Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Đánh giá hiệu quả của phác đồ Bortezomib phối hợp với Dexamethasone và Thalidomide trong điều trị bệnh đa u tủy xương tại bệnh viện trung ương Huế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (305.79 KB, 5 trang )

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHÁC ĐỒ BORTEZOMIB PHỐI HỢP VỚI
DEXAMETHASONE VÀ THALIDOMIDE TRONG ĐIỀU TRỊ
BỆNH ĐA U TỦY XƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Tôn Thất Minh Trí*, Phạm Thị Ngọc Phương*, Võ Thế Hiếu*, Đặng Trần Hữu Hiếu*, Nguyễn Thanh Sơn*

TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả và độc tính của phác đồ bortezomib phối hợp với dexamethasone
và thalidomide trên bệnh nhân đa u tuỷ xương mới chẩn đoán.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 31 bệnh nhân đa u tủy xương được điều trị 4 đợt với phác đồ
bortezomib phối hợp dexamethasone và thalidomide tại Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 1/2017 đến tháng
6/2018. Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Kết quả: Sau 4 đợt điều trị, tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) là 90,3% trong đó tỷ lệ đạt lui bệnh hoàn toàn
(CR) là 22,6%, lui bệnh một phần rất tốt (VGPR) là 29% và lui bệnh một phần (PR) là 38,7%. Các biến chứng
do điều trị chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa.
Kết luận: Phác đồ bortezomib phối hợp dexamethasone và thalidomide có hiệu quả cao trong điều trị đa u
tủy xương với độc tính có thể chấp nhận được.
Từ khóa: đa u tủy xương

ABSTRACT
EVALUATION OF THE EFFICIENCY OF BORTEZOMIB PLUS DEXAMETHASONE AND
THALIDOMIDE IN THE TREATMENT OF MULTIPLE MYELOMA DISEASES
AT HUE CENTRAL HOSPITAL
Ton That Minh Tri, Pham Thi Ngoc Phuong, Vo The Hieu, Dang Tran Huu Hieu, Nguyen Thanh Son
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 6 - 2019: 244 – 248
Objectives: To evaluate the therapeutic efficacy and toxicity of bortezomib plus dexamethasone and
thalidomide.
Subjects and Methods: 31 patients with multiple myeloma were treated 4 cycles with bortezomib plus


dexamethasone and thalidomide regimen at Hue Central Hospital from January 2017 to June 2018. Crosssectional descriptive
Results: After 4 courses of treatment, the overall response rate was 90.3%, of which the complete response
rate was 22.6%, the very good partial response was 29% and the partial response was 38.7%. Complications
resulting from treatment were mild to moderate.
Conclusions: The bortezomib, dexamethasone and thalidomide regimen is highly effective in the treatment of
multiple myeloma with acceptable toxicity.
Key words: multiple myeloma

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa u tủy xương là một bệnh lý ác tính thuộc
dòng lympho B do sự tăng sinh đơn dòng các

tương bào khu trú ở tủy xương(6). Tỷ lệ xuất hiện
bệnh hàng năm vào khoảng 4/100.000 người.
Bệnh chiếm tỷ lệ 1% trong tất cả các bệnh ung
thư nói chung và 10% trong các bệnh ác tính về

* Bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả liên lạc: BSCKII. Tôn Thất Minh Trí

244

ĐT: 0914051610

Email:

Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019


Nghiên cứu Y học

máu(12). Mặc dầu cho đến nay vẫn chưa thể chữa
khỏi nhưng nhờ sử dụng các thuốc mới đặc biệt
là bortezomib, một chất ức chế proteasome có
tính kháng bướu các tế bào ác tính dòng B và
ghép tế bào gốc tạo máu, việc điều trị đã có
nhiều tiến bộ rõ rệt. Tại Bệnh viện Trung ương
Huế, từ khi các phác đồ có bortezomib được đưa
vào sử dụng thì hiệu quả điều trị cũng như thời
gian sống thêm và chất lượng sống của bệnh
nhân đã tăng lên đáng kể.

