tiêu, phương hướng hoàn thiện công tác thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ......................................................... 63

3.2. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ...... 69
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC

Cán bộ, công chức

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

QLNN

Quản lý nhà nước

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

UBMTTQVN


Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

ĐT, BD

Đào tạo, bồi dưỡng

CT-XH

Chính trị, xã hội

KT-XH

Kinh tế xã hội

KCN

Khu Công nghiệp

VHXH

Văn hóa xã hội

THCS

Trung học cơ sở


CBQL

Cán bộ quản lý

PCGD

Phổ cập giáo dục


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc xây dựng đất nước ta thời gian qua đã đạt được thành tựu vô
cùng to lớn. Những thành tựu đó có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã. Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần gũi với nhân dân, luôn
lắng nghe và thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và là những người
luôn trực tiếp giải quyết những vấn đề bức xúc ở cơ sở.
Những năm qua, thực hiện chính sách về công tác cán bộ của Đảng và Nhà
nước, cũng như đội ngũ cán bộ cấp xã của cả nước, đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có nhiều thay đổi cả về chất lượng và
cơ cấu. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng
được yêu cầu công việc trong tình hình mới. Hiện nay, huyện Núi Thành đã hoàn
thành đề án "Tạo nguồn cho cán bộ cấp xã", thông qua đề án này, cán bộ cấp xã
ngày càng được trẻ hóa, năng động, có trình độ chuyên môn khá cao, tiếp cận
nhanh khoa học công nghệ để áp dụng vào trong thực tế công tác ở cơ sở.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam vẫn còn tồn tại một số yếu kém như: chênh lệch về trình độ giữa cán
bộ vùng đồng bằng và miền núi, năng lực cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, trình độ lý luận chính trị của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình
trạng lúng túng trong xử lý công việc, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu kỹ năng
trong xử lý các tình huống thực tiễn đặt ra. Trong giải quyết công việc liên quan

đến người dân, không ít cán bộ chưa nắm chắc, hiểu sâu vấn đề, chưa giải đáp
được những thắc mắc, yêu cầu của người dân; một số cán bộ bị suy thoái về đạo
đức, lối sống…đang gây bất bình trong nhân dân, làm giảm uy tín của tổ chức
đảng chính quyền, giảm vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành của bộ máy.
Trong những năm gần đây, huyện ủy Núi Thành đã ban hành các Nghị
quyết, các Đề án, chuyên đề về công tác cán bộ; tăng cường đầu tư hơn nữa cho
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã,

1


nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác, chất lượng và
hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, hướng tới mục tiêu là nhằm thay đổi về
chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn, đủ trình độ và năng lực thi hành công
vụ, phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước. Cụ thể là Nghị quyết số
03-NQ-HU, ngày 01/12/2016 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
huyện Núi Thành giai đoạn 2016 - 2020 và đến 2025. Đề án số 03-ĐA/HU, ngày
01/11/2016 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy giai
đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo; Đề án số 01-ĐA/HU, ngày 16/5/2016 về
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2016-2020.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của
huyện Núi Thành còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Không ít cấp ủy đảng chưa
thực sự coi trọng, thiếu quan tâm đến công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức cấp xã còn
hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được đầu tư và quan đúng mức, chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng chưa cao, chưa sát với thực tiễn, chưa có tầm nhìn nhìn
lâu dài. Khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, nâng cao hiệu quả thực hiện
các chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là những vấn đề cấp thiết đặt ra cho các
cấp ủy Đảng ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề và yêu cầu nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong thời kỳ mới, tôi
chọn đề tài: "Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp
xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam" làm đề tài luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công, với mong muốn góp phần nâng cao
chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng ngày
càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH ở huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về thực hiện
chính sách công, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của

