Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Sử dụng phương pháp tích hợp kiến thức môn ngữ văn vào dạy bài 12,16 lịch sử lớp 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.38 KB, 15 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÊ HOÀN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP KIẾN THỨC MÔN
NGỮ VĂN VÀO DẠY BÀI 12, 16 LỊCH SỬ LỚP 12 BAN
CƠ BẢN

Người thực hiện: Đỗ Đức Ninh
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Lịch sử

THANH HOÁ, NĂM 2019

0


Mục lục

Trang
I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
1/ Tính hệ thống trong cấu tạo chương trình các môn học nói
chung và các bộ môn KHXH nói riêng trong trường học


2/ Mối quan hệ gần gũi giữa bộ môn Lịch sử với bộ môn Ngữ
văn trong chương trình ở bậc THPT
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
1/ Thực trạng của kiến thức bộ môn
2/ Sự phong phú của nguồn thơ, văn, ca dao ... viết về Lịch sử
hoặc liên quan đến Lịch sử
3/ Thực tế học tập của học sinh nói chung và học sinh THPT nói
riêng trong những năm gần đây

2
3
3
3

3
4
5
6
6

2.3. Giải pháp
1. Bài 12 - chương II Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam
từ năm 1919 đến năm 1925

7

2. Bài 16 chương III Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng
khởi nghĩa tháng Tám (1939 - 1945). Nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời


9

2.4. Hiệu quả của SKKN

11

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận

12

3.2. Kiến nghị

13

Tài liệu tham khảo

14

1


I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Môn Lịch sử có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ
trẻ. Qua học tập môn Lịch sử giúp hiểu biêt về quá khứ, hướng về nguồn cội
dân tộc và địa phương, giáo dục cho học sinh lòng tự hào, ý thức bảo tồn và
phát huy các giá trị truyền thống, từ đó có ý thức trách nhiệm của mình đối
với quê hương đất nước.
Trong thực tiễn dạy và học hiện nay ở hầu hết các trường THPT hiện nay

đã hình thành quan niệm trong phụ huynh và học sinh, thậm chí trong cả một
bộ phận cán bộ, giáo viên môn chính, môn phụ. Trong điều kiện nền kinh tế
thị trường hiện nay, vị trí “Ban C” đường đi hẹp hơn, nếu học ra trường lại
khó xin việc, thu nhập lại không cao. Môn chính là Toán, Ngoại ngữ, Lý, Hóa,
Sinh còn lại là môn phụ. Đối với môn phụ mức độ quan tâm có nhưng ít, vì
chỉ cần lên lớp là được - môn thuộc lòng, không cần phải suy nghĩ nhiều, mất
thời gian.
Học Lịch sử là quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ
của xã hội để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Học sinh không thể
tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ. Mặt khác, lịch sử là những sự
việc đã diễn ra, là hiện thực trong quá khứ, là tồn tại khách quan không thể
phán đoán hay suy diễn để biết lịch sử. Học một tiết Lịch sử thường dễ gây
chán học cho học sinh. Vì vậy nhiệm vụ của người giáo viên là tái tạo, truyền
tải nội dung bài học sao cho sinh động hấp dẫn, gây hứng thú cho học sinh.
Muốn thế người giáo viên phải luôn trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ,
rèn chắc tay nghề.
Trong giai đoạn hiện nay xu hướng dạy học hiện đại với sự ứng dụng, kết
hợp của nhiều phương tiện, công nghệ hiện đại. Một trong những phương
pháp đang được khuyến khích sử dụng, đặc biệt là trong đề án đổi mới giáo
dục - đào tạo theo nghị quyết của TW Đảng là phương pháp dạy học tích hợp,
liên môn. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể linh hoạt sử dụng nhiều

2


phương pháp cho phù hợp với nội dung từng bài học cũng như trình độ nhận
thức của học sinh ở từng khối lớp. Trong đó sử dụng phương pháp dạy học
tích hợp, liên môn và linh hoạt sử dụng các phương pháp khác. Tôi đã sử
dụng phương pháp này và nhận thấy những tiết học này sinh động hơn nhiều
so với cách giảng bài truyền thống cũng như khuyến khích được tinh thần tích

cực hoạt động, tư duy của học sinh.
Vì vậy tôi chọn đề tài: Sử dụng phương pháp tích hợp kiến thức môn Ngữ
văn vào dạy bài: 12, 16 Lịch sử lớp 12 Ban cơ bản
1.2. Mục đích nghiên cứu
Để nâng cao quá trình tiếp thu và tạo sự hứng thú cũng như khuyến khích
tinh thần tích cực, tư duy của học sinh trong quá trình học môn Lịch sử ở
trường phổ thông, từ đó nâng cao kết quả học tập bộ môn và đạt kết quả cao
trong các kỳ thi nhất là kỳ thi THPT Quốc gia.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này khai thác và vận dụng một số kiến thức thơ, văn vào dạy bài
12 và bài 16 trong chương trình Lịch sử lớp 12 Ban Cơ bản.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận dạy học
Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Thống kê, xử lý số liệu