Tiêu chuẩn chẩn đoán, xếp loại và đánh giá

Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
nhằm đánh giá hiệu quả và độc tính của một
trong những phác đồ có bortezomib đó là phác
đồ
phối
hợp
giữa
bortezomib
với
dexamethasone và thalidomide trong điều trị tấn
công ở bệnh nhân đa u tủy xương.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN


ĐỐITƯỢNG–PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU
Đối tượng
Nghiên cứu được tiến hành trên 31 bệnh
nhân đa u tủy xương (ĐUTX) mới được chẩn
đoán, được điều trị tấn công 4 đợt với phác đồ
bortezomib phối hợp dexamethasone và
thalidomide tại Bệnh viện Trung ương Huế
trong thời gian từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2018.

Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân trên 16 tuổi.
Chẩn đoán đa u tủy xương, mới chẩn đoán.
Đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Có các bệnh ung thư khác kèm theo.
Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Phác đồ điều trị
Bortezomib: 1,3 mg/m2 da, tiêm tĩnh mạch
vào các ngày 1, 4, 8, 11.
Dexamethasone: 40 mg/ngày, uống hoặc
tiêm tĩnh mạch vào các ngày 1- 4 và 8 -11.
Thalidomide: 100mg/ngày, uống
Lặp lại chu kỳ như trên mỗi 21 ngày

Chẩn đoán đa u tủy xương theo IMWG
(International Myeloma Working Group) 2006.
Xếp giai đoạn bệnh theo ISS (Internationnal

Staging System) 2011.
Phân nhóm nguy cơ theo Mayo Clinic 2013
Đánh giá đáp ứng điều trị theo IMWG 2006
Đánh giá độc tính của hóa trị theo phân loại
của tổ chức y tế thế giới (WHO).
Đặc điểm bệnh nhân
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân trước điều trị (n=31)
Đặc điểm
Giới: nam/nữ
Tuổi
Đau xương
Hemoglobin trung bình
(mg/L)
Loại globulin miễn dịch
Tỷ lệ tương bào trung bình
ở tủy (%)
Calci toàn phần trung bình
(mmol/L)
Creatinin trung bình
(µmol/L)
β2 microglobulin trung bình
(mg/L)
Albumin trung bình (g/L)
Tổn thương xương
Giai đoạn bệnh theo ISS (I/
II/ III) %

Kết quả
15/16
61,5 ± 7,0 (51 - 80)

87,1%
97,3 ± 23,5 (49 – 145)
IgG 61,3%, IgA 16,1%, IgM
6,5%, không tiết 6,5%, kappa
6,5%, lambda 3,2%
28,1 ± 10,2 (11 – 55)
2,4 ± 0,5 (2,0 – 4,0)
96,6 ± 75,6 (42 – 461)
8,8 ± 10,6 (1,7 – 45)
25,9 ± 7,3 (15 – 44)
77,5%
16,1/ 38,7/ 45,2

Karyotype

Bình thường 22,5%, bất thường
64,6%, không mọc 12,9%

Nguy cơ (cao/ trung bình/
thấp/ không xác định) %

12,9/ 29,0/ 45,2/ 12,9

Số lượng bệnh nhân nam và nữ trong nghiên
cứu của chúng tôi là tương đương nhau. Tuổi
trung bình của các bệnh nhân trong nghiên cứu
là 61,5 ± 7,0 tuổi (thấp nhất là 51 tuổi và cao nhất
là 80 tuổi). Trước điều trị, 87,1% bệnh nhân có
biểu hiện đau xương. Nồng độ huyết sắc tố (Hb)
trung bình của các bệnh nhân trong mẫu nghiên

cứu là 97,3 ± 23,5 g/L. Loại IgG chiếm tỷ lệ cao
nhất (61,3%), tiếp đến là IgA (16,1%). Tỷ lệ tương
bào trung bình ở tủy xương là 28,1 ± 10,2 (11 –
55)%. Đa số bệnh nhân vào viện ở giai đoạn

Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học

245


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019

Nghiên cứu Y học

muộn. Có 12,9% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ
cao, 29% thuộc nhóm nguy cơ trung bình, 45,2%
thuộc nhóm nguy cơ thấp và 12,9% không xác
định nguy cơ do cấy không mọc (Bảng 1).
Đánh giá đáp ứng điều trị
Bảng 2. Thay đổi một số chỉ số sinh học sau điều trị
(n = 31)
Chỉ số

Trước điều Sau 4 đợt
trị
điều trị

( X ± SD) ( X ± SD)
Hb máu (g/l)
97,3 ± 23,5 128,9 ± 11,1

Protein huyết thanh (g/L) 93,5 ± 27,1 68,5 ± 7,3
Creatinin huyết thanh
96,6 ± 75,6 58,4 ± 20,1
(µmol/L)
β2M huyết thanh (mg/L) 8,8 ± 10,6
1,9 ± 0,7
Albumin huyết thanh
25,9 ± 7,3
38,4 ± 5,4
(g/L)

Bảng 5. Các biến chứng ngoài huyết học (n = 31)

p
< 0,05
< 0,05
< 0,05
< 0,05
< 0,05

Sau 4 đợt điều trị, đã có sự thay đổi theo
chiều hướng tốt và có ý nghĩa thống kê về nồng
độ trung bình của hemoglobin, protein,
creatinin, β2 microglobulin và albumin huyết
thanh (Bảng 2).
Bảng 3. Mức độ đáp ứng sau 4 đợt điều trị (n=31)
Mức độ đáp ứng
Số trường hợp (n)
Lui bệnh hoàn toàn
7

Lui bệnh một phần rất tốt
9
Lui bệnh một phần
12
Không thay đổi
3
Tổng cộng
31

Tỷ lệ (%)
22,6
29,0
38,7
9,7
100

Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (lui bệnh một phần trở
lên) sau 4 đợt điều trị là 90,3% trong đó có 51,6%
đạt lui bệnh từ một phần rất tốt trở lên (Bảng 3).
Các biến chứng do điều trị
Bảng 4. Các biến chứng về huyết học (n = 31)
Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4
(n)
(n)
(n)
(n)
Giảm hemoglobin 4; (12,9%)
4
0
0

0
Giảm bạch cầu hạt 10; 32,3%) 6
2
1
1
Giảm tiểu cầu
10; 32,3%) 7
2
1
0
Biến chứng

n; (tỷ lệ %)

Các biến chứng về huyết học xảy ra ở các
bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi gồm
giảm nồng độ hemoglobin (12,9%), giảm bạch
cầu hạt (32,3%) và giảm tiểu cầu (32,3%) nhưng
chủ yếu ở mức độ nhẹ (độ 1 và 2) (Bảng 4).
Tỷ lệ biến chứng về thần kinh ngoại biên là
35,5% và đều ở độ 1. Các biến chứng về tiêu hóa
xảy ra chủ yếu ở mức độ nhẹ với táo bón
(22,6%), buồn nôn, nôn (12,9%), tiêu chảy (12,9%)

246

và tăng men gan (29%), các biến chứng này xảy
ra chủ yếu ở mức độ nhẹ (độ 1và 2) và có thể
kiểm soát được. Một số biến chứng khác cũng có
thể gặp trong quá trình điều trị như nhiễm trùng

(35,5%) trong đó nhiễm trùng đường hô hấp
chiếm phần lớn, nhiễm Herpes zoster (16,1%),
tăng huyết áp (19,1%), tăng glucose máu (25,8%)
(Bảng 5).
Biến chứng
Thần kinh ngoại
biên
Táo bón
Buồn nôn, nôn
Tiêu chảy
Tăng men gan

n; (tỷ lệ %)

Độ 1
(n)