2


Đảng và Nhà nước ta.
2.1. Nhóm các công trình liên quan đến thực hiện chính sách công
- "Chính sách công của Hoa Kỳ (giai đoạn 1935 - 2001)" của tác giả Lê Vinh
Danh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản như: Chính sách công và chính quyền; quy
trình thiết kế chính sách công; chính sách công Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2000; quy
trình thiết kế chính sách trong thực tế.
- "Giáo trình Đại cương về Chính sách công” của tác giả Nguyễn Hữu Hải ,
Lê Văn Đính, Đinh Trung Thành [22]; đã trình bày những vấn đề chung nhất về
chính sách công như: quá trình phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò, và
phân loại chính sách công; cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; nguyên
tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công; yêu cầu,
các hình thức, phương pháp tổ chức thực thi chính sách công; nội dung đánh giá
chính sách công. Qua đó góp phần hoàn thiện công tác hoạch định và thực thi chính
sách công và vận dụng vào trong thực tiễn công tác.
- "Đại cương về phân tích chính sách công" của tác giả Nguyễn Hữu Hải, Lê
Văn Hòa [23]; đã cung cấp những kiến thức đại cương về phân tích chính sách công

như: khái quát về phân tích chính sách công, đặc trưng của phân tích chính sách công;
tiêu chuẩn nhân sự làm chuyên môn về phân tích chính sách công, quy trình, nội
dung, phương pháp phân tích chính sách công. Qua đó đã vận dụng được những kiến
thức cơ bản vào thực tiễn ở các cơ quan nhà nước, từ đó đưa ra các phương pháp để
phân tích chính sách công ngày càng hiệu quả.
-"Giám sát và đánh giá chính sách công" của Lê Văn Hòa [31] đã trình bày
những vấn đề cơ bản về giám sát và đánh giá thực hiện chính sách công; trong 8
chương thì có 7 chương tác giả bàn sâu về những nội dung đánh giá thực hiện chính
sách công - quan niệm, tác động, đo lường, phương pháp và tổ chức đánh giá.
2.2. Nhóm các công trình liên quan đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước ta
2.2.1. Các đề tài khoa học, luận án, luận văn
-Nguyễn Phước Sơn (2015), Đào tạo, bồi dưỡng công chức xã người dân

3


tộc thiểu số trên địa bàn các huyện miền núi, tỉnh Quảng Nam.[57] Luận văn Thạc
sĩ Quản lý, Học viện Hành chính. Luận văn khái quát về cơ sở lý luận của công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã; phân tích và đánh đánh giá đúng
thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức xã người dân tộc thiểu số các huyện
miền núi, tỉnh Quảng Nam.
- Nguyễn Thị Lý (2016)“Thực hiện chính sách đào tạo cán bộ, công chức
phường từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”[21]. Luận văn Thạc sỹ Chính sách
công, Học viện Khoa học xã hội. Luận văn này đã khái quát những vấn đề về cơ
sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, phường; đánh giá đúng
thực trạng thực hiện chính sách đào tạo cán bộ, công chức phường ở thành phố Đà
Nẵng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ công chức phường ở thành phố Đà Nẵng.

- Nguyễn Thị Khởi (2014), Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, huyện
Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị,[33] Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Học
viện Hành chính. Luận văn này đã tập trung vào nội dung: xác định nhu cầu, nội
dung chương trình, phương pháp đào tạo, chế độ hỗ trợ và đánh giá sau đào tạo; đề
xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Các luận văn trên có những đóng góp về mặt lý luận sâu sắc trong nghiên
cứu về chất lượng và nâng cao chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, cán bộ diện Ban Thường
vụ huyện ủy, Tỉnh ủy quản lý nói riêng ở các địa phương khác nhau. Từ việc
nghiên cứu và kế thừa các công trình đi trước, tác giả đi sâu làm rõ công tác bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Quảng Nam, là tỉnh mà đội ngũ cán bộ cấp xã
có đặc trưng là tỉnh miền núi biên giới và vừa có đường bờ biển dài
2.2.2. Các bài viết trên tạp chí
- Hoàng Hữu Nghị, “Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức ở Thành phố Đà Nẵng”[45].

4


- Ngô Thành Can (Bộ Nội vụ), Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 5/2008 [5].
-Nguyễn Thị La (Học viện Hành chính quốc gia), Đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính, Tạp chí Cộng sản, số tháng 9
năm 2015 [35].
- Nguyễn Thị Hồng Hiệp, “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ
sở (xã, thị trấn) của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”[32].
Cho đến nay, tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam chưa có công trình
nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
nhằm giúp cho các nhà quản lý hệ thống hóa và đưa ra chính sách đào tạo, bồi

dưỡng đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ chuyên môn và hội nhập quốc tế. Chính vì thế,
mà việc phân tích, đánh giá công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có ý nghĩa
vô cùng to lớn, là cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện
Núi Thành đủ năng lực, trình độ; đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng
thực hiện chính sách ĐT,BD CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam. Qua đó đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã của huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về thực thi chính sách công, nghiên cứu hệ thống hóa
một số vấn đề về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã.
- Đánh giá thực trạng về việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác
thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi

5


Thành, tỉnh Quảng Nam thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã trên địa bàn huyện
Núi Thành, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu về việc thực chính sách đào tạo, bồi dưỡng

CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng việc thực chính sách đào tạo, bồi dưỡng
CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến
năm 2019 và đề xuất các giải pháp, tầm nhìn đến năm 2030.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối và chủ trương của Đảng, những chính sách pháp luật
của Nhà nước về phân tích, đánh giá và triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức; đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã.
Bên cạnh đó, luận văn còn mang tính kế thừa một số công trình khoa học
của tác giả đi trước về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã, phường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp thu thập nguồn số liệu từ phòng Nội vụ
huyện Núi Thành về quá trình triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ công chức trên địa bàn huyện.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và điều tra xã hội học. Qua đó phân tích,
đánh giá đúng thực trạng công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành; đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra
các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành trong thời gian đến.

6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn khái quát được cơ sở lý luận về chính sách công và thực hiện
chính sách công, làm sáng tỏ nội dung, quan niệm, vai trò, nguyên tắc thực hiện

chính sách công và chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã: xây dựng các khái niệm, nhiệm vụ,
vị trí, vai trò, nội dung tổ chức thực hiện chính sách sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã; nhất là hệ thống hóa
những quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã.
- Luận văn phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, trong đó
nêu lên những thành tựu đạt được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục cũng như
phân tích các nguyên nhân hạn chế đến công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị trong
tổng kết thực tiễn về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, làm cơ sở cho việc thực hiện
chính sách của Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của huyện
trong những năm tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được chia ra gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã.

7


Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam hiện nay.

Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam.

8


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Về thực hiện chính sách công
1.1.1. Quan niệm thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là quá trình biến chí của chủ thể chính sách trở
thành hiện thực, nhằm mục đích là đưa chính sách vào trong thực tiễn cuộc sống.
Thực trạng việc thực hiện chính sách công ở nước ta đã đạt được những thành
công rất lớn, song bên cạnh đó vẫn còn một số hạn cần phải xem xét. Chính vì
vậy, việc nghiên cứu vấn đề về thực hiện chính sách công có ý nghĩa vô cùng to
lớn trong thời kỳ hiện nay.
Thực hiện chính sách là là quá trình biến các ý đồ của chủ thể thành hiện
thực, triển khai chính sách vào trong thực tiễn của cuộc sống. Đây là một khâu đặc
biệt quan trọng vì nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của một chính
sách. Trong quá trình thực hiện chính sách, sẽ giúp chúng ta thấy được những mặt
mạnh, những mặt hạn chế của chính sách; từ đó có những giải pháp phù hợp để cải
thiện và khắc phục những mặt hạn chế của chính sách, đồng thời đề xuất những
giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện chính sách; Qua đó đưa chính sách vào trong
thực tiễn cuộc sống một cách tốt nhất.
1.1.2. Vai trò thực hiện chính sách công
Chính sách công đang ngày càng trở thành một công cụ quản lý của Nhà
nước ngày càng quan trọng của quốc gia và trên thế giới. Thông qua quá trình thực
hiện chính sách công, nhà nước điều tiết những vấn đề nảy sinh trong đời sống

kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu mong muốn, tạo ra môi trường
thuận lợi cho phát triển bền vững.
Thực hiện chính sách công có vai trò định hướng cho hành động của các
chủ thể kinh tế - xã hội trong việc đề ra các biện pháp, các giải pháp. Mục tiêu
chính sách công thể hiện thái độ ứng xử của nhà nước trước một vấn đề công, nên