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
1/ Tính hệ thống trong cấu tạo chương trình các môn học nói chung
và các bộ môn Khoa học xã hội (KHXH) nói riêng trong trường học
Chúng ta đều biết, các môn học trong nhà trường phổ thông là một hệ thống
hoàn chỉnh nhằm trang bị cho học sinh kiến thức thuộc tất cả các môn, các
lĩnh vực ở mức độ, tính chất “ phổ thông”, giúp các em có một hành trang cơ
bản làm tiền đề cho các cấp học cao hơn. Các môn học đó không chỉ liên quan
chặt chẽ với nhau mà còn tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh, khoa học. Cũng

3


như bộ môn Khoa học tự nhiên ( KHTN), các môn học thuộc KHXH như Văn

học, Lịch sử, Địa lý … có vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và giáo
dục nhân cách, đạo đức đối với học sinh nên lại càng liên quan và hệ thống
hơn.
2/ Mối quan hệ gần gũi giữa bộ môn Lịch sử với bộ môn Ngữ văn
trong chương trình ở bậc THPT
Theo chúng tôi, thực ra cơ sở này vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực
tiễn. Suy cho cùng, đối tượng nghiên cứu của Văn học cũng như Sử học đều
là Con Người. Văn học ngợi ca vẻ đẹp của non sông, đất nước, ca ngợi những
con người mang những phẩm chất tốt đẹp, cao quý cũng như đả kích, lên án
cái xấu của họ thì Lịch sử cũng ghi nhận công lao, đóng góp của những con
người ấy ( Nhân vật Lịch sử) và phán xét nghiêm minh đối với những con
người có tội với dân, với nước. Không phải ngẫu nhiên mà trong chương trình
Văn học lại có phần Văn học sử và trong chương trình Lịch sử lại có phần
Lịch sử Văn học.
Khi chúng ta, tức là những giáo viên giảng dạy Lịch sử, giảng dạy đến sự
kiện, biến cố lịch sử nào, nhân vật lịch sử nào thì dù muốn hay không, chúng
ta cũng thường liên tưởng đến những bài thơ, áng văn đã từng đề cập đến sự
kiện đó, con người đó mà chúng ta từng được đọc, được học. Trong thực tế,
có không ít người vừa là nhà Văn, nhà Thơ đồng thời là nhà Sử học mà Bác
Hồ kính yêu của chúng ta là một ví dụ điển hình.
Nhà Văn hóa, Nhà Giáo dục lớn và là người nghiên cứu Lịch sử nổi tiếng là
tác giả của rất nhiều tác phẩm Thơ, Văn nổi tiếng: “Tuyên ngôn Độc lập”,
“Vi hành”, “Ngục trung nhật ký” … là những ví dụ tiêu biểu. Chính Người đã
từng dạy rằng:
“ Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
(Lịch sử nước ta - Hồ Chí Minh)
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