Độ 2
(n)

Độ 3 Độ 4
(n)
(n)

11; (35,5%)

11

0


0

0

7; (22,6%)
4; (12,9%)
4; (12,9%)
9; (29%)

7
4
4
4

0
0
0
2

0
0
0
3

0
0
0
0

BÀN LUẬN

Về đặc điểm bệnh nhân
Số lượng bệnh nhân nam và nữ trong
nghiên cứu của chúng tôi là tương đương
nhau. Nghiên cứu của một số tác giả khác về
ĐUTX cũng ghi nhận tỷ lệ giữa nam và nữ là
1/1 như tác giả Suzanne MCB Thanh Thanh(11)
hoặc tác giả Bock F(1).
Tuổi là một yếu tố tiên lượng bệnh và cũng
là 1 trong những tiêu chuẩn để xem xét lựa chọn
phác đồ điều trị nhất là trong việc hóa trị liều cao
và ghép tế bào gốc. Tuổi trung bình của các bệnh
nhân trong nghiên cứu là 61,5 ± 7,0 tuổi (thấp
nhất là 51 tuổi và cao nhất là 80 tuổi).
Trước điều trị, 87,1% bệnh nhân có biểu hiện
đau xương. Tỷ lệ bệnh nhân có đau xương trong
nghiên cứu của tác giả Suzanne MCB Thanh
Thanh là 88,3%(11). Nghiên cứu của tác giả
Morgan GJ ghi nhận tỷ lệ đau xương là 77%(8).
Nồng độ huyết sắc tố (Hb) trung bình của
các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là
97,3±23,5 g/L. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Lan Phương cũng ghi nhận nồng độ Hb trung
bình là 93,5±21,2 g/L(10). Tác giả Huang S.Y. cũng
ghi nhận nồng độ Hb trung bình là 92±26 g/L(5).
Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, loại IgG
chiếm tỷ lệ cao nhất (61,3%), tiếp đến là IgA
(16,1%), IgM (6,5%), chuỗi nhẹ kappa (6,5%),

Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học



Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019
chuỗi nhẹ lambda (3,2%) và 6,5% thuộc thể
không tiết. Tỷ lệ tương bào trung bình ở tủy
xương là 28,1 ± 10,2 (11 – 55%).
Đa số bệnh nhân vào viện ở giai đoạn muộn.
Có 12,9% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao,
29% thuộc nhóm nguy cơ trung bình, 45,2%
thuộc nhóm nguy cơ thấp và 12,9% không xác
định nguy cơ do cấy không mọc.
Về đánh giá đáp ứng điều trị
Sau 4 đợt điều trị, đã có sự thay đổi theo
chiều hướng tốt và có ý nghĩa thống kê về nồng
độ trung bình của hemoglobin, protein,
creatinin, β2 microglobulin và albumin huyết
thanh. Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét
của một số tác giả khác khi sử dụng các phác đồ
có bortezomib như tác giả Bùi Thị Hoa(2), tác giả
Ngô Ngọc Ngân Linh(9).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đáp
ứng toàn bộ (lui bệnh một phần trở lên) sau 4
đợt điều trị là 90,3% trong đó có 51,6% đạt lui
bệnh từ một phần rất tốt trở lên.
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã
cho thấy tỷ lệ đáp ứng với các phác đồ có
bortezomib trên bệnh nhân ĐUTX là rất cao. Tác
giả Ngô Ngọc Ngân Linh trong nghiên cứu sử
dụng phác đồ bortezomib + dexamethasone, sau
4 đợt điều trị đã ghi nhận tỷ lệ đáp ứng toàn bộ
là 86%, tỷ lệ đáp ứng từ một phần rất tốt trở lên

