Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

(Luận văn thạc sĩ) vận dụng tư tưởng hồ chí minh về tôn giáo để giải quyết vấn đề đạo tin lành từ năm 2001 đến nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (636.71 KB, 88 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------

LÊ THỊ VÂN SƠN

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ TƠN GIÁO ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
ĐẠO TIN LÀNH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------***---------------

LÊ THỊ VÂN SƠN

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
TƠN GIÁO ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
ĐẠO TIN LÀNH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Đỗ Quang Hƣng


Hà Nội, 2015


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành chƣơng trình học và luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự
giảng dạy và giúp đỡ nhiệt tình của q thầy cơ khoa Khoa học chính trị,
Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trƣớc hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến GS.TS Đỗ Quang Hƣng đã
dành rất nhiều tâm huyết, thời gian, công sức hƣớng dẫn giúp tơi hồn thành
luận văn cao học.
Bên cạnh đó, tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trƣờng Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và q thầy cơ khoa
Sau đại học đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tơi hồn thành tốt khóa học.
Mặc dù đã cố gắng hết năng lực của mình để hồn thiện luận văn
nhƣng khơng thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nên tơi rất mong nhận
đƣợc những góp ý q báu của quý thầy cô, anh chị và các bạn.

Hà Nội, tháng 09 năm 2015
Học viên

Lê Thị Vân Sơn

1


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tơi. Các
thơng tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với
các đề tài khác.

Học viên thực hiện luận văn

Lê Thị Vân Sơn

2


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ............................................................................ 5
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .................................................................... 6
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ......................................... 9
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .......................................... 9
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 10
6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỂ TÀI ..................................................................... 10
7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI ........................................................................ 10
Chƣơng 1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TƠN GIÁO ........................ 11
1.1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo. .................... 11
1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo .................................................. 15
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TIN LÀNH Ở
VIỆT NAM TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH. ......... 45
2.1. Giải quyết vấn đề Tin lành từ năm 2001 đến nay. .......................... 45
2.2.1. Chỉ thị 01(2005) về đạo Tin lành ...................................................... 48
2.2.2. Giải quyết vấn đề Tin lành ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay. .... 55
2.2.3. Những thành tựu và một số vấn đề đặt ra ..................................... 66
2.3.Giải pháp vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Tôn giáo để giải
quyết vấn đề đạo Tin lành Việt Nam. ...................................................... 72
2.3.1.Việc theo đạo, truyền đạo và hoạt động tôn giáo (sinh hoạt động,
truyền đạo và quản đạo) phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật. ............ 73
2.3.2. Tập trung phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống vật chất tinh

thần của đồng bào. .................................................................................. 75
2.3.3. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền các chủ trương, chính
sách pháp luật của Nhà nước về tơn giáo. .............................................. 76

3


2.3.4. Kiện toàn và phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở, các tổ chức
quần chúng và vai trị của trưởng làng, già bản, trưởng thơn........................ 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82

4


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong sự nghiệp đổi mới đất nƣớc hiện nay ở nƣớc ta, Đảng khẳng
định: lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tƣ tƣởng,
kim chỉ nam của Đảng và toàn thể dân tộc. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống lý luận toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam. Hồ Chí Minh tuy đã đi xa chúng ta nhƣng những gì Ngƣời để lại vẫn
còn mãi với thời gian, khẳng định sự trƣờng tồn của giá trị tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Vấn đề tơn giáo nói chung và mối quan hệ tơn giáo nói riêng là vấn đề
mang tính nhạy cảm, nóng bỏng trong đời sống chính trị và xã hội, là vấn đề
khó giải quyết. Trong tình hình nƣớc ta hiện nay, các thế lực thù địch trong và
ngoài nƣớc đang lợi dụng, núp trong chƣơng trình “diễn biến hịa bình” “bạo
loạn lật đổ” không ngừng chống phá Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam. Lợi dụng
sự đa dạng về tôn giáo cũng nhƣ dân tộc, chúng âm mƣu chia rẽ tôn giáo
trong lịng dân tộc, lợi dụng tơn giáo, dùng tơn giáo - một “thủ đoạn chính trị”

để chống phá Nhà nƣớc. Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI đã nêu rõ: “Đảng và
Nhà nƣớc ta, trƣớc sau nhƣ một, thực hành chính sách tự do tín ngƣỡng. Lãnh
đạo và giúp đỡ đồng bào theo tơn giáo, đồn kết xây dựng cuộc sống mới và
hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc, cảnh giác, kiên quyết và kịp thời chống lại
âm mƣu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động chia rẽ đồng bào theo tôn
giáo này với đồng bào theo tôn giáo khác” 1. Hơn nữa, trƣớc luận điệu xuyên
tạc của các thế lực thù địch một cách thâm độc và tinh vi, việc nghiên cứu tƣ
tƣởng đại đoàn kết dân tộc nói chung và đồn kết lƣơng giáo nói riêng là việc
cần thiết để khơi dậy tình đồn kết dân tộc, khẳng định tình đồn kết đó bền
chặt lâu dài, giúp chúng ta chiến thắng kẻ thù.
1

Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.117.