4



1/ Thực chất của kiến thức bộ môn
“Lịch sử là sự kiện” – Đó là một tổng kết mang tính chất kinh điển.
Bản thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là những bài, những
chương viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày, tháng, năm
xảy ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh
vực. Để chuyển tải cho học sinh những số liệu một cách khô cứng như vậy,
đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng phương
pháp. Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, giáo viên giảng dạy môn
Lịch sử ở cấp THPT nói chung giảng dạy một cách khô khan, cứng nhắc,
nặng về cung cấp kiến thức, sự kiện một cách đơn thuần, do vậy không gây
được hứng thú học tập cho học sinh trong việc tiếp thu bài học. Mặt khác, tài
liệu tham khảo cũng chưa đủ, nếu không nói là còn rất thiếu. Trong tình trạng
đó, đại đa số giáo viên THPT mới ra trường chỉ biết bám vào sách giáo khoa
một cách lệ thuộc, truyền thụ kiến thức đơn thuần theo phương pháp cũ, làm
cho tiết học trở nên khô khan đối với học trò. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân chính làm cho học sinh chưa yêu, chưa thích học môn Lịch sử.
Đối lập với thực trạng trên là một thực tiễn hoàn toàn khác, cá nhân tôi
có hơn 10 năm liên tục giảng dạy khối 12. Điều đáng nói ở đây là tôi cũng đã
trải qua nhiều môi trường giảng dạy. Từ thực tế đó tôi đã có điều kiện để dự
giờ nhiều và đồng nghiệp cũng dự giờ của tôi nhiều. Qua đó tôi đã đúc rút ra
được nhiều kinh nghiệm quý giá cho bản thân, đó là khi áp dụng kiến thức
thơ, văn vào việc giảng dạy Lịch sử rất gây hứng thú học tập cho học sinh
trong việc tiếp thu bài. Điều này cũng đã được nhiều đồng nghiệp của tôi thừa
nhận và học hỏi sau khi họ dự giờ của tôi. Từ kinh nghiệm này, nhiều giáo
viên đã bước đâu mạnh dạn đưa thơ, văn vào trong bài giảng nhằm minh họa
cho một số sự kiện Lịch sử trong bài dạy. Những tiết học như vậy trở nên sinh
động hơn hẳn. Khi giáo viên đọc thơ minh họa, cả lớp chăm chú lắng nghe và
tỏ ra rất thích thú, sau tiết học nhiều em còn nhờ thầy, cô giáo đọc để chép

vào sổ tay. Những tiết học như thế đã để lại trong lòng các em những ấn

5


tượng lâu bền. Chắc chắn những sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu lại trong
ký ức các em sâu hơn, lâu hơn. Qua trao đổi với các đồng nghiệp một cách
chân tình, tôi đã nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt của họ. Chính nhiều
người trong số các đồng nghiệp của tôi cũng đã thừa nhận rằng họ đã thể
nghiệm nhiều lần dạy hai cách một tiết học: một là dạy chay – nghĩa là không
vận dụng kiến thức thơ, văn, hai là có vận dụng kiến thức thơ, văn vào trong
tiết dạy thì thấy chất lượng hai tiết dạy hoàn toàn khác nhau, kể cả tâm lý,
hứng thú của người dạy, người học cũng hoàn toàn khác nhau.
2/ Sự phong phú của nguồn thơ, văn, ca dao, dân ca … viết về Lịch
sử hoặc liên quan đến Lịch sử.
Có thể nói, nền văn học nước ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sứ
mệnh của nó: phản ánh hiện thực, đặc biệt là Văn học hiện đại. Cách mạng
tháng Tám thành công năm 1945 đã làm đổi đời cho không biết bao nhiêu
nhân tài văn học. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ vĩ đại đem
lại cho họ nguồn cảm hứng vô tận để họ kịp thời đưa những sự kiện Lịch sử
hào hùng của dân tộc lên trang giấy. Trong số đó phải kể đến hai cây đại thụ,
đó là lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu và nhà thơ lớn Tố Hữu. Tôi xin phép
không liệt kê ra đây những tác phẩm, những công trình đồ sộ của họ.
3/ Thực tế học tập của học sinh nói chung và học sinh THPT nói
riêng trong những năm gần đây.
Bước sang thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Đảng và nhà nước ta thực hiện
chủ trương đổi mới một cách toàn diện và sâu rộng. Nhờ đó bộ mặt kinh tế, xã
hội nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, từng bước bắt nhịp và hòa nhập
với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong khi chúng ta mở rộng cửa để đón
nhận những luồng gió mới trong lành, thì đồng thời cũng phải hứng chịu

không ít luồng gió độc. Một trong những luồng gió độc đó là sự xâm nhập của
tư tưởng hưởng thụ, lối sống thực dụng, cuốn theo dòng thác đổi mới và phát
triển của đất nước, tư tưởng, lối sống đó đã len lỏi vào tận học đường, gây
không ít xáo trộn trong suy nghĩ, hành động của học sinh, sinh viên. Một thực

