Tải bản đầy đủ (.docx) (54 trang)

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (303.33 KB, 54 trang )

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG
DOANH NGHIỆP

I. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI
CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP.
1.1.Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp và các mối quan hệ tài chính
chủ yếu của doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính là một trong những hoạt động sản xuất , kinh doanh
trong doanh nghiệp được biểu hiện bằng hình thái tiền tệ nhằm giải quyết các
mối quan hệ kinh tế phát sinh trong q trình sản xuất, kinh doanh.
Nói cách khác, trên giác độ kinh doanh vốn hoạt động tài chính là những
mối quan hệ tiền tệ gắn liền với việc tổ chức , huy động và sử dụng vốn một cách
có hiệu quả.
Hoạt động tài chính nhằm đảm bảo thực hiện các vấn đề tài chính trong
q trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như:
- Đảm bảo nguồn tài chính của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có thể
tiến hành hoạt động kinh doanh bình thường.
-Huy động vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh với chi phí nhỏ nhất.
-Đảm bảo việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả.
-Nhằm tối đa hố lợi nhuận của doanh nghiệp.
-Qua hoạt động tài chính có thể tiến hành phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp cũng như hoạch sách tài chính cho tương lai.
Và nhiệm vụ của hoạt động tài chính này nhằm giải quyết một số câu hỏi
như:
1

1


-Nguồn đầu tư vào đâu và như thế nào.
-Nguồn tài trợ cho tài chính của doanh nghiệp lâý từ đâu...


Căn cứ vào hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp trong mơi trường
kinh tế xã hội có thể thấy quan hệ tài chính của doanh nghiệp rất phong phú và đa
dạng, xuyên suốt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
Quan hệ này phát sinh trong quá trình cấp phát vốn trao đổi hàng hoá ,
dịch vụ , phân phối Tổng sản phẩm quốc dân giữa Nhà nước với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác cho Nhà nước theo
luật định.
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính.
Doanh nghiệp thực hiện quá trình trao đổi mua bán các sản phẩm tài chính
nhằm thoả mãn nhu cầu vốn của mình .
-Với thị trường tiền tệ: Thông qua thị trường tiền tệ, ngân hàng, doanh
nghiệp có thể tạo được nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh.
-Với thị trường vốn: Doanh nghiệp có thể tạo nguồn vốn dài hạn bằng cách
phát hành chứng khoán: Cổ phiếu và trái phiếu. Hơn nữa, doanh nghiệp có thể
tiến hành kinh doanh các mặt hàng này trên thị trường nhằm thu lãi để thoả mãn
thêm nhu cầu về vốn.

2

2


Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường khác.
Các doanh nghiệp quan hệ với nhau, và với tổ chức kinh tế khác chủ yếu
thông qua thị trường . Với tư cách là một chủ thể hoạt động kinh doanh, doanh
nghiệp quan hệ với thị trường cung cấp đầu vào (người bán) và thị trường phân
phối , tiêu thụ sản phẩm (người mua) . Đó là thị trường hàng hố dịch vụ, thị
trường sức lao động...Thơng qua các thị trường này doanh nghiệp có thể xác định
nhu cầu sản phẩm và dịch vụ tương ứng, trên cơ sở đó doanh nghiệp hoạch định

chiến lược sản xuất , kinh doanh nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường.
Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp .
Biểu hiện của quan hệ này là sự luân chuyển vốn trong doanh nghiệp. Đó là
quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất, kinh doanh với nhau , giữa các đơn
vị thành viên , giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn.Các mối quan hệ này
được biểu hiện thông qua các chính sách tài chính của doanh nghiệp như : Chính
sách phân phối thu nhập , chính sách về đầu tư và cơ cấu đầu tư , chính sách về cơ
cấu vốn, chính sách về chi phí...
Như vậy có thể nói các quan hệ tài chính trên đây là kết quả của hoạt động
phân phối trao đổi (mua, bán) nó bao qt mọi khía cạnh trong vịng đời kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cuối mỗi kỳ báo cáo, chúng ta phải tổng kết đánh
giá tình hình tài chính của doanh nghiệp để tìm ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn, cải thiện tình hình tài chính.
1.2.Sự cần thiết phải phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động tài chính là việc miêu tả các mối quan hệ mật thiết
giữa các khoản mục và nhóm khoản mục trên báo cáo tài chính để xác định được
cácchỉ tiêu cần thiết phục vụ cho các nhà doanh nghiệp và các đối tượng khác
trong việc ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của đối tượng đó.
Dựa vào các báo cáo tài chính, các đối tượng quan tâm đến tình hình tài
chính sẽ có thể tiến hành phân tích và đưa ra nhưỡng quyết định quản lý của

3

3


mình, nhằm hoạch định những chính sách cũng như đánh giá hiệu quả kinh
doanh.

Mục tiêu phân tích đối với các doanh nghiệp nói chung.