5


Là ngƣời tiên phong trong cách tiếp cận văn hóa đối với tơn giáo Hồ
Chí Minh đã xử lý thành cơng nhiều vấn đề tơn giáo, góp phần củng cố tăng
cƣờng khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hơp cho sự nghiệp
cách mạng
Hơn thế nữa, trong suốt cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, Ngƣời
đã có những quan hệ với các tơn giáo, những ngƣời đứng đầu các tơn giáo
cũng nhƣ tín đồ, ai cũng nhƣ ai, khơng phân biệt tơn giáo, tín ngƣỡng nào. Hồ
Chí Minh giải quyết vấn đề tơn giáo một cách khéo léo, chân tình. Trong
những quan hệ của Hồ Chí Minh với tôn giáo nhƣ Công giáo, Phật giáo… và
Tin lành có những giá trị lý luận và thực tiễn to lớn. Hiện nay, việc giải quyết
vấn đề tôn giáo ở Việt Nam có những diễn biến phức tạp, trong đó có vấn đề
Tin lành phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây.
Vì vậy, việc nghiên cứu ,vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo

để giải quyết vấn đề đạo Tin lành đặc biệt là từ năm 2001 đến nay, góp phần
giải quyết tốt vấn đề Tin lành, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; khẳng định
giá trị lý luận và thực tiễn cấp bách của đề tài trong bối cảnh hiện nay và phục
vụ tốt cho việc học tập. Từ những lý do cấp thiết trên tôi đã chọn đề tài: “Vận
dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo để giải quyết vấn đề đạo Tin lành
từ năm 2001 dến nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo nói chung và với từng
tơn giáo cụ thể nói riêng đã có nhiều cơng trình nghiên cứu. Cụ thể:
“Hồ Chí Minh về vấn đề tơn giáo, tín ngưỡng”, của Viện nghiên cứu
Tơn giáo thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Nxb
Chính trị Quốc gia, 1998.Cuốn “ Lịch sử Hội Thánh Tin lành Việt Nam
(1911-1956) ghi dấu 100 năm Tin lành trên đất Việt ( 1911-2011)”, Nxb Tôn
giáo, 2010 của Mục sƣ Lê Hoang Phu. Đây là những tài liệu cung cấp nguồn
tƣ liệu tin cậy cho những ai nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo.
6


Tài liệu trình bày một cách tồn diện, mang lại cho bạn đọc cái nhìn tổng
quan tƣ tƣởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh về tơn giáo.
Một số cuốn sách “Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh”, Nxb Lao
động, Hà Nội, 1999: tác giả Đỗ Quang Hƣng cũng có đề cập đến “Vấn đề tơn
giáo tín ngƣỡng trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
dân tộc, tơn giáo và đại đồn kết trong cách mạng Việt Nam”, Nxb QĐND,
Hà Nội, 2003 do Đỗ Quang Hƣng chủ biên đã nghiên cứu, đề cập tới nhiều
khía cạnh, nhiều vấn đề, góc độ tiếp cận khác nhau trong tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về tơn giáo nói chung.
Ngồi các cuốn sách nghiên cứu của các tác giả kể trên có thể kể đến
các bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí: Nguyễn Đức Lữ, “Tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về đồn kết lƣơng giáo”, Tạp chí lịch sử Đảng, 3/1995; Nguyễn Ngọc

