Tải bản đầy đủ (.doc) (6 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (85.74 KB, 6 trang )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1. Tên sáng kiến:
Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Hoạt động giáo dục
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
- Ngày nay sự gia tăng những biểu hiện thiếu kỹ năng sống như không thể
hiện được khả năng của bản thân; khó hòa nhập; có thái độ tiêu cực khi mâu
thuẫn với bè bạn, gia đình, thầy cô giáo; lúng túng khi xử lý những tình huống
phát sinh trong cuộc sống; cách học, cách sống không khoa học, hiệu quả;…là
những biểu hiện của hầu hết học sinh ở trường trong vài năm trở lại đây. Với
thực trạng trên, trước đây, người thầy thường giáo dục học sinh bằng các biện
pháp mang tính chất áp đặt, tức là phân tích chỗ đúng chỗ sai cho học sinh biết
từ đó có hướng khắc phục, em phải thế này, em phải thế kia,...do đó, tính thuyết
phục đối tượng được giáo dục không cao. Đa phần các tiết HĐGDNGLL, sinh
hoạt lớp,…chưa đạt được mục tiêu gây hứng thú cho học sinh, giáo viên chủ
nhiệm thường biến tiết sinh hoạt lớp, HĐGDNGLL thành một tiết xét xử đối với
những vi phạm của học sinh vì không đủ thời gian để làm việc riêng. Một số tiết
có tổ chức hình thức văn nghệ hoặc thi đua với nhau nhưng còn qua loa, chỉ
dừng lại ở các em có năng khiếu, hoạt động vui chơi chưa đa dạng, chưa đi sâu
vào rèn luyện kỹ năng sống cho các em mà chỉ mang tính lồng ghép. Đặc biệt
hiện nay tình trạng học sinh bỏ học khi kết quả yếu kém, học sinh đánh nhau từ
những mâu thuẫn nhỏ, học sinh trốn tiết khi chưa thuộc bài, nghiện game, học
sinh bị kẻ xấu lôi kéo lợi dụng vào những con đường tội lỗi, học sinh đạt điểm
trung bình khá, giỏi nhưng bị khống chế các môn năng khiếu (do sự rụt rè, thiếu
tự tin,…) còn rất nhiều.


- Do vậy, với những giải pháp mới này bản thân cố gắng làm sao giúp cho
đối tượng được giáo dục biết tự nhận thức, tự học hỏi, tự trải nghiệm và tự điều
khiển hành vi của mình một cách đúng đắn để trở thành những con người phát
triển toàn diện, năng động, sáng tạo, hòa nhập cùng cộng đồng, có ích cho xã
hội.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
3.2.1. Mục đích của giải pháp:
1


Giáo dục, rèn luyện, trao dồi kỹ năng sống cho học sinh thông qua các
hoạt động ngoài giờ lên lớp.
3.2.2. Nội dung giải pháp:
Cố gắng làm sao để học sinh biết tự nhận thức, tự học hỏi và tự điều khiển
hành vi của mình một cách đúng đắn và phù hợp, xử lí tốt các tình huống mà
mình gặp phải để trở thành những con người phát triển toàn diện, năng động,
sáng tạo, hòa nhập cùng cộng đồng, có ích cho xã hội chứ không phải hành động
theo lề lối áp đặt, cứng nhắc. Cụ thể như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của sáng kiến.
- Tìm hiểu thực trạng đạo đức, kỹ năng sống của học sinh ở trường mình,
trường bạn, của lớp đang phụ trách.
- Từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp tiến hành giáo dục, rèn luyện kỹ
năng sống cho học sinh như sau:
a. Trước hết cần rèn luyện kỹ năng của một giáo viên chủ nhiệm:
- Giáo viên chủ nhiệm có sức ảnh hưởng rất lớn đối với học sinh, là đối
tượng để học sinh chia sẻ, noi gương.
- Bản thân giáo viên chủ nhiệm phải luôn rèn luyện nhân cách, tác phong
chuẩn mực trước học sinh, khéo léo trong xử phạt, khen, chê,…
- Giáo viên chủ nhiệm luôn thể hiện các kĩ năng giao tiếp đúng mực với
học sinh. Đặc biệt là kĩ năng giải quyết những khó khăn trong công tác chủ

nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm phải biết lắng nghe những thông tin phản hồi từ
phía học sinh, cùng học sinh tham gia vào các cuộc thi do trường và hội đồng
đội tổ chức để tạo thêm tinh thần hợp tác giữa thầy và trò, để giáo viên và học
sinh thêm gần gũi, hiểu nhau hơn. Từ đó học sinh cũng được rèn luyện sâu hơn
về kĩ năng hợp tác, kỹ năng đồng cảm dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
b.Thứ hai là phải nắm bắt, thống kê được đặc điểm tính cách, năng lực và
hoàn cảnh gia đình,…của từng học sinh trong lớp:
- Thông qua lập phiếu điều tra thông tin học sinh ban đầu nắm rõ hoàn
cảnh của từng học sinh để có thể thấu hiểu, lắng nghe các em.
- Thông qua các buổi sinh hoạt chung, 15 phút đầu giờ, các tiết dạy bộ
môn mình và thăm dò các giáo viên bộ môn khác để nắm rõ năng lực học tập,
biểu hiện đạo đức, tính cách của từng em để dễ dàng phân hóa đối tượng giáo
dục.
Ví dụ: các em có tính cách nhút nhát, rụt rè sẽ được xếp đều vào nhóm có các
em mạnh dạn, năng động. Từ đó các em sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của các em
năng động, người ta hành động bắt buộc mình phải hành động vậy là các em sẽ
bớt đi sự nhút nhát rụt rè, thiếu tự tin,…. Sau một vài hoạt động hợp tác giáo
viên sẽ tách riêng các nhóm nhút nhát thi đua riêng để các em này phải tự mình
chủ động hoàn thành hoạt động học tập hoặc vui chơi của nhóm mình.
c. Thứ ba là phân hóa nhóm đối tượng học sinh:
Phân nhóm theo tính cách, theo năng lực, theo hoàn cảnh gia đình,….. để
biết các em thiếu hụt kỹ năng nào và để dễ dàng có hướng phân chia nhiệm vụ
2


phù hợp khi tổ chức các hoạt động giáo dục rèn kỹ năng sống thu hút các em
tham gia tích cực từ đó mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn.
d. Thứ tư là phải thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức các
hoạt động ngoài giờ lên lớp:
- Tổ chức đa dạng hóa các hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp nhưng

vẫn bám sát mục tiêu, nội dung, chủ điểm,…
- Lựa chọn các hoạt động phù hợp giúp các em chủ động, linh hoạt, sáng
tạo tự hình thành kỹ năng sống cho chính mình.
- Gắn đổi mới hình thức với phương pháp một cách sáng tạo, kết hợp với
các phương tiện, thiết bị dạy học từ nhiều nguồn để phát huy tính tích cực, hứng
thú học sinh tham gia.
- Phải đổi mới cách đánh giá kết quả hoạt động, học tập tự rèn luyện kỹ
năng sống của học sinh để tìm hướng giáo dục rèn luyện tiếp theo cho phù hợp.
Ví dụ minh họa: DẠY KĨ NĂNG TỪ CHỐI
* Hoạt động 1: Trò chơi khởi động
- Mục đích: Tạo sự vui vẻ cho học sinh.
- Tên trò chơi: Tôi thích cái gì?
Hướng dẫn chi tiết:
- Giáo viên để rất nhiều đồ văn phòng phẩm lên sàn nhà hoặc bàn
- Cả lớp đứng thành vòng tròn
- Lần lượt từng người suy nghĩ và thể hiện sở thích của mình bằng động tác
( có thể sử dụng các phương tiện/ văn phòng phẩm mà không được dùng lời nói)
- Khi có 1 người thể hiện thì những người còn lại đoán xem bạn mình có sở
thích gì
- Cuối cùng người thể hiện nói rõ hơn về sở thích của mình
Ý nghĩa: Ngoài ý nghĩa khởi động, trò chơi này còn dùng trong giảng dạy kỹ
năng giao tiếp không lời. Học sinh cần hiểu rằng lời nói không phải là phương
tiện duy nhất
mà ngôn ngữ của cơ thể cũng rất quan trọng trong giao tiếp. Hoạt động này
cũng là hoạt động giúp mọi người có dịp nghĩ lại về sở thích của chính mình.
* Hoạt động 2: Bài tập trải nghiệm
- Chia lớp thành 3 nhóm để thảo luận tình huống sau:
Một người bạn thân của bạn rủ bạn bỏ học để đi chơi điện tử ở quán
NET, bạn không muốn đi, nhưng không muốn làm bạn ấy mất lòng. Bạn sẽ từ
chối như thế nào?