9


nó thể hiện rõ xu hướng tác động của Nhà nước lên các thực thể xã hội để chúng
vận động phù hợp với những giá trị tương lai mà Nhà nước theo đuổi.
Thực hiện chính sách công giúp chúng ta biến những ý đồ của chính sách
thành hiện thực.
Qua quá trình thực hiện chính sách giúp chúng ta từng bước thực hiện mục
tiêu chính sách và mục tiêu chung.
Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu vô cùng quan trọng và có ý
nghĩa rất lớn đối với một chính sách, vì đây là quá trình hiện thực hóa chính sách
vào trong thực tiễn của cuộc sống. Nếu đưa vào thực hiện một chính sách công tốt
không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn
góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Tuy nhiên,
để có được một chính sách tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình
nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu.
Thực hiện chính sách công là một là một khâu vô cùng quan trọng và có ý
nghĩa quyết định đến sự thành công của một chính sách.
Thực hiện chính sách công nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu của
chính sách công. Các mục tiêu chính sách công chỉ có thể đạt được thông qua quá
trình thực hiện chính sách công, bởi thực thi chính sách công bao gồm các hoạt
động có tổ chức được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước và các đối tác xã hội
hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích đã tuyên bố trong chính sách công.
Thực hiện chính sách công nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính sách

công. Thực hiện chính sách công cung cấp những bằng chứng thực tiễn về mục
tiêu chính sách công có thích hợp hay không và các giải pháp chính sách công có
thực sự phù hợp với vấn đề mà nó hướng tới giải quyết hay không, về phương diện
lý thuyết, một chính sách công được ban hành đã phải đáp ứng đầy đủ những tiêu
chuẩn của một chính sách công tốt và mới chỉ được thừa nhận bởi các chủ thể ban
hành, nhưng khi triển khai vào thực tiễn đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của
chính sách công mới được khẳng định một cách chắc chắn bởi xã hội và đối tượng
thụ hưởng chính sách công.

10


Thực hiện chính sách công giúp cho chính sách công ngày càng hoàn thiện
hơn. Chính sách công được ban hành ban đầu hay chính sách cơ sở thường chỉ
mang tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết vấn đề công. Chính
sách công này sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể
trong quá trình thực thi của các cơ quan nhà nước các cấp. Trong quá trình triển
khai thực hiện chính sách công sẽ điều chỉnh kịp thời những nội dung cho phù hợp
với thực tế, đồng thời qua đó làm cơ sở để triển khai thực hiện các chính sách
khác.
1.1.3. Mục tiêu thực hiện chính sách công
Theo nguyên lý triết học, xung quanh chúng ta là các dạng vật chất tồn tại
khách quan với những chức năng nhất định. Chức năng là tập hợp những hoạt
động có mục đích gắn liền với sự tồn tại và phát triển của thực thể theo yêu cầu xã
hội, hay nói một cách chung nhất, chức năng là lý do tồn tại của các dạng thức vật
chất. Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác
động đến các đối tượng nên cũng được coi như những dạng thức vật chất đặc biệt,
vì vậy chính sách cũng cần phải có những chức năng nhất định để tồn tại. Tổ chức
thực hiện chính sách công là một bước vô cùng quan trọng nhằm để duy trì chính
sách và đưa chính sách đó đạt được những mục tiêu như mong muốn.

Tổ chức thực thi chính sách công là trung tâm kết nối các bước trong chu
trình chính sách công thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. Đây
là khâu vô cùng quan trọng, vì nó cụ thể hóa các nội dung chính sách vào trong
thực tiễn xã hội.
Chính sách tốt phải tiến tới mục tiêu phát triển chung, đối với Việt Nam thì
mục tiêu đó là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” đây là mục
tiêu phù hợp với xu thế chung của thời đại vì mục tiêu chính sách sẽ phản ánh
mong muốn của Nhà nước về những giá trị kinh tế và xã hội, mục tiêu chung và
mục tiêu chính sách luôn có sự gắn bó mật thiết với nhau vì vậy khi hoạch định
chính sách phải đạt được cả hai mục tiêu mới là tốt.
Trên cơ sở nhận thức về vị trí vai trò của thực thi chính sách công trên đây