Hà,“Tìm hiểu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đồn kết tơn giáo”, Tạp chí Lịch sử
Đảng, 1/1996; Lê Đại Nghĩa, “Về tƣ tƣởng đoàn kết lƣơng giáo của Chủ tịch
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu tơn giáo, số 1/2009; Trần Duy Hiển
“Đồn kết tơn giáo trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số
783/2008…
Khi nghiên vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo để giải quyết
vấn đề đạo Tin lành, các cơng trình nghiên cứu có đề cập một cách chung
chung mối quan hệ này. Các cơng trình phần lớn là đề cập đến vấn đề tơn
giáo, dĩ nhiên khi nói đến tơn giáo trong đó có đạo Tin lành. Tuy nhiên, để
nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ này còn rất hạn chế chƣa có nhiều tài
liệu nghiên cứu về việc vận dụng tƣởng Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề Tin
lành trong một giai đoạn cụ thể nhƣ luận văn muốn đề cập.
Cơng trình nghiên cứu của Đỗ Quang Hƣng chủ biên (2003), Tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân tộc, tơn giáo và đại đồn kết trong cách mạng Việt Nam,
Nxb QĐND, Hà Nội. Cuốn Nghiên cứu tôn giáo: nhân vật và sự kiện, Nxb
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010. Đặc biệt các cơng trình nghiên

7


cứu chuyên sâu: Nguyễn Ái Quốc và đạo Tin lành, Tạp chí Cơng tác Tơn giáo,
số 5(81), năm 2013. Hồ Chí Minh với đạo Tin Lành, Tạp chí Khoa học Xã hội
số 5 (177)- 2013. Đạo Tin lành ở Đông Bắc Á: Những kịch bản giải quyết
xung đột với văn hóa bản địa, Tạp chí khoa học xã hội số 5(66)- 1013. Cơng
trình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Xn chủ biên: Góp phần tìm hiểu đạo
Tin lành ở Việt Nam,Viện thơng tin khoa học; Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội (1997), Đạo Tin lành ở Việt Nam – thực trạng và xu
hướng, Viện khoa học công an, Hà Nội (1997), đây thực sự là những cơng
trình nghiên cứu về vấn đề tơn giáo có giá trị tham khảo rất lớn đối với tác
giả. Các bài viết đã đƣa ra tình hình đạo Tin lành nói chung, mối quan hệ giữa

Hồ Chí Minh với đạo Tin lành, những vấn đề về đạo Tin lành đặc biệt là khu
vực Đông Bắc Á và Việt Nam, tuy nhiên bài viết chỉ đề cập trong một giai
đoạn nhất định.
Các công trình nghiên cứu trên đây là nguồn tƣ liệu quý giá cho tôi và
những ai nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề tơn giáo nói chung và
với đạo Tin lành nói riêng. Nhƣng phần lớn các cơng trình đề cập một cách
chung chung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh với các tôn giáo, hay một tôn giáo cụ thể
nhƣ Cơng giáo, Phật giáo… nhƣng ít đề cập đến vấn đề đạo Tin lành. Thoảng
qua có một số ý kiến song đó là những ý kiến đơn lẻ, trong các bài viết ngắn,
phân tán hay những ý kiến đánh giá, nhìn nhận vấn đề dƣới những góc độ tiếp
cận khác nhau của từng tác giả. Do vậy việc nghiên cứu vấn đề này cần phải
nhìn nhận, tiếp cận khơng chỉ dƣới góc độ triết học, lịch sử, xã hội học… mà
phải nhìn nhận dƣới nhiều góc độ tiếp cận, tiếp tục mở rộng và đi sâu hơn nữa.
Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hƣởng khá sâu sắc đến
đời sống chính trị, văn hố, xã hội… Chính sách tơn giáo của Đảng và Nhà
nƣớc Việt Nam đƣợc xây dựng trên quan điểm cơ bản của học thuyết MácLênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tín ngƣỡng, tơn giáo và căn cứ vào đặc
điểm tín ngƣỡng, tơn giáo ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng

8


công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, lẽ dĩ nhiên khi vận
dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề tơn giáo cần nhìn nhận mối quan hệ
của Ngƣời với từng tôn giáo cụ thể ra sao, để từ đó có cái nhìn đúng đắn, phù
hợp với điều kiện lịch sử.
Từ góc độ chính trị học, việc nghiên cứu vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh để giải quyết vấn đề đạo Tin lành một vấn đề mới mẻ, ít đƣợc nghiên
cứu. Đặc biệt là ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ này trong bối cảnh
chính trị Việt Nam hiện nay, là một việc làm khoa học có tính cấp thiết.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích
Làm rõ q trình vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo để giải
quyết vấn đề đạo Tin lành ở Việt Nam từ đó kiến nghị những giải pháp chủ
yếu nhằm giải quyết tốt hơn nữa những vấn đề đạo Tin lành ở Việt Nam theo
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và nội
dung cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo.
- Làm rõ q trình vận dụng những tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
đề giải quyết vấn đề Tin lành ở nƣớc ta từ năm 2001 đến nay.
- Xác định những vấn đề đặt ra và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả giải quyết vấn đề đạo Tin lành ở nƣớc ta theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo nói chung, về đạo Tin lành nói
riêng việc vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề đạo Tin lành
ở Việt Nam.