Việc phân tích tình hình chính đối một doanh nghiệp nhằm đáp ứng các
mục tiêu sau đây:
-Cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thơng tin kinh tế cần thiết cho
chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính để giúp họ có những
quyết định đúng đắn khi tiến hành tham gia mối quan hệ kinh tế với doanh
nghiệp.
-Cung cấp thông tin về tình hình cơng nợ, khả năng tiêu thụ sản phẩm, hàng
hố khả năng sinh lợi, cũng như tình hình ảnh hưởng làm thay đổi điều kiện kinh
doanh giúp chủ doanh nghiệp dự đốn tình hình và có hướng đi trong tương lai.
-Cung cấp thơng tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng khai thác, thanh
toán và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp giúp cho việc khắc
phục những sai sót, phát huy những ưu điểm trong quá trình hoạt động kinh
doanh.
Mục tiêu của việc phân tích đối với các đối tượng kinh tế khác bên ngồi
doanh nghiệp.
Trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, sẽ bao gồm
nhiều thành phần kinh tế khác nhau và có quan hệ mật thiết. Cho nên đối tượng
quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ là các thành phần kinh tế
đó như : Ngân hàng, nhà đầu tư hiện tại và tương lai, bạn hàng... và đặc biệt là
các cơ quan chủ quản của Nhà nước như cơ quan thuế... Dựa vào sự phân tích
tình hình tài chính của doanh nghiệp mà các thành phần hay đối tác kinh tế này
sẽ có quyết định đúng đắn cho lợi ích kinh tế của mình, và sẽ càng tránh được rủi
ro, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nếu việc phân tích tiến hành một cách tỉ mỉ
và chu đáo.
4

4


Mục đích của việc phân tích đối với Tổng cơng ty Giấy Việt nam.

Tổng công ty Giấy Việt nam được Nhà nước giao cho quản lý và sử dụng
một lượng vốn lớn bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Hơn nữa Tổng cơng
ty cịn có các đơn vị thành viên hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc và các đơn
vị hành chính sự nghiệp nên việc quản lý vốn giao vốn cho các đơn vị này là việc
hết sức phuức tạp, vì vốn của nhà nước khi được sử dụng thì phải đản bảo tính
hiệu quả, tơn trọng ngun tắc bảo tồn và phát triển vốn. Cũng như trong quan
hệ kinh tế với các tổ chức khác thể hiện qua các quan hệ tài chính như: Nhà nước
với doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, bạn hàng, nhà đầu tư. Vậy, muốn biết
Tổng công ty Giấy Việt nam hoạt động có hiệu quả hay khơng có hiệu quả thì cần
thiết phải tiến hành việc phân tích tình hình tài chính vào mỗi kỳ báo cáo.
1.3. Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp phân tích hoạt động tài chính
doanh nghiệp.
Nhiệm vụ phân tích.
Nhiệm vụ phân tích tình hình hoạt động tài chính ở doanh nghiệp là dựa
vào cơ sở những nguyên tắc về tài chính doanh nghiệp và phương pháp phân tích
mà tiến hành phân tích nhằm đánh giá tình hình thực trạng và triển vọng hoạt
động tài chính vạch rõ những mặt tích cực và tồn tại của việc thu chi tiền tệ.Xác
định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố .Từ đó đề ra các biện
pháp tích cực nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nội dung phân tích.
Nội dung phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp tập trung vào các vấn
đề:
1.Đánh giá khái quát tình hình tài chính.
2.Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuấtkinh doanh.
3.Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán.
5

5



4.Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh.
5.Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
6.Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính.
7.Phân tích tình hình và khả năng thanh tốn.
8.Phân tích hiệu quả và khả năng sinh lời của quá trình kinh doanh.
9.Phân tích tốc độ chu chuyển của vốn lưu động

Hình thức phân tích.
Phân tích hoạt động tài chính trong doanh nghiệp có thể tiến hành qua 3
hình thức phân tích.
-Phân tích trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh: Nhằm mục đích dự
dốn các mục tiêu có khả năng đạt được trong tương lai để từ đó có thể lường
trước được những khó khăn về tài chính trước khi chúng xảy ra.
-Phân tích trong q trình kinh doanh:Nhằm xác định kết quả thực hiện và
điều chỉnh kịp thời để hướng đến đạt được các mục tiêu.
-Phân tích sau quá trình kinh doanh: Nhằm xác định kết quả thực hiện so
với mục tiêu đề ra, và để lập tiếp các chỉ tiêu cho tương lai.
Phương pháp phân tích.
Có rất nhiều phương pháp để tiến hành phân tích tình hình hoạt động và
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Song, trong tất cả các phương pháp thì
phương pháp so sánh được dùng nhiều hơn cả. Khi tiến hành phân tích theo
phương pháp này thì ta sẽ xác định được xu hướng phát triển và mức độ biến
động dành cho các chỉ tiêu kinh tế.Theo phương pháp này thì phải giải quyết các
vấn đề cơ bản sau:
-Chọn tiêu chuẩn so sánh.
6

6



-Điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế.
-Mục tiêu so sánh.
-Phân tích theo chiều dọc, theo chiều ngang.
1.4.Hệ thống báo cáo tài chính-Tài liệu để tiến hành phân tích.
Báo cáo kế tốn tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài
sản, vốn và cơng nợ cũng như tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ
của doanh nghiệp.
Các khoản mục riêng biệt trên báo cáo thường khơng có nhiều ý nghĩa song
mối quan hệ giữa các khoản mục và nhóm khoản mục cùng với các biến động
phát sinh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.Và càng đặc biệt quan trọng hơn khi
chúng được dùng làm số liệu phân tích.
Theo quy định của Bộ tài chính hiện nay thì báo cáo tài chính gồm các biểu
mẫu như sau:
-Bảng cân đối kế toán ( Mẫu số B01- DN).
-Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ( Mẫu số B02-DN).
-Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( Mẫu số B03-DN).
-Bản thuyết minh báo cáo ( Mẫu số B09-DN).
1.4.1.Bảng cân đối kế toán.
1.4..1.1.Bản chất và ý nghĩa của bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế tốn là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp
tại một thời điểm nhất định.
Số liệu trên bảng cân đối kế tốn cho biết tồn bộ giá trị tài sản hiện có của
doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành các
7