- Các nhóm đóng tiểu phẩm và trình bày tiểu phẩm trước lớp (5 phút cho
mỗi nhóm)
* Hoạt động 3: Thảo luận và dẫn dắt tới kĩ năng sống cần học
- Từng nhóm thảo luận và trình bày ý kiến đóng góp cho cách giải quyết
tình huống của mỗi nhóm
- Giáo viên cần truyền đạt với học sinh như sau: Trong cuộc sống hàng
ngày, chúng ta phải từ chối rất nhiều điều do người khác đề nghị, nhưng việc từ
chối sao cho người đề nghị không giận mình là một điều rất khó. Chúng ta phải
học cách làm điều này
3


- Kết luận:
+Từ chối không có nghĩa là chỉ nói không, mà phải làm sao để người khác
biết mình không muốn điều đó, không có cơ hội để đề nghị mình chuyện đó.
+ Khi từ chối, hãy khéo léo, mềm dẻo, không được lên lớp, dạy dỗ người ta.
+ Không hứa hẹn dịp khác, không lấy lý do lòng vòng để tránh trường hợp
người ta tiếp tục đề nghị mình ở những lần sau.
+ Phải kiên định lập trường của mình, không nên vì quá nể nang, sợ mất
tình cảm mà phải chấp nhận làm những điều mình không mong muốn.
* Hoạt động 4: Thực hành
- Tình huống 1: Bạn được cô giáo (thầy giáo) giao nhiệm vụ làm lớp phó
phụ trách học tập, bạn cảm thấy bạn không đủ năng lực để nhận nhiệm vụ này,
trong khi có nhiều bạn khác học giỏi, có thể đảm đương nhiệm vụ này tốt hơn.
Bạn từ chối cô (thầy) giáo như thế nào để họ không nghĩ bạn trốn tránh nhiệm
vụ hay kiêu căng.
- Tình huống 2: Một bạn trong lớp rủ bạn bỏ nhà vài ngày lên thành phố đi
chơi...., bạn không muốn đi, nhưng cũng không muốn tình cảm bạn bè bị sứt mẻ.
Bạn sẽ làm gì?
(Có thể nghĩ ra các tình huống khác phù hợp với đối tượng học sinh của mình