9


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu:
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo thể hiện trong các tác phẩm của
Ngƣời bao gồm cả các tác phẩm mới sƣu tầm đƣợc, chƣa cơng bố chính thức.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến nay
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, Nghị quyết
của Đảng, Nhà nƣớc ta về tơn giáo và cơng tác tơn giáo.

Luận văn cịn kế thừa kết quả nghiên cứu về tơn giáo nói chung và đạo
Tin lành nói riêng của một số cơng trình đã đƣợc công bố.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng các
phƣơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
kết hợp phƣơng pháp lịch sử và logic, phƣơng pháp phân tích tổng hợp,
phƣơng pháp đối chiếu, so sánh vv…
6. ĐĨNG GĨP CỦA ĐỂ TÀI
- Chỉ ra cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo và nội dung
cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo.
- Giải quyết tốt q trình vận dụng những tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn
giáo đề giải quyết vấn đề Tin lành ở nƣớc ta từ năm 2001 đến nay.
- Đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề đạo
Tin lành ở nƣớc ta theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục cơng trình
nghiên cứu gồm có 2 chƣơng và 5 tiết:

10


Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TƠN GIÁO
1.1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo.
Hồ Chí Minh, Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hịa, lãnh tụ xuất
sắc của phong trào cơng nhân và cộng sản quốc tế, Chủ tịch Đảng Công sản
Việt Nam luôn đứng vững trên lập trƣờng của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn
giáo và vận dụng tôn giáo một cách sáng tạo, linh hoạt phù hợp với thực tiễm
cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh là ngƣời Việt Nam đầu tiên soạn thảo và
ban bố sắc lệnh tôn trong tự do tín ngƣỡng, tơn giáo của nhân dân Việt Nam.
Ngƣời ln tơn trọng tự do tín ngƣỡng của nhân dân không cả trong tƣ tƣởng

mà cả trong hành động cụ thể. Với Hồ Chí Minh, đại đồn kết dân tộc, trong
đó có đại đồn kết giữa những ngƣời có tín ngƣỡng và những ngƣời khơng có
tín ngƣỡng, giữa những ngƣời có tín ngƣỡng khác nhau, tất cả đều vì mục tiêu
độc lập dân tộc vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển và hồn thiện của
mỗi cá nhân con ngƣời Việt Nam vì sự phát triển của dân tộc.
Vấn đề tơn giáo có rất sớm trong tƣ tƣởng của Nguyễn Ái Quốc, chúng
ta đều biết rằng từ đầu 1921, mối quan tâm lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc là
mở rộng các hoạt động trong Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp và bắt
đầu truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về trong nƣớc. Nhƣng có điều đặc biệt là,
bên cạnh việc gắn bó với thợ thuyền , Hội những người Việt Nam yêu nước ở
Pháp, Nguyễn ái Quốc cũng dành một phần tâm lực của mình cho “vấn đề tôn
giáo”. Cũng từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc thu thập tƣ liệu để viết cuốn sách
chuyên khảo nhất đời mình là Bản án chế độ thực dân Pháp, sau này đƣợc in
ở Paris, 1925. Trong cuốn sách đó , chƣơng X có tên là Chủ nghĩa giáo hội,
hồn tồn đƣợc dành cho việc nghiên cứu vao trò của đạo Công giáo, đặc biệt
là tầng lớp giáo sỹ (chủ yếu là giáo sỹ thuộc Hội Thừa sai Paris, Pháp). Đó

11


cũng là chƣơng sách “kinh điển” về mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực dân và
Giáo hội, khi nó bị lợi dụng trong những mƣu đồ chính trị thuộc địa.
Cuối thế kỷ XIX phong trào yêu nƣớc Vệt Nam, tiêu biểu là phong trào
Cần Vƣơng dƣới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nƣớc chống thực dân Pháp
đã phát triển rầm rộ trong cả nƣớc, kéo dài gần 20 năm. Những phong trào vũ
trang yêu nƣớc của nhân dân ta bị dập tắt trong biển máu. Trong khi dó tình
hình tơn giáo Việt Nam cũng đang diễn ra phức tạp, mâu thuẫn giữa ngƣời có
đạo và ngƣời khơng có đạo cũng ngày càng trở nên gay gắt.
Trong khi đó các thế lực xâm lƣợc không ngừng lợi dụng vấn đề tơn
giáo nhằm thực hiện mƣu đồ chính trị của mình. Chúng chia rẽ khối đại đồn