6


tế là trong những năm gần đây số học sinh dự thi vào các trường Sư phạm,
vào các ngành Xã hội thưa dần và tăng quá tải ở các ngành, các trường Tự
nhiên, Kỹ thuật… Một số lượng không nhỏ có suy nghĩ rằng, học các ngành:
Ngân hàng, Tài chính, Xây dựng, Điện tử, Viễn thông … khi ra trường dễ
kiếm việc làm hơn, lương lại cao hơn, dễ kiếm tiền hơn. Chúng ta không phủ
nhận thực tế đó nhưng rõ ràng bản thân các em đã hướng động cơ học tập vào
việc làm giàu, chạy theo đồng tiền. Khi đó nhu cầu hiểu biết về thơ, văn, lịch
sử, về cội nguồn, về truyền thống … dần dần phai nhạt và mất chỗ trong suy
nghĩ của các em học sinh. Tất nhiên môi trường giáo dục của chúng ta cũng
không thoát ra khỏi guồng quay đó của xã hội. Mặt khác hiện nay cơ sở vật
chất cho giáo dục còn thiếu thốn nhất là phương tiện và đồ dùng trực quan
phục vụ trực tiếp cho dạy và học. Trong điều kiện đó, tôi không hy vọng gì
hơn là “sáng kiến kinh nghiệm” này sẽ góp một tiếng nói riêng và cung cấp
cho các đồng nghiệp một số kinh nghiệm tâm đắc được đúc rút từ lý luận và
thực tiễn bản thân trong hơn 10 năm kinh nghiệm dạy học.
2.3. Giải pháp
1/ Bài 12 - Chương I: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm
1919 đến năm 1925.
a. Làm sáng tỏ tội ác của thực dân Pháp xâm lược cũng như nổi thống
khổ của nhân dân ta do chính sách bóc lột bằng cách mở đồn điền hết sức tàn
bạo.
“Cao su đi dễ, khó về

Khi đi trai tráng, khi về bủng beo”
“Cao su đi dễ, khó về
Mỗi cây vùi mỗi xác người công nhân” [4]
(Ca dao chống Pháp)
Hoặc:
“ Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu

7


Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”[2]
(Tố Hữu - SĐD)
b. Làm sáng tỏ: “Thuế khóa trong bất cứ thời gian nào cũng là nguồn bóc
lột chủ yếu của thực dân, đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng đối
với nhân dân Đông Dương”.
“Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta
nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng
đất, hầm mỏ nguyên liệu.
- Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
- Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày
và dân buôn, trở nên bần cùng.
- Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công
nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn” [1] .
(Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh)
Hoặc:
“... Thuế đến cả phấn son phường phố
Thuế môn bài, thuế đuốc, thuế đèn
Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền

Thuế rừng tre gỗ, thuế tiền bán buôn
...
Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt
Thắt chặt dần như thắt chỉ xe”[4]
(Á tề á ca)
c. Làm sáng tỏ gương hi sinh anh dũng quên mình của liệt sĩ Phạm Hồng
Thái trong vụ ám sát Toàn quyền Méc – lanh.
Sau khi kể tóm tắt về tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của Phạm
Hồng Thái và tường thuật cụ thể chi tiết vụ ám sát Toàn quyền Méc – lanh,
giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ sau để khắc họa nhân vật trên.

8


“ Một tấm lôi đình kinh vũ trụ
Tấm gan trung nghĩa động thần minh
Chiếc thân đã gửi cho dòng nước
Trang sử còn ghi mãi tính danh”[3]
(Trần Huy Liệu - Từ điển nhân vật lịch sử)
Hoặc:
“ Sống làm quả bom nổ
Chết làm dòng nước xanh”[2]
(Tố Hữu - SĐD)
* Giáo viên nên lưu ý sau khi đọc xong phải cắt nghĩa cho các em hiểu
một số từ, khái niệm …
2/ Bài 16 - Chương III: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi
nghĩa tháng Tám (1939 - 1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
a. Khắc họa hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và tình cảm của Người khi trở
về quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước.
“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt

Sáng rừng Việt Bắc trắng hoa mơ
Bác về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ” [2] .
(Tố Hữu - SĐD)
b. Mở rộng thêm về Mặt trận Việt Minh, để khắc họa hình ảnh của Mặt
trận Việt Minh thực hiện chính sách của mình trong một “nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa thu nhỏ” đầy tính ưu việt, có thể sử dụng đoạn thơ của Chủ tịch
Hồ Chí Minh:
“… Có mười chính sách bày ra
Một là ích nước, hai là lợi dân
Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân
Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền
Hội hè, tín ngưỡng, báo chương