7


tài sản đó. Căn cứ vào bảng cân đối kế tốn có thể nhận xét, đánh giá khái qt

tình hình tài chính của doanh nghiệp.
1.4.1.2.Nội dung và kết cấu của bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần: Phần tài sản và phần nguồn
vốn.
Phần tài sản:Các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh tồn bộ giá trị tài sản
hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức
tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được
phân chia như sau:
A: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.
B: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
Về mặt ý nghĩa kinh tế: Qua xem xét phần tài sản cho phép đánh giá tổng
quát năng lực và trình độ sử dụng tài sản.
Về mặt ý nghĩa pháp lý: Thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản
lý và sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai.
Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo.Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý
của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng của doanh nghiệp.
Nguồn vốn được chia ra:
A: Nợ phải trả.
B: Nguồn vốn chủ sở hữu.
Mỗi phần của bảng cân đối kế toán đều được phản ánh theo 3 cột: Mã số, số
đầu kỳ, số cuối kỳ.
Về mặt ý nghĩa kinh tế: Người sử dụng thấy được thực trạng kinh tế của
doanh nghiệp.
8

8


Về mặt ý nghĩa pháp lý: Người sử dụng bảng cân đối kế toán thấy được

trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh , về số
tài sản được hình thành từ các nguồn vay ngân hàng, vay của các đối tượng
khác....Cũng như trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ với người lao động,
với Nhà nước, với nhà cung cấp...
Hai phần của bảng cân đối kế toán là tài sản và nguồn vốn có tổng số bao
giờ cũng bằng nhau, cụ thể như sau:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Tổng tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
Tài sản lưu động + Tài sản cố định = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Ngoài ra bảng cân đối kế tốn cịn có thêm các phần phụ, phản ánh các chỉ
tiêu dài hạn không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp như ( ngoại tệ các loại,
vốn khấu hao, tài sản th ngồi, hàng hố nhận gia cơng chế biến...)
1.4.1.3.Cơ sở số liệu để lập bảng cân đối kế toán.
-Căn cứ vào bảng cân đối kế toán kỳ trước.
-Căn cứ vào số liệu từ sổ cái các tài khoản tổng hợp và chi tiết.
-Căn cứ vào các tài liệu có liên quan khác.
-Căn cứ vào bảng cân đối tài khoản.
1.4.1.4. Phương pháp lập bảng cân đối kế tốn.
-Các cơng việc cần phải làm trước khi lập bảng cân đối kế toán:
.Kiểm tra kỹ nội dung phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào
sổ kế tốn có liên quan.
.Khoá sổ và rút số dư các tài khoản.
9

9


.Đối chiếu số liệu giữa các sổ kế tốn có liên quan.
-Đối với từng thời điểm ghi sổ các số liệu là:

.Đối với sổ đầu năm kế toán lấy số liệu cuối bảng cân đối kế toán
ngày 31/12/ năm trước để ghi vào các chỉ tiêu tương ứng.
.Đối với sổ cuối kì: Những chỉ tiêu phản ánh ở phần tài sản nêu bằng
cách lấy số dư bên Nợ của các tài khoản cấp I hoặc cấp II trong sổ cái tương ứng
để ghi
.Đối với các chỉ tiêu điều chỉnh giảm tài sản như các chỉ tiêu:
-Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, dài hạn.
-Dự phòng các khoản phải thu khó địi.
-Dự phịng giảm giá hàng tồn kho.
-Giá trị hao mịn luỹ kế.
Các tài khoản này ln có số dư bên có của tài khoản tương ứng. Nhưng khi
lập bảng cân đối kế toán được phản ánh ở phần tài sản và được ghi bằng số âm.
.Đối với các chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn được ghi bằng cách lấy số
dư của các tài khoản cấp I hoặc cấp II tương ứng để ghi (các tài khoản này có số
dư Có) nhưng riêng chỉ tiêu chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỉ giá và lãi
chưa phân phối thì các chỉ tiêu này liên quan đến các tài khoản tương ứng như
tài khoản 412, tài khoản 413, tài khoản 421 có cả dư Nợ và dư Có, nên khi trình
bầy các chỉ tiêu này với số dư bên nợ thì sẽ được ghi bên phần nguồn vốn với số
âm.
.Đối với các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế tốn thì được ghi theo sổ
các tài khoản tương ứng.
(Bảng cân đối kế toán phần phụ lục).
Bảng cân đối kế toán tuy là báo cáo quan trọng nhất trong các báo cáo tài
chính nhưng nó chỉ phản ánh một cách tổng quát tình hình tài sản của doanh
10
10


nghiệp và nó cũng khơng cho biết kết quả hoạt động kinh doanh trong kì như các
chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận. Như vậy để biết thêm các chỉ tiêu đó chúng

ta cần xem xét trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
1.4.2.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
1.4.2.1.Bản chất và ý nghĩa của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản
ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kì kế tốn của doanh
nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác; tình hình
thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác.
1.4.2.2.Nội dung và kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Báo cáo gồm ba phần chính: Phần I - Lãi, lỗ; Phần II

- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước; Phần III - Thuế GTGT được
khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán
nội địa.
Phần I. Lãi lỗ: Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động khác.
Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều được trình bầy số liệu của kì trước
(để so sánh), tổng số phát sinh trong kì báo cáo và số luỹ kế từ đầu năm đến cuối
kì báo cáo.
Phần II. Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: Phản ánh tình
hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí cơng đồn và các khoản phải nộp khác.

11

11


Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều được trình bầy: Số cịn phải nộp kì
trước chuyển sang; số phải nộp phát sinh trong kì báo cáo, số đã nộp trong kì báo
cáo, số cịn phải nộp cuối kì báo cáo.

Phần III. Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế
GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa. Phản ánh số thuế GTGT được
khấu trừ, đã khấu trừ, cịn được khấu trừ; thuế GTGT được hồn lại, đã hồn, cịn
được hồn; thuế GTGT được giảm, đã giảm và còn được giảm cuối kỳ; thuế GTGT
hàng bán nội địa đã nộp vào Ngân sách Nhà nước và còn phải nộp cuối kỳ.
1.4.2.3.Cơ sở số liệu và phương pháp lập.
-Căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh kì trước.
-Căn cứ vào sổ kế tốn trong kì các tài khoản từ loại 5 đến loại 9.
(Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phần phụ lục).
1.4.3.Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.4.3.1.Bản chất và ý nghĩa của báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành
và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kì báo cáo của doanh nghiệp.
Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT), người sử dụng có thể đánh giá
được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán được lượng tiền tiếp
theo.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thực chất là một báo cáo cung cấp thông tin về
những sự kiện và nghiệp vụ kinh tế phát sinh có ảnh hưởng đến tình hình tiền của
doanh nghiệp, cụ thể là những thơng tin về:
-Doanh nghiệp đã bằng cách nào kiếm được tiền và chi tiêu như thế nào.
-Quá trình đi vay và trả nợ của doanh nghiệp.
-Quá trình mua bán lại chứng khoán vốn của doanh nghiệp và của các
doanh nghiệp khác.
12

12


-Q trình thanh tốn cổ tức và các q trình phân phối khác cho chủ sở
hữu và cho các đối tượng khác.

-Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Như vậy, qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ những người quan tâm đến doanh
nghiệp sẽ biết được những hoạt động nào là hoạt động chủ yếu tạo ra tiền và đã
được sử dụng vào những mục đích gì và việc sử dụng đó đã hợp lý hay không?.
1.4.3.2.Kết cấu.
Trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện tình hình của 3 hoạt động chủ yếu
mà có khả năng biến đổi dòng tiền, được thể hiện như sau:
-Hoạt động sản xuất kinh doanh.
-Hoạt động đầu tư.
-Hoạt động tài chính.
Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động chủ yếu, gắn với chức năng
hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm các dòng thu và chi liên quan đến quá trình
hoạt động, sản xuất, kinh doanh trong kì hạch toán.
Hoạt động đầu tư:Bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc mua sắm và
bán tài sản cố định ngoài niên hạn( dài hạn).
Hoạt động tài chính: Bao gồm các hoạt động liên quan đến vốn chủ sở
hữu(vốn quỹ) của doanh nghiệp.
Căn cứ vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ mà người ta tiến hành phân tích các
dịng tiền . Qua việc phân tích này để thấy dịng tiền đó thuộc hoạt động nào và
hiệu quả của hoạt động đó.
1.4.3.3.Phương pháp lập.
-Theo phương pháp trực tiếp:

13

13


Theo phương pháp này, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở
phân tích, thống kê trực tiếp các số liệu trên sổ kế toán vốn bằng tiền như sổ theo

dõi tiền mặt,tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển liên quan đến từng hoạt
động và chi tiết theo từng chỉ tiêu có liên quan.
Phương pháp chung để lập các chỉ tiêu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo
phương pháp trực tiếp là căn cứ vào nội dung cụ thể của các chỉ tiêu, những chỉ
tiêu nào phản ánh số tiền đi vào doanh nghiệp ( số tiền thu) theo từng hoạt động
sẽ được ghi bình thường ( biểu hiện số tiền tăng) , còn những chỉ tiêu nào phản
ánh số tiền đi ra (số tiền chi) theo từng hoạt động được ghi bằng số âm, biểu diễn
số liệu trong dấu ngoặc đơn. Các chỉ tiêu lưu chuyển tiền thuần của các hoạt động
là số cộng đại số của các mã số phản ánh trong các hoạt động đó.
-Theo phương pháp gián tiếp:
Theo phương pháp này, dựa vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
bảng cân đối kế tốn và một số tài liệu có liên quan để ghi các chỉ tiêu của báo
cáo. Việc lập báo cáo theo phương pháp này là căn cứ vào lợi tức trước thuế của
hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng thêm chi phí khơng có tính chất trên và loại
trừ lãi, lỗ. Các khoản đầu tư hoạt động tài chính đã tính vào lợi tức trước thuế,
tiến hành điều chỉnh các khoản thuộc tài sản lưu động. Việc điều chỉnh này tuỳ
thuộc vào tính chất của các Tài khoản phản ánh tài sản (vốn kinh doanh) có số dư
cuối kỳ lớn hơn số dư đầu kỳ, điều đó chứng tỏ lượng tiền của doanh nghiệp đi ra
nên các chỉ tiêu này được ghi giảm(-) . Ngược lại sẽ ghi số tăng nếu Tài khoản
phản ánh nguồn vốn có số dư cuối kỳ lớn hơn đầu kỳ chứng tỏ dòng tiền của
doanh nghiệp đi vào, nên các chỉ tiêu này được ghi tăng ,ngược lại ghi giảm.
Để hiểu rõ thêm những chi tiết khác nữa, chẳng hạn như đặc điểm hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và chi tiết các khoản phải thu, phải
trả, chi phí dở dang...chúng ta phải đi xem xét “ Bản thuyết minh báo cáo tài
chính”.
( Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phần phụ lục).