kết dân tộc, chia rẽ những ngƣời có đạo và khơng có đạo, tun truyền chống
phá cách mạng, chống lại cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Từ bối
cảnh lịch sử đó, nhận thấy đoàn kết là một sức mạnh cho sự thắng lợi của
cách mạng bên cạnh các nhân tố khác, cách mạng Việt Nam buộc phải giải
quyết vấn đề tôn giáo, nhằm đoàn kết toàn dân cùng tham gia kháng chiến,
trong đó có vấn đề đạo Tin lành.
Các tơn giáo đƣợc truyền vào Việt Nam qua nhiều con đƣờng khác
nhau. Hai tôn giáo Công giáo và Tin lành đƣợc truyền vào Việt Nam là do các
giáo sĩ, thừa sai ngƣời nƣớc ngoaì vào. Các hình thức truyền giáo của hai tôn
giáo này đều gắn với liền với các thƣơng nhân ngƣời nƣớc ngoài. Đạo Tin
lành đƣợc truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII qua các mục sƣ tuyên úy
hoặc các tín đồ là thƣơng nhân ngƣời Pháp, Hà Lan, Anh. Nhân vật quen biết
đầu thế kỷ XIX là Jean Baptiste Chaigneau, một trong những cố vấn cho Gia
Long ở Huế đồng thời cũng là tín đồ của đạo Tin lành.
Bản thân Hồ Chí Minh trƣớc các vấn đề của dân tộc, ngƣời ln có tƣ
tƣởng về vấn đề dân tộc và tôn giáo, về độc lập dân tộc và quyền tự do tôn
giáo. Từ những hiện thực cách mạng Ngƣời quyết định đi sang phƣơng Tây

12


để tìm hiểu nền văn minh Pháp… Nhờ có ý muốn ra nƣớc ngồi để tìm hiểu
nƣớc Pháp về giúp dân, giúp nƣớc nhà, cứu lấy giống nịi …chính vì thế mà
chƣa đầy 20 tuổi ngƣời thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đánh giá đƣợc lập
trƣờng yêu nƣớc của những ngƣời đƣơng thời, sau 30 năm bôn ba trên thế
giới Ngƣời đã đi qua nhiều nƣớc Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Mỹ Latinh, tìm
hiểu về cuộc sống của ngƣời dân các nƣớc , Ngƣời đã có cái nhìn tồn diện về
ngƣời dân lao động: Nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn và chủ nghĩa đế
quốc ở đâu cũng là thù. Chính điều đó đã hình thành ở con ngƣời Hồ Chí
Minh một tƣ tƣởng đồn kết nhân dân lao động trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế

với một mong muốn tột cũng là đất nƣớc đƣợc độc lập, nhân dân đƣợc tự do
khỏi xiềng xích nơ lệ.
Bên cạnh đó Chủ tich Hồ Chí Minh là ngƣời đã kế thừa một cách sáng
tạo và linh hoạt quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin
về vấn đề tôn giáo và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh có hiểu
biết sâu sắc về vấn đề tơn giáo cùng với tình hình phức tạp và nhạy cảm của
nó. Ngƣời cho rằng hoạt động lợi dụng tơn giáo của các giai cấp thống trị để
áp bức nhân dân để bảo vệ lợi ích của chúng là vấn đề mang tính phổ biến
trong xã hội có giai cấp ở những thời điểm lịch sử khác nhau. Nhận thức rõ
vấn đề kẻ địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nƣớc ta. Trên cơ sở
vạch ra những hành vi lợi dụng tôn giáo của thực dân, đế quốc và các thế lực
phản động với nhiều hình thức rất tinh vi khác nhau, ngƣời tìm hiểu về các
tơn giáo, lý giải những nguyên nhân cơ bản của tình hình đó. Đồng thời đề ra
đƣờng lối chính sách và phƣơng pháp giải quyết vấn đề tôn giáo theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin đối với tất cả các tơn giáo trong đó có đạo
Tin lành một tơn giáo vô cùng non trẻ ở Việt Nam.