là 42,8%(9). Nghiên cứu sử dụng phác đồ
bortezomib + dexamethasone của tác giả
Harousseau JL cho thấy tỷ lệ đáp ứng toàn bộ, tỷ
lệ đáp ứng từ một phần rất tốt trở lên lần lượt là
78,5% và 37,7%(4). Tác giả Moreau P. trong
nghiên cứu sử dụng phác đồ bortezomib +
dexamethasone + thalidomide, sau 4 đợt điều trị
ghi nhận tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 88% và tỷ lệ
đáp ứng từ một phần rất tốt trở lên là 49% (7); khi
so sánh phác đồ này với phác đồ bortezomib +
dexamethasone thì cho thấy tỷ lệ đạt lui bệnh từ
một phần rất tốt trở lên cao hơn có ý nghĩa thống
kê (49% so với 36%; p <0,05)(7).
Về các biến chứng do điều trị
Các biến chứng về huyết học xảy ra ở các

Nghiên cứu Y học

bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi gồm
giảm nồng độ hemoglobin (12,9%), giảm bạch
cầu hạt (32,3%) và giảm tiểu cầu (32,3%) nhưng
chủ yếu ở mức độ nhẹ, độ 1 và độ 2. Nghiên cứu
của tác giả Ngô Ngọc Ngân Linh cũng cho thấy
biến chứng về huyết học khá nhẹ nhàng với
giảm tiểu cầu (42,8%), giảm bạch cầu hạt (28,6%).
Các biến chứng này chủ yếu ở mức độ nhẹ,
không gây nguy hiểm cho bệnh nhân, ít ảnh
hưởng lớn đến quá trình tiếp tục phác đồ và có
thể hồi phục về tình trạng ban đầu trở lên vào
đầu chu kỳ tiếp theo(9). Tác giả Cavo M. cũng ghi

nhận biến chứng về huyết học khi sử dụng phác
đồ có bortezomib là chấp nhận được với giảm
bạch cầu hạt và giảm tiểu cầu(3).
Tỷ lệ biến chứng về thần kinh ngoại biên ở
các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là
35,5% nhưng đều ở mức độ nhẹ (độ 1) và không
có bệnh nhân nào phải giảm liều hoặc gián đoạn
điều trị. Tác giả Ngô Ngọc Ngân Linh trong
nghiên cứu sử dụng phác đồ bortezomib +
dexamethasone cũng ghi nhận tỷ lệ biến chứng
thần kinh ngoại biên là 34,7%(9). Tác giả
Harousseau JL nghiên cứu trên 239 bệnh nhân
ĐUTX được điều trị với phác đồ bortezomib +
dexamethasone cho thấy biến chứng về thần
kinh ngoại biên chiếm tỷ lệ 45,6% nhưng chủ
yếu ở mức độ nhẹ (độ 1 và 2)(4).
Các biến chứng về tiêu hóa ở các bệnh nhân
trong nghiên cứu của chúng tôi gồm có táo bón
(22,6%), buồn nôn, nôn (12,9%), tiêu chảy (12,9%)
và tăng men gan (29%), các biến chứng này xảy
ra chủ yếu ở mức độ nhẹ (độ 1và 2) và có thể
kiểm soát được.
Một số biến chứng khác cũng có thể gặp
trong quá trình điều trị như nhiễm trùng (35,5%)
trong đó nhiễm trùng đường hô hấp chiếm phần
lớn, nhiễm Herpes zoster (16,1%), tăng huyết áp
(19,1%), tăng glucose máu (25,8%).

KẾTLUẬN
Phác

đồ
bortezomib
phối
hợp
dexamethasone và thalidomide cho thấy có hiệu
quả cao trong điều trị tấn công trên bệnh nhân

Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học

247


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 6 * 2019

đa u tủy xương với tỷ lệ đáp ứng toàn bộ sau 4
đợt điều trị là 90,3% trong đó có 51,6% đạt lui
bệnh từ một phần rất tốt trở lên.
Tác dụng phụ ghi nhận trong quá trình điều
trị tương đối nhiều, tuy nhiên đa số ở mức độ
nhẹ và có thể kiểm soát được nếu có kế hoạch
theo dõi để phát hiện và can thiệp kịp thời.