14

14



1.4.4 Thuyết minh báo cáo tài chính.
1.4.4.1.Bản chất và ý nghĩa.
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo
tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thơng tin về tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong
kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác khơng thể trình bày rõ ràng chi tiết.
1.4.4.2.Kết cấu.
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp; nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp áp
dụng; tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn gốc vốn
quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉ tieu theo nội dung đã quy định
trong thuyết minh báo cáo tài chính , ngồi ra doanh nghiệp cũng có thể trình bày
thêm các nội dung khác nhằm giải thích chi tiết hơn tình hình và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
1.4.4.3.Phương pháp lập.
Nguyên tắc chung:
-Trình bày gắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu ở phần trình bày bằng lời.Với phần số
liệu thì phải thống nhất với số liệu trên các báo khác.
-Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại
doanh nghiệp phải thống nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có gì thay đổi phải
trình bày rõ ràng lý do thay đổi.
-Trong các biểu số liệu, cột kế hoạch thể hiện số liệu kế hoạch của kỳ báo
cáo ; cột số thực hiện kỳ trước thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo cáo.
-Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ
sử dụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm.
15

15


Trong thuyết minh báo cáo tài chính phải thể hiện các chỉ tiêu sau:
-Chi phí sản xuất , kinh doanh theo yếu tố: Chỉ tiêu này phản ánh toàn
bộ chi phí sản xuất , kinh doanh phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp , bao gồm
các chỉ tiêu như: Chi phí ngun vật liệu, chi phí n hân cơng, chi phí khấu hao tài
sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngồi, chi phí bằng tiền.
-Tình hình tăng giảm tài sản cố định: Chỉ tiêu này phản ánh tổng số
tăng, giảm TSCĐ hữu hình, TSCĐ th tài chính, TSCĐ vơ hình.
-Tình hình thu nhập của cơng nhân viên: Chỉ tiêu này phản ánh thu
nhập bình qn của cơng nhân viên và các khoản có liên quan đến tiền lương.
-Tình hình tăng, giảm vốn chủ sở hữu: Chỉ tiêu này phản ánh tăng giảm
các nguồn vốn chủ sở hữu trong kỳ báo cáo như nguồn vốn kinh doanh, nguồn
vốn xây dựng cơ bản...và lý do tăng giảm chủ yếu.
-Tình hình tăng, giảm các đầu tư vào đơn vị: Chỉ tiêu này phản ánh
tổng số tăng, giảm, kết quả các khoản đầu tư vào đơn vị khác như góp vốn liên
doanh...và lý do tăng, giảm chủ yếu.
-Các khoản phải thu và nợ phải trả: Chỉ tiêu này phản ánh tình hình
tăng, giảm các khoản phải thu và nợ phải trả, các khoản đã quá hạn thanh toán,
đang tranh chấp hoặc mất khả năng thanh toán trong kỳ báo cáo theo từng đối
tượng cụ thể và lý do chủ yếu.
-Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát thực trạng tài chính và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp : Gồm một số chỉ tiêu như: Bố trí cơ cấu vốn; Tỷ
suất lợi nhuận; Tỷ lệ nợ phải trả so với toàn bộ tài sản; Khả năng thanh toán.Các
chỉ tiêu này nhằm đánh giá cơ cấu sử dụng vốn; Khả năng sinh lời; Tỷ trọng tài
sản được hình thành từ các nguồn vay, nợ phải trả; Và đánh giá khả năng thanh
toán các khoản nợ tại thời điểm báo cáo.
( Bảng thuyết minh báo cáo tài chính phần phụ lục).