11


cho thấy hoạt động này có những ý nghĩa to lớn sau đây:
Thứ nhất, trong quản lý, điều hành nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải đối xử với
nhiều đối tượng có quan hệ khác nhau nên việc thực thi chính sách nhằm biến ý đồ
chính sách thành hiện thực là rất quan trọng.
Thứ hai, mục tiêu chính sách công có liên quan đến các vấn đề về kinh tế,
xã hội nên cùng một lúc không thể giải quyết tất cả mọi vấn đề liên quan mà phải
trải qua nhiều quá trình. Mục tiêu chính sách công đạt được phải trải qua quá trình
thực hiện chính sách, các mục tiêu của chính sách công luôn gắn kết với nhau, có
quan hệ mật thiết với nhau và có tính quyết định đến mục tiêu chung.
Thứ ba, tính đúng đắn của chính sách sẽ được khẳng định thông qua việc
giải quyết các mâu thuẫn bằng chính sách đã hiệu quả hay không của vấn đề chính
sách. Một chính sách nếu đáp ứng được yêu cầu của xã hội, giải quyết được những
bức xúc trong đời sống thực tiễn thì được coi là đúng đắn và hợp lý. Một chính
sách tốt là chính sách khi triển khai thực hiện luôn được sự đồng tình, ủng hộ của

người dân; đáp ứng được các yêu cầu mà những người thụ hưởng mong muốn;
giải quyết được các vấn đề bức thiết trong đời sống thực tiễn của xã hội.
Thứ tư, chính sách ngày càng hoàn chỉnh thông qua việc thực thi chính
sách, bởi chính sách công được hoạch định bởi một tập thể, nên không thể tránh
khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan. Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan cũng như tác động của môi trường nên giữa chính sách công và thực
tiễn của đời sống xã hội có những vấn đề cần phải được khắc phục, điều chỉnh và
bổ sung cho phù hợp. Quá trình điều chỉnh, bổ sung sẽ góp phần làm cho chính
sách ngày càng hoàn thiện, đồng thời qua đó làm cơ sở để triển khai thực hiện các
chính sách sau này.
1.1.4. Nguyên tắc thực hiện chính sách công.
Phải đáp ứng được yêu cầu thực hiện mục tiêu: Thực hiện chính sách công
là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng
tham gia nhằm đạt được những mục tiêu trực tiếp.

12


Đảm bảo tính hệ thống: Bao gồm hệ thống mục tiêu và biện pháp của
chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực hiện chính sách công; hệ
thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; hệ thống trong sử dụng công cụ quản lý
khác của nhà nước.Yêu cầu này được đảm bảo trong thực hiện chính sách công sẽ
là cơ sở trực tiếp cho việc đạt mục tiêu đề ra.
Đảm bảo tính pháp lý: Tính pháp lý được thể hiện trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách công là việc chấp hành các chế định, các quy định về thực
hiện chính sách công nhằm đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong chấp hành
chính sách. Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách
công là sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý chính sách, việc thu hút các
nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành nên các dự án để thực
hiện chính sách ở huyện Núi Thành một cách có hiệu quả.

Đảm bảo lợi ích thật sự cho các đối tượng thụ hưởng: Trong xã hội có rất
nhiều đối tượng thụ hưởng, vì vậy Nhà nước phải là người đứng ra bảo vệ cho các
đối tượng đó bằng chính sách công của mình. Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng
trong quá trình thực hiện chính sách công.
Đảm bảo tính thực tiễn: Quá trình thực hiện chính sách công phải sát với
thực tiễn nhằm để nâng cao hiệu lực, hiệu của chính sách, và trong quá trình xây
dựng chính sách phải đặc biệt chú ý đến các nguồn lực (con người, kinh phí, điều
kiện vật chất, thời gian, công nghệ - kỹ thuật). Công tác phân công, phối hợp phải
thật sự hợp lý, đảm bảo chu trình và thời gian thực hiện.
Phải đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về
mục đích, nội dung, yêu cầu của chính sách; và luôn quan tâm đến trình độ, năng
lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách.
Phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc quá trình thực hiện chính
sách để phát hiện kịp thời những hạn chế, bất cấp của chính sách để kiến nghị sửa
đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách và rút kinh nghiệm nhằm điều chỉnh kịp thời
việc tổ chức thực hiện chính sách.