6.

7.

8.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

5.

248

Bock F, Lu G, Srour SA, et al (2016). Outcome of patients with
multiple myeloma and CKS1B gene amplification after
autologous hematopoietic stem cell transplantation, Biology of
Blood and Marrow Transplantation, 22(12):2159-2164.
Bùi Thị Hoa, Vũ Minh Phương, Hàn Viết Trung, Phạm
Quang Vinh (2017). Bước đầu nghiên cứu điều trị bệnh nhân
đa u tủy xương bằng phác đồ Velcade- cyclophosphamidedexamethasone. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(6):104-110.
Cavo M, Pantani L, Petrucci M, et al (2012). Bortezomib thalidomide -dexamethasone issuperior to thalidomide dexamethasone as consolidation therapy after autologous
hematopoietic stemcell transplantation in patients with newly
diagnosed multiple myeloma. Blood, 120(1):9-19.
Harousseau JL, Attal M, Loiseau HA, et al (2010). Bortezomib
Plus Dexamethasone Is Superior to Vincristine Plus
Doxorubicin Plus Dexamethasone As Induction Treatment
Prior to Autologous Stem-Cell Transplantation in Newly
Diagnosed Multiple Myeloma: Results of the IFM 2005-01
Phase III Trial. Journal of Clinical Oncology, 28:1-10.
Huang SY, Yao M, Tang JL (2007). Epidemiology of Multiple

Myeloma in Taiwan Increasing Incidence for the Past 25 Years
and Higher Prevalence of Extramedullary Myeloma in
Patients Younger Than 55 Years. Cancer, 110:896-905.

9.

10.

11.

12.

Maes K, Smedt ED, Lemaire M, et al (2014). The Role of DNA
Damage and Repair in Decitabine-Mediated Apoptosis in
Multiple Myeloma. Oncotarget, 5(10):3115-3129.
Moreau P, Loiseau HA, Facon T, et al (2011). Bortezomib plus
dexamethasone versus reduced - dose bortezomib,
thalidomide plus dexamethasone as induction treatment
before autologous stem cell transplantation in newly
diagnosed multiple myeloma. Blood, 118 (22):5752 - 5758.
Morgan GJ, Davies FE, Gregory WM, et al (2010). First-line
treatment with zoledronic acid as compared with clodronic
acid in multiple myeloma (MRC Myeloma IX): a randomised
controlled trial. Lancet; 376:1989-1999.
Ngô Ngọc Ngân Linh (2015). Hiệu quả điều trị của phác đồ
bortezomib phối hợp dexamethasone trên bệnh nhân đa u tủy
xương tại Bệnh viện Truyền máu-Huyết học, Luận án Bác sỹ
Chuyên khoa cấp II chuyên ngành Huyết học, Trường Đại học Y
khoa Phạm Ngọc Thạch Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 52-68.
Nguyễn Lan Phương, Nguyễn Thùy Dương, Vũ Đức Bình và

cs (2016). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm bệnh
đa u tủy xương chuỗi nhẹ tại Viện Huyết học- Truyền máu
TW từ tháng 8-2014 đến tháng 4- 2016, Y học Việt Nam,
446:1060 - 1066.
Suzanne Monivong Cheanh Beaupha (2016). Đánh giá đáp
ứng điều trị và chức năng thận của phác đồ có bortezomib
trong bệnh đa u tủy xương. Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại
học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh, pp.57-59.
Trần Công Hoàng, Vũ Quang Lâm, Vũ Đức Bình và cs (2016).
Một số thuốc nhắm đích trong điều trị đa u tủy xương, Một số
chuyên đề Huyết học - Truyền máu, tập VI. NXB Y học,
pp.294 – 305.

Ngày nhận bài báo:

22/07/2019

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

28/08/2019

Ngày bài báo được đăng:

15/10/2019

Hội Nghị Khoa Học BV. Truyền máu Huyết học




×