16

16


II. NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
2.1.Phân tích bảng cân đối kế tốn.
2.1.1.Đánh giá khái qt tình hình tài chính.
Đánh giá khái qt tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định về tình
hình tài chính của doanh nghiệp. Cơng việc này sẽ cung cấp cho người sử dụng
thơng tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp là khả quan hay không khả
quan.
Trước hết, cần tiến hành so sánh tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn giữa
cuối kỳ với đầu năm. Bằng các này sẽ thấy được quy mô vốn mà đơn vị sử dụng
trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Cần lưu ý là số tổng
cộng của “ Tài sản” và “ Nguồn vốn” tăng, giảm do nhiều nguyên nhân nên chưa
thể biểu hiện đầy đủ tình hình tài chính của doanh nghiệp được. Như vậy, cần đi
sâu phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong “Bảng cân đối kế toán”.
-Hệ số tài trợ (hay còn gọi là hệ số tự tài trợ):
Hệ số tài trợ

Nguồn vốn chủ sở hữu
= Tổng số nguồn vốn

Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính của
doanh nghiệp, nó cho biết vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số
nguồn vốn. Chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng càng cao trong tổng số nguồn vốn và càng
cao so với kỳ trước, chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp
càng cao bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số
vốn của mình.

-Hệ số thanh tốn hiện hành:
Tổng số tài sản
Hệ số thanh toán hiện hành =
Tổng số nợ phải trả
Hệ số thanh toán hiện hành là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng
thanh toán tổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này có vai trị
17
17


quan trọng trong việc xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp . Nếu doanh
nghiệp có chỉ số này ln lớn hơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được
khả năng thanh toán và ngược lại.
-Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn:
Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn =
Tổng số nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng đáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn( phải
thanh toán trong vòng 1 năm hay 1 chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là cao
hay thấp.Nếu “Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn” xấp xỉ bằng một thì doanh nghiệp
có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình
thường hoặc khả quan. Ngược lại, thì khả năng thanh tốn nợ ngắn hạm của
doanh nghiệp càng thấp.
-Hệ số thanh toán nhanh:
Tổng số tiền và tương đương tiền
Hệ số thanh toán nhanh=
Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng
thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo
cáo.Thực tế cho thấy, nếu chỉ tiêu này > 0,5 thì tình hình thanh tốn tương đối khả

quan. Ngược lại, thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh tốn cơng
nợ. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình khơng tốt vì vốn
bằng tiền q nhiều, vòng quay vốn chậm ,làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
-Hệ số thanh toán của vốn lưu động:
Tổng số tiền và tương
Hệ số thanh toán
của vốn lưu động

=
Tổng giá trị thuần của tài
sản

18

18


Nếu chỉ tiêu này > 0,5 thì lượng tiền và tương đương tiền của doanh
nghiệp quá nhiều, bảo đảm thừa khả năng thanh tốn; cịn nếu nhỏ hơn 0,1 thì
doanh nghiệp lại không đủ tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn.
-Hệ số thanh toán nợ dài hạn:
Giá trị cịn lại của TSCĐ hình thành bằng
nguồn vốn vay dài hạn hoặc nợ dài hạn
Hệ số thanh toán
=
nợ dài hạn
Tổng số nợ dài hạn
Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ
dài hạn bằng nguồn vốn khâú hao tài sản cố định mua sắm bằng nguồn vốn vay
dài hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.

Hệ số thanh toán nợ dài hạn >=1, doanh nghiệp có khả năng thanh tốn nợ
dài hạn bằng nguồn vốn khấu hao tài sản cố định mua sắm bằng nguồn vốn vay
dài hạn, ngược lại nếu hệ số này càng nhỏ hơn 1 càng chứng tỏ khả năng thanh
toán nợ dài hạn của doanh nghiệp thấp, doanh nghiệp buộc phải dùng các nguồn
vốn khác để trả nợ.
Ngồi các chỉ tiêu trên, khi phân tích cần xem xét chỉ tiêu Vốn hoạt động
thuần( Vốn luân chuyển thuần).

Vốn hoạt động
=
thuần

Tổng giá trị thuần

của giá tri tài sản lưu động

Tổng số nợ
ngắn hạn

Một doanh nghiệp muốn không bị hoạt động gián đoạn thì cần thiết phải
duy trì một mức vốn hoạt động thuần hợp lý để thảo mãn việc thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn và dự trữ hàng tồn kho.
Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng thanh tốn
càng cao, ngược lại thì doanh nghiệp sẽ mất dần khả năng thanh toán.

19

19



2.1.2. Phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
Qua q trình phân tích này sẽ giúp cho nhà quản lý biết được nguồn vốn
mà doanh nghiệp đang sử dụng được hình thành từ nguồn tài trợ nào, có đảm
bảo cho hoạt động kinh doanh khơng. Từ đó , doanh nghiệp sẽ có những biện
pháp thích hợp để làm lành mạnh hố thị trường tài chính.
Khi phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, cần
tính ra và so sánh tổng nhu cầu về tài sản( tài sản cố định và tài sản lưu động) với
nguồn tài trợ thường xuyên( nguồn vốn chủ sở hữu hiện có và nguồn vốn vay-nợ
dài hạn). Nếu tổng số nguồn tài trợ thường xuyên có đủ hoặc lớn hơn tổng số nhu
cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này một cách hợp lý( đầu tư
vào tài sản lưu động, tài sản cố định, vào hoạt động liên doanh, trả nợ vay...),
tránh bị chiếm dụng vốn. Ngược lại, khi nguồn tài trợ thường xuyên không đáp
ứng đủ nhu cầu về tài sản tì doanh nghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử
dụng phù hợp( huy động nguồn tài trợ tạm thời hợp pháp hoặc giảm qui mô đầu
tư, tránh đi chiếm dụng vốn một cách bất hợp pháp).
Có thể khái quát nguồn tài trợ tài sản của doanh nghiệp qua sơ đồ “ Nguồn
tài trợ tài sản”.
( Sơ đồ nguồn tài trợ tài sản ở phần phụ lục).
2.1.3.Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán.
Theo quan điểm luân chuyển vốn, tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản
lưu động và tài sản cố định. Hai loại tài sản này được hình thành chủ yếu từ
nguồn vốn chủ sở hữu. Tức là:
B. NGUỒN VỐN = A. TÀI SẢN [ I + II + IV +V (2,3) +VI ] + B.TÀI SẢN (I
+II + III) (1)
Cân đối (1) chỉ là cân đối mang tính lý thuyết, nghĩa là với nguồn vốn chủ
sở hữu, doanh nghiệp đủ trang trải các loại tài sản cho các hoạt động chủ yếu mà
không phải đi vay hoặc chiếm dụng.Trong thực tế thường xảy ra một trong hai
trường hợp:
20