và hướng dẫn các em tự chỉnh sửa, bổ sung cho nhau để hoàn thiện kỹ năng).
e. Thứ năm là phải biết kết hợp hài hòa trong giáo dục bằng con đường tiếp
cận kỹ năng sống theo bốn trụ cột: “Học để biết, học để làm, học để chung
sống với mọi người, học để tự khẳng định mình”. Đặc biệt tiết HĐGDNGLL
chú trọng vào các “hoạt động trải nghiệm sáng tạo” ở học sinh.
- Hoạt động TNST nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách,
các năng lực tâm lý-xã hội…; giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như
phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình; làm tiền đề cho mỗi cá nhân tạo
dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này; góp phần hình thành
năng lực chủ yếu như tự hoàn thiện, tích ứng, hợp tác, giao tiếp ứng xử; có lối
sống phù hợp với các giá trị xã hội.
- Giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo giáo dục các
em học sinh những điều sau:
+ Khơi dậy tính tự lập, tinh thần đoàn kết, tinh thần trách nhiệm, yêu
thiên nhiên, môi trường trong học sinh. Học sinh từ biết lao động đến yêu lao
động.
+ Thích các hoạt động ngoài trời (cắm trại, leo núi, làm vườn…).
+ Có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội; tích cực tham gia
hoạt động tập thể, lựa chọn nghề nghiệp tương lai.
* Ví dụ: Tổ chức mô hình lớp học gắn liền với sản xuất kinh doanh:
Hàng ngày, vào buổi chiều sau khi hết giờ học, các em học sinh dành thời
gian cho việc chăm sóc vườn rau với những công việc quen thuộc như: lên
luống, gieo hạt, tưới nước, bón phân,… Để có những luống rau xanh tốt, phong
phú chủng loại và an toàn cho các bữa ăn đòi hỏi các thầy cô giáo chủ nhiệm
chủ động hướng dẫn các em tiếp thu những kinh nghiệm mùa vụ trồng rau của
người dân địa phương. Tham gia “Mô hình lớp học gắn liền với sản xuất kinh
4


doanh”, các em học sinh sẽ trang bị cho mình những kĩ năng sống cơ bản như:

kỹ năng lao động; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng sinh hoạt tập thể…
f. Thứ sáu là trong năm học này ngoài các giải pháp trên thì việc giáo dục kỹ
năng sống cần kết hợp thêm việc khuyến khích, hướng dẫn các em tham gia
cuộc thi nghiên cứu khoa học kĩ thuật lứa tuổi thanh thiếu niên nhi đồng:
- Nghiên cứu khoa học kỹ thuật (NCKH) là một hoạt động trải nghiệm
bổ ích, thiết thực, gắn liền giữa lý thuyết với thực hành và thực tiễn lao động
sản xuất.
- Cụ thể giáo viên chủ nhiệm cần phát động phong trào thi đua nghiên cứu
khoa học kĩ thuật giữa các học sinh trong lớp và giáo viên chủ nhiệm nên làm
những việc sau để hỗ trợ các em:
+ Liên tục đặt ra những câu hỏi bắt buộc học sinh phải tìm hiểu và nghiên
cứu từ nguồn sách báo, tài liệu, internet, kiến thức đã học được ở trường…
+ Giáo viên chỉ đóng vai trò là cầu nối để cùng học sinh nghiên cứu
+ Cần xác định cho học sinh đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học
hay kỹ thuật để thực hiện cho đúng quy trình nghiên cứu
+ Giúp học sinh hoàn thiện các hồ sơ, báo cáo liên quan
+ Tạo mọi điều kiện để học sinh tiếp cận các phòng thí nghiệm, các trung
tâm, cơ sở học liệu thực tế
+ Định hướng cho học sinh nghiên cứu những vẩn đề thực tế, những vấn
đề thường gặp trong xã hội
+ Giúp học sinh tự tin hơn vào bản thân, say mê hơn với nghiên cứu khoa
học; gặp gỡ bạn bè cùng chí hướng; tận mắt chứng kiến những công trình khoa
học; học được cách chấp nhận mạo hiểm; học được cách thức truyền đạt những
ý tưởng khoa học.
- Hoạt động này giúp phát huy, khích lệ, định hướng, tiếp lửa, khơi dậy
niềm đam mê nghiên cứu, sáng tạo của các em học sinh. Đặc biệt, hoạt động
nghiên cứu khoa học kỹ thuật còn rèn luyện cho các em kỹ năng tự học, tự
nghiên cứu, tự kiểm chứng kết quả bằng thực nghiệm... Mặt khác qua việc
định hướng, hướng dẫn cho học sinh nghiên cứu, giáo viên được nâng cao
năng lực của bản thân về những kiến thức có liên quan đến các đề tài nghiên

cứu khoa học.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Với giải pháp này có thể áp dụng tốt cho học sinh THCS, tuy nhiên trong
một số trường hợp cụ thể có thể áp dụng tốt cả cho học sinh tiểu học, THPT, các
cấp học khác và không chỉ qua hoạt động ngoài giờ lên lớp mà có thể thông qua
việc giảng dạy bộ môn.
3.4. Hiệu quả lợi ích thu được do áp dụng giải pháp:
* Năm học 2014 – 2015:
HỌC LỰC
GIỎI
KHÁ
TB
21%
43,9%
31,7%

YẾU
3,4%

HẠNH KIỂM
TỐT
KHÁ
97,6%
2,4%
5


* Năm học 2015 – 2016:
- Số học sinh đánh nhau vi phạm kỉ luật nhà trường, cãi cọ gây mâu
thuẫn lớn: 0 trường hợp.