9


Họp hành, đi lại có quyền tự do
Nông dân có ruộng, có bò
Đủ ăn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn
Công nhân làm lụng gian nan
Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ
Gặp khi tai nạn bất ngờ
Thuốc thang Chính phủ bây giờ giúp cho
Thương nhân buôn bán nhỏ to
Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền
Nào là những kẻ chức viên
Cả lương đãi ngộ cho yên tấm lòng
Binh lính giữ nước có công
Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu

Thanh niên có trường học nhiều
Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho
Đàn bà cũng được tự do
Bất phân nam nữ đều cho bình quyền
Người tàn tật, kẻ lão niên
Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho
Trẻ em bố mẹ khỏi lo
Dạy nuôi, Chính phủ giúp cho đủ đầy” [1] .
(Lịch sử nước ta - Tập 3 - Hồ Chí Minh)
c. Khắc họa kết quả đấu tranh của nhân dân ta và quyết tâm bảo vệ độc
lập, tự do, những thành quả mà nhân dân ta đã giành được trong tiến trình đấu
tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
“ Sự thật từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ
không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân
cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa.

10


- Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải
từ tay Pháp.
- Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các
xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc
lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ
Dân chủ Cộng hòa.
- Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam
mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân
với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa
bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

- Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu
của bọn thực dân Pháp.
- Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một
dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân
tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
- Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
- Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành
một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy [1] .
(Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh)
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Tôi áp dụng phương pháp trên ở 2 nhóm học sinh có lực học môn Lịch
sử tương đương nhau thông qua việc kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết. Kêt quả
thu được như sau:
- Nhóm không sử dụng phương pháp trên (nhóm đối chứng)
Đạt yêu cầu

Không đạt yêu cầu

11


Lớp
12A5
12A7

Sĩ số
42
42


Số Lượng
16
18

%
38.1
42.9

Số lượng
26
24

%
61.9
57.1

- Nhóm thực nghiệm (sử dụng phương pháp mới)
Lớp

Sĩ số

12A2
12A3

42
42

Đạt yêu cầu
Số lượng

%
40
95.2
39
92.9

Không đạt yêu cầu
Số lượng
%
2
4.8
3
7.1

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Đề tài này đã giải quyết được các vấn đề sau:
1. Việc vận dụng kiến thức thơ, văn vào giảng dạy lịch sử, theo kinh
nghiệm của bản thân tôi cùng nhiều đồng nghiệp khác đã được tham khảo ý
kiến, là một việc làm rất có hiệu quả, nhằm gây hứng thú học tập cho học
sinh, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi việc học lịch sử, tìm hiểu lịch sử,
nhận thức lịch sử đang có chiều hướng giảm sút, xuống cấp. Ảnh hưởng của
nền kinh tế thị trường, lối suy nghĩ, lối sống thực dụng, hưởng thụ đang tác
động mạnh mẽ đến từng học sinh. Cùng với sự thiếu về phương tiện, thiết bị
dạy học cũng như thái độ dạy học đối phó, đại khái, qua loa của không ít giáo
viên đã và đang là những trở ngại không nhỏ trong việc giảng dạy nói chung
và dạy bộ môn lịch sử nói riêng.
2. Thơ, văn nói chung với ưu thế của nó: dễ thuộc, dễ đi vào lòng
người ... sẽ là một thế mạnh trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến
thức lịch sử. Thông qua đó góp phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với

truyền thống, lãnh tụ, các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, góp một phần xương
máu của mình để làm rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà.
3.2. Kiến nghị

12


Trong đề tài này, tôi đã thể nghiệm, bước đầu mạnh dạn đúc kết thành lý
thuyết trước hết là để làm tài sản riêng cho mình, sau là bạn bè, đồng nghiệp,
ai thấy tâm đắc thì dùng, đơn giản vậy thôi. Chương trình còn lại của lớp 12
và của lớp 10,11 tôi sẽ tiêp tục nghiên cứu và trình bày trong những dịp thích
hợp.
Chắc chắn rằng đề tài này sẽ còn những hạn chế, khiếm khuyết. Tôi rất
mong được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp, bạn bè để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hoá, ngày 01 tháng 06 năm
2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

Đỗ Đức Ninh

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Tuyển tập Văn, thơ Hồ Chí Minh
2/ Tuyển tập Tố Hữu

3/ (Trần Huy Liệu – Từ điển nhân vật lịch sử)
4/ Tuyển tập Ca dao chống Pháp

13



×