13


1.1.5. Nội dung thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công có ý nghĩa và tâm quan trọng vô cùng to lớn đối
với một chính sách, chính vì vậy mà các cấp, các ngành luôn có sự quan tâm đặc
biệt trong quá trình triển khai thực hiện, nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Để triển
khai thực hiện một cách hiệu quả việc thực hiện chính sách công thì cần phải thực
hiện nhiều nội dung quản lý khác nhau, nhưng trước tiên cần tuân thủ các bước tổ
chức thực thi cơ bản sau đây:
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công: Việc xây dựng
kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công được căn cứ vào các quy định trong
chính sách công và hướng dẫn các cơ quan cấp trên có thẩm quyền. Trong kế

hoạch nêu rõ nội dung, cách thức tổ chức điều hành, các nguồn lực, thời gian triển
khai thực hiện, phương thức kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách công, dự kiến
nội quy, quy chế tổ chức điều hành, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân, tổ chức
tham gia và các biện pháp khen thưởng, kỷ luật. Nhìn chung, các cấp chính quyền
địa phương đều quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách công
một cách cụ thể. Các kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công đều có sự tham
gia của các sở, ban, ngành và được Chủ tịch UBND ký phê duyệt. Điều này tạo cơ
cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện chính sách công. Tuy nhiên, một số địa
phương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công còn đơn giản,
thiếu chặt chẽ, không quy định cụ thể nhiệm vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân trong việc triển khai thực hiện chính sách công. Trong kế hoạch, có trường
hợp không quy định các nguồn lực để thể hiện chính sách, dẫn đến việc tổ chức
thực hiện gặp khó khăn và hiệu quả không cao
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách công: Sau khi bản kế hoạch triển khai
thực hiện được thông qua, các cơ quan Nhà nước tiến hành triển khai tổ chức thực
hiện theo kế hoạch. Vấn đề đầu tiên là phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận
động nhân dân tham gia thực hiện chính sách công, nó có ý nghĩa vô cùng quan
trong trong quá trinhg triển khai thực hiện chính sách. Qua đó giúp người dân hiểu
được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của chính sách. Đồng thời còn giúp cho

14


mỗi cán bộ, công chức luôn có tinh thần trách nhiệm trong quá trình triển khai tổ
chức công việc được giao.
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công: Chính sách công được
thực thi trên phạm vi rất rộng lớn, chính vì thế số lượng tham gia thực thi chính
sách là rất lớn. Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách,
nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của Nhà nước. Các hoạt động thực
hiện mục tiêu chính sách công rất rộng lớn và vô cùng phức tạp. Do đó, muốn tổ

chức thực thi chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa
các cơ quan quản lý, các cấp, các ngành trong quá trình triển khai thực hiện chính
sách. Quá trình phân công phải thật sự hợp lý, đảm bảo đúng quy trình nhằm duy
trì chính sách một cách ổn định và mang lại hiệu quả thiết thực.
- Duy trì chính sách công: Đây là hoạt động nhằm bảo đảm cho chính sách
tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế. Để làm được điều đó
cần có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường
tồn tại.
Nếu trong quá trình thực hiện chính sách công gặp phải những khó khăn do
môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ
quản lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách công. Và qua
đó đề xuất cấp thẩm quyền điều chỉnh chính sách cho hợp lý. Trong điều kiện cần
thiết, các cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng các biện pháp để duy trì chính sách
nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội.
- Điều chỉnh chính sách công: Điều chỉnh chính sách công được thực hiện
bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách công ngày càng phù hợp
với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế.
Cơ quan điều chỉnh, bổ sung chính sách là cơ quan ban hành chính sách.
Nhưng thực tế, việc điều chỉnh sẽ được các cơ quan nhà nước linh hoạt điều chỉnh
để triển khi thực hiện có hiệu quả và không làm thay đổi mục tiêu chung. Mục
đích của việc điều chỉnh làm làm cho chính sách được tiếp tục được tồn tại.
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách công: Trong các điều

15


kiện hoàn toàn không giống nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như
môi trường và năng lực tổ chức, điều hành của các cơ quan nhà nước cũng khác
nhau, vì vậy, để cho chính sách công được thực hiện có hiệu quả thì cần phải có sự
theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực hiện. Qua đó, khẳng định được mục tiêu cụ thể