- Có học sinh đạt kết quả yếu trong học kì I do khống chế một số môn
nhưng không có em nào chán nản có ý định bỏ học.
- 100% học sinh đều tích cực tham gia vào các hoạt động vui chơi tập
thể.
- Tỉ lệ học sinh bỏ học là : 0 %
*Năm học 2016 – 2017, năm 2017 - 2018 : không có chủ nhiệm lớp nên
không có kết quả cụ thể nhưng những học sinh mà tôi có tham gia giảng dạy,
thông qua việc áp dụng rèn kỹ năng sống qua môn học đa phần đều có ý thức
học tập bộ môn tốt, yêu thích bộ môn, hứng thú tham gia các hoạt động học tập,
mạnh dạn trước tập thể khi trình bày vấn đề của bài học,....
* Năm học 2018 – 2019(học kì I): kết quả như sau:
- Em Lê Anh Kiên: trí lực phát triển chậm hơn các bạn trong lớp(gần
như học sinh hòa nhập cộng đồng); biểu hiện: ít giao tiếp với các bạn trong lớp,
ngủ nhiều trong lớp học, truyền đạt vấn đề gì với em ấy phải truyền đạt nhiều
lần, học rất yếu, khả năng tiếp thu kém dẫn đến bạn bè không thích chơi chung,
lánh xa hoặc chọc phá. Đến cuối học kì I em đã hòa đồng với các bạn trong lớp,
tham gia tích cực các hoạt động của lớp, hạn chế ngủ trong lớp còn bạn bè thì
nhiệt tình giúp đỡ em ấy.
- Em Hồ Nguyễn Quốc Huy: cha mẹ bỏ từ nhỏ, sống với bà nội già,
thuộc hộ nghèo; biểu hiện: quậy phá bạn bè, thường xuyên nói lời thô tục, phản
ứng không lễ phép khi thầy, cô rày, học yếu thì giờ đây em ngoan hơn, lễ phép
hơn, biết chia sẻ khó khăn của mình với bạn bè, thầy cô,...
- Em Đỗ Tuấn Kiệt: cha mẹ đi làm ăn xa, ở với bà ngoại già; biểu hiện:
quậy phá, học yếu, hay trốn học do nghiện game,...thì hiện tại đã khắc phục việc
trốn học, giảm game, biết phụ giúp bà, biết học hỏi các bạn và tham gia tốt
phong trào của Đội khi được phân công,...
- Một số đối tượng học sinh khác trong lớp thì có biểu hiện lớn trước
tuổi, sống ảo, chú trọng mạng xã hội: facebook, zalo,...thì sau việc áp dụng
khuyến khích thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật các em (đặc biệt là các học sinh
nam) đã hạn chế thời gian sử dụng trang mạng xã hội vả chuyển sang youtube

tham khảo, học hỏi các đoạn clip về nghiên cứu khoa học, nghĩ ra những ý
tưởng riêng cho mình như: sử dụng cối xay thịt để chế ra máy xay rau, cỏ, cám,
hèm trộn lẫn thành viên thức ăn cho gà,....
- 100% học sinh đều tích cực tham gia vào các hoạt động vui chơi tập
thể.
- Tỉ lệ học sinh bỏ học là : 0 %
Những kết quả trên đây tuy chưa đạt hiệu quả cao nhất nhưng cũng
xem là tương đối khả quan và đáng mong đợi trong năm học này.
3.5. Tài liệu kèm theo gồm: không
6



×