20


+ Vế trái > Vế phải:
Trường hợp này doanh nghiệp thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên bị
chiếm dụng.
+ Vế trái < Vế phải:
Do thiếu nguồn vốn để trang trải tài sản nên chắc chắn doanh nghiệp phải
đi vay hoặc chiếm dụng vốn từ bên ngồi.
Trong q trình hoạt động kinh doanh, khi nguồn vốn chủ sở hữu không
đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh thì doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sung
vốn kinh doanh. Loại trừ các khoản vay quá hạn thì các khoản vay ngắn hạn, dài
hạn( của ngân hàng hay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước) chưa đến
hạn trả, dùng cho mục đích kinh doanh đều được coi là nguồn vốn hợp pháp. Do
vậy, về mặt lý thuyết, lại có quan hệ cân đối (2) sau đây:
B.NGUỒN VỐN + A.NGUỒN VỐN [ I (1,2) + II ] = A.TÀI SẢN [I + II + IV
(2,3) + VI ] + B.TÀI SẢN [ I + II +III ] (2)
Cân đối (2) hầu như không xẩy ra mà trên thực tế, thường xẩy ra một trong
hai trường hợp:
+Vế trái > Vế phải:
Trong trường hợp này, do không sử dụng hết nguồn vốn nên nguồn vốn dư
thừa của doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng.
+ Vế trái < Vế phải:
Ngược với trường hợp trên, trong trường hợp này, do thiếu nguồn bù đắp
ch tài sản kinh doanh nên doanh nghiệp buộc phải đi chiếm dụng vốn.
Mặt khác, do tính cân bằng của bảng cân đối kế tốn, tổng số tài sản ln
ln bằng tổng số nguồn vốn nên cân đối (2) có thể viết lại như sau:
[A.I (1,2), II + B ]. NGUỒN VỐN + [ A.I (3,4,...,80, III ].
NGUỒN VỐN =[ A.I,II,III,IV,V (2,3), VI + B.I,II,III ] .TÀI SẢN + [A.
21


21


III,V (1,4,5) + B. IV ] . TÀI SẢN

(3)

Biến đổi cân đối (3) ta có:
[A.I (1,2),II + B ] . NGUỒN VỐN - [A.I,II,III,IV.V (2,3), VI + B.I,
II,III ] .TÀI SẢN = [A.III,V(1,4,5) + B.IV ] .TÀI SẢN - [A.I (3,4,..,8),
III ] . NGUỒN VỐN

(4)

Cân đối (4) cho thấy số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng( hoặc đi chiếm
dụng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phải thu và cơng nợ phải trả.
2.1.4. Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn hình thành tài sản .
-Phân tích cơ cấu tài sản: Cần xem xét tình hình biến động của từng khoản
mục tài sản cụ thể, qua đó đánh giá tính hợp lý của sự biến động. Chẳng hạn, với
doanh nghiệp sản xuất, khoản mục nguyên, vật liệu tồn kho phải đảm bảo đủ cho
quá trình sản xuất được liên tục, khơng thừa dẫn đến ứ đọng; cịn với doanh
nghiệp kinh doanh hàng hố thì hàng hố tồn kho phải chiếm tỷ trọng tương đối
cao trong tổng số hàng tồn kho...Chính vì vậy, khi phân tích cần phải phân tích sâu
cơ cấu tài sản lưu động mà đặc biệt là khoản phải thu và khoản hàng tồn kho cuối
kỳ so với đầu năm cả về số tuyệt đối, số tương đối. Hơn nữa, cần xem xét tỷ trọng
của từng khoản mục trong khoản nợ phải thu và hàng tồn kho trong tổng số để
đánh giá tính hợp lý của chúng.
Để tiến hành phân tích cơ cấu tài sản ta cần lập bảng “ Phân tích cơ cấu tài
sản”.