của chính sách, đồng thời để có sự tập trung cao cho những vấn đề quan trọng
trong quá trình thực hiện hiện chính sách. Để từ đó, các cá nhân, tổ chức phải có
trách nhiệm kiểm tra quá trình thực hiện nhằm giúp cho chính sách đạt được hiệu
quả mong muốn.
Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực thi chính sách công vừa
kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách công, vừa chấn chỉnh công tác thực thi
chính sách công, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện hiện mục
tiêu chính sách.
- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm: Tổ chức thực thi chính sách công
phải được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách. Đây được hiểu là
quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các
đối tượng thực hiện chính sách công.
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi
chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Bên cạnh đó, còn
xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội
trong quá trình tham gia thực hiện chính sách công. Cơ sở để đánh giá, tổng kết
công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công trong các cơ quan nhà nước là
kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế. Bên cạnh đó, còn có sự kết hợp sử
dụng các văn bản có liên quan giữa các cơ quan Nhà nước trong quá trình triển
khai thực hiện. Bên cạnh đó, còn xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chính sách
của các đối tượng tham gia, từ đó đưa ra các cơ chế, biện pháp hợp lý để tiến hành
thực hiện tốt các mục tiêu chính sách trong từng điều kiện cụ thể.

16


1.2. Về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp

1.2.1. Các khái niệm liên quan
1.2.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã

- Cấp xã
Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền địa phương ở xã là cấp
chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã
(điều 2, điều 30, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015) [46]
- Cán bộ cấp xã
Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong
cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội(CT-XH)
ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Đề cập đến cán bộ cấp xã,
cũng tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định rõ: Cán bộ xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử
giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban Nhân
dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức CT-XH. Như vậy có thể
hiểu, Cán bộ cấp xã là những người được bầu cử, bổ nhiệm vào một chức danh,
giữ một chức vụ trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể của hệ thống chính trị
cấp xã. Họ là bộ khung, nòng cốt, người đứng đầu của tổ chức của hệ thống chính
trị cấp xã.[48]
- Công chức cấp xã
Theo Luật CBCC năm 2008: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân

17


nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an

nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của pháp luật.” [48, Điều 4]
Như vậy, Công chức được hiểu là những người tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong tổ chức (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội, trong Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng); trong Công an nhân dân (mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong đơn vị sự nghiệp công lập. Ở
Việt Nam, cán bộ và công chức phải là công dân Việt Nam, trong biên chế và
được hưởng lương từ ngân sách nhà nước (hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập). Cán bộ và công chức được phân định rõ gắn với cơ
chế hình thành. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước [48, Điều 4].
1.2.1.2. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó
lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo... một cách có hệ thống để
chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân
công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và
phát triển nền văn minh của loài người.
Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến thức cho các đối tượng học tập,
đây là một quá trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy học
cụ thể trong khoảng thời gian nhất định. Qua đó, giúp cho người học tiếp thu được
những kiến thức cơ bản nhất định trong quá trình truyền đạt.
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm

18



việc. Là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho đối tượng
học tập, qua đó cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho người học để họ thực thi
công việc được tốt hơn.
Theo Nghị định số 18/2010/ NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào
tạo, bồi dưỡng công chức: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống
những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; bồi dưỡng là
hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc.
Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đào tạo, bồi dưỡng. Tuy
nhiên, chúng ta có thể hiểu như sau: Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến
thức và kỹ năng cho người học theo từng cấp độ khác nhau nhằm hình thành và
phát triển một cách có hệ thống các tri thức, trình độ, năng lực của con người. Bồi
dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc.
- Đào tạo, bồi dưỡng CBCC
Đào tạo CBCC là việc cử CBCC đi học các khóa đào tạo chuyên nghiệp
trong các cơ sở đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của CBCC.
Bồi dưỡng CBCC là quá trình trang bị, bổ sung, cập nhật những kiến thức
và kỹ năng chuyên môn cho CBCC đã trải qua quá trình đào tạo, nhằm bổ sung,
cập nhật cho CBCC những kiến thức mới, phù hợp với tình hình thực tiễn để họ đủ
khả năng giải quyết công việc một cách có hiệu quả trong tình hình mới.
- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng CBCC
Về đào tạo:
a) Đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học cho cán bộ, công chức cấp
xã phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của từng vùng, miền.
b) Đào tạo trình độ đại học cho cán bộ, công chức ở Trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện trong trường hợp cơ quan, đơn vị được tổ chức, sắp xếp lại mà không
thể bố trí được công việc phù hợp với chuyên môn đã được đào tạo trước đó.
c) Đào tạo trình độ sau đại học phù hợp với vị trí việc làm cho cán bộ, công

chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện bảo đảm theo quy hoạch và yêu cầu phát

19


×