( Bảng phân tích cơ cấu tài sản phần phụ lục).
Ngồi ra, qua việc xác định cơ cấu cần rút ra và so sánh chỉ tiêu Hệ số đầu
tư.
Tài sản cố định đã và đang đầu tư
Hệ số đầu tư =
Tổng số tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung
và máy móc, thiết bị nói riêng của doanh nghiệp. Nó cho biết năng lực sản xuất và
xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp .
22

22


-Phân tích cơ cấu nguồn vốn: Cần xem xét tỷ trọng từng loại chiếm trong
tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng.Nếu nguồn vốn chủ sở hữu
chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự
đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ
nợ( ngân hàng, nhà cung cấp...) là cao. Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ
yếu trong tổng số nguồn vốn (cả về số tuyệt đối và tương đối) thì khả năng đảm
bảovề mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp.
Để tiến hành phân tích cơ cấu nguồn vốn ta cần lập bảng “Phân tích cơ cấu
nguồn vốn”.
( Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn phần phụ lục).
2.2.Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh .
2.2.1.Phân tích tổng quát báo cáo kết quả kinh doanh.
Để kiểm soát các hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp cần xem xét tình hình biến động của các khoản mục trong báo cáo kết quả
kinh doanh. Khi phân tích cần tính ra và so sánh mức và tỷ lệ biến động giữa kì
phân tích so với kì gốc trên từng chỉ tiêu trong phần I “Lãi, lỗ” của báo cáo “Kết

quả kinh doanh”. Như vậy, người phân tích sẽ biết được tình hình biến động cụ
thể của từng chỉ tiêu liên quan đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn
nữa, chúng ta cần so sánh từng chỉ tiêu trên với doanh thu thuần( coi doanh thu
thuần là gốc). Thông qua việc so sánh này, người sử dụng thơng tin sẽ biết được
hiệu quả kinh doanh trong kì của doanh nghiệp so với các kì trước là tăng hay
giảm hoặc so với các doanh nghiệp khác là cao hay thấp.
Có thể lập bảng phân tích tổng qt báo cáo “Kết quả kinh doanh”.
( Bảng phân tích tổng quát báo cáo kết quả kinh doanh phần phụ lục).
2.2.2.Phân tích phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước” của
báo cáo “Kết quả kinh doanh”.
Việc phân tích được thực hiện bằng cách so sánh cả về số tuyệt đối và
tương đối giữa cuối kì với đầu kì trên tổng số các khoản phải nộp Nhà nước cũng
23

23


như từng khoản phải nộp.Nếu cuối kì giảm so với đầu kì cả về số tuyệt đối và số
tưong đối chứng tỏ doanh nghiệp chấp hành tốt kỉ luật thanh tốn với Ngân sách
Nhà nước , khơng dây dưa, chây ì và ngược lại.Bên cạnh đó cần so sánh số phải
nộp Ngân sách Nhà nước trong kì nay với số phải nộp trong các kì trước trên
từng khoản thuế, phí, lệ phí cũng như tổng số các khoản nghĩa vụ về cả số tuyệt
đối và tương đối.
Khi phân tích có thể lập bảng “Phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ với
Ngân sách Nhà nước”.
(Bảng phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước phần phụ
lục).
2.2.3.Phân tích phần III “Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn
lại,thuế GTGT được giảm, thuế GTGT bán hàng nội địa” của báo cáo “Kết
quả kinh doanh”.

Để nắm được tình hình biến động của thuế GTGT đầu vào được khấu trừ,
đã khấu trừ, cịn được khấu trừ; được hồn lại, đã hồn lại và cịn được hồn lại;
thuế GTGT được giảm, đã giảm và còn được giảm; số thuế GTGT đầu ra phải nộp ,
đã nộp và còn phải nộp cuối kì, cần so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đốigiữa
cuối kì với đầu kì và giữa kì này với kì trước trên từng chỉ tiêu.Thơng qua sự biến
động của từng chỉ tiêu sẽ rút ra nhận xét thích hợp.Có thể lập bảng phân tích theo
mẫu sau:
( Bảng phân tích “Thuế GTGT được khấu trừ, được hồn lại, được giảm,
thuế GTGT hàng bán nội địa” phần phụ lục).

24

24


2.3.Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Khi phân tích trước hết cần tính ra và so sánh chỉ tiêu sau:
Tỷ trọng tiền tạo
từ hoạt động kinh
Tổng số tiền thuần lưu chuyển trong kỳ
=
x 100
doanh so với tổng
lượng tiền lưu
chuyển trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo tiền từ hoạt động sản xuất, kinh doanh
so với các hoạt động khác trong kì cao hay thấp. Chỉ tiêu này nếu chiếm tỷ trọng
càng lớn trong tổng lượng tiền lưu chuyển trong kì càng chứng tỏ sức mạnh tài
chính của doanh nghiệp thể hiện từ khả năng tạo tiền từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh chứ không phải ở hoạt động tài chính hay hoạt động bất thường.

Tiếp theo, tiến hành so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối giữa kì này
với kì trước trên các chỉ tiêu “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh “, chỉ tiêu “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư” và chỉ tiêu “Lưu
chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính”.Việc so sánh này sẽ cho biết được mức
độ ảnh hưởng của lượng tiềnlưu chuyển thuần trong từng hoạt động đến chỉ tiêu
“Lưu chuyển tiền thuần trong kì”.
Cuối cùng đi sâu so sánh tình hình biến động của từng mục. khoản mục
trong từng hoạt động đến lượng tiền lưu chuyển giữa kì này với kì trước. Qua đó,
nêu các nhận xét và kiến nghị thích hợp để thúc đẩy lượng tiền lưu chuyển trong
từng hoạt động.
Có thể lập bảng phân tích sau đây:
(Bảng phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ phần phụ lục).

25

25


×