13


Việt Nam là dân tộc đa tơn giáo, tín ngƣỡng. Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng, Đảng và Nhà nƣớc ta ln khẳng định chủ trƣơng, chính sách
nhất qn là tơn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, tơn giáo của nhân
dân. Các tơn giáo ln đồn kết, đồng hành cùng dân tộc, thực hiện phƣơng
châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Sự thật là nhƣ vậy, song vẫn còn những ý kiến
trái chiều, phản ánh sai lệch tình hình tơn giáo ở Việt Nam.
Xâu chuỗi mọi vấn đề, có thể thấy rằng, trong lịch sử của dân tộc ta,
việc lợi dụng vấn đề tín ngƣỡng, tơn giáo để phục vụ cho mƣu đồ xâm lƣợc
hoặc gây mất ổn định đất nƣớc là việc làm khơng cịn lạ lẫm gì. Núp dƣới
chiêu bài “tự do tôn giáo”, các thế lực thù địch cố tình phớt lờ những thành

tựu của Việt Nam về cơng tác tơn giáo; tìm mọi cách gây hiềm khích, chia rẽ
giữa các nhóm, hệ phái tơn giáo ở trong nƣớc; gây mâu thuẫn giữa những
ngƣời có tín ngƣỡng, tơn giáo và khơng có tín ngƣỡng, tơn giáo, giữa đồng
bào có đạo với Đảng, Nhà nƣớc, Quân đội và Cơng an. Ngồi ra, họ cịn ra
sức tài trợ hoạt động truyền đạo trái pháp luật nhằm gây ra các “điểm nóng”
về chính trị - xã hội, tạo cớ để các thế lực phản động bên ngoài can thiệp vào
cơng việc nội bộ, phá hoại chính sách đại đồn kết dân tộc.
Vì vậy nghiên cứu về tơn giáo cũng nhƣ vận dụng tƣ tƣởng của Hồ Chí
Minh để giải quyết vấn đề tôn giáo là một việc làm vô cùng cần thiết và cấp
bách luôn đƣợc Đảng và nhà nƣớc ta quan tâm và đƣa ra những phƣơng
hƣớng giải quyết đúng đắn, khoa học và kịp thời. Thông qua việc nghiên cứu
cũng giúp ta có đƣợc những nhận định chính xác, khoa học, để có cái nhìn
đúng đắn trong bối cảnh các tôn giáo ở Việt Nam đang phát triển rất đa dạng
và phức tạp, từ đó hạn chế những mặt khơng tích cực sao cho phù hợp với
điều kiện phát triển của Việt Nam.
Tất cả những gì Hồ Chí Minh viết và nói và ứng xử với tơn giáo, chung
quy lại là nhằm giác ngộ đại đa số đồng bào các tơn giáo và đồn kết tồn dân

14


thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy có thể nói đồn kết giữa
các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau , giữa đồng bào có đạo và những
ngƣời khơng theo tơn giáo là một truyền thống q báu của dân tộc ta. Tƣ
tƣởng đồn kết lƣơng giáo, mối quan hệ của Hồ Chí Minh với các chức sắc
tơn giáo và đồng bào có đạo là thể hiện sự tôn trọng con ngƣời và vấn đề tơn
giáo để thực hiện chính sách đại đồn kết dân tộc. Việc thực hiện đúng đắn và
sáng tạo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo nói chung và đồn kết lƣơng giáo
nói riêng có ý nghĩa khơng chỉ cho hơm nay mà cho cả tƣơng lai, khơng
những có ý nghĩa trong nƣớc mà cịn có ý nghĩa trong nƣớc mà cịn có ý nghĩa

quốc tế. Bởi những tƣ tƣởng đó của Ngƣời chứa đựng sự ƣớc mong về một
nền hịa bình, khoan dung và đầy tính nhân văn cao cả- những giá trị lớn mà
nhân loại đang vƣơn tới.
1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tơn giáo
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tín ngƣỡng, tơn giáo là sự vận dụng sáng tạo
quan điểm mácxít về tín ngƣỡng, tơn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam
nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Tƣ tƣởng này đƣợc xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc
điểm văn hóa Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tơn giáo, các tín
ngƣỡng, tơn giáo có lịch sử hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu
hƣớng hòa đồng, tồn tại đan xen, ảnh hƣởng lẫn nhau.
Ở Việt Nam khơng có xung đột, chiến tranh tơn giáo. Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh, trong đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc, dân tộc Việt Nam đã tạo
nên hệ giá trị truyền thống vơ cùng q báu, trong đó yêu nƣớc là giá trị hàng
đầu. Trong lịch sử dân tộc đã từng có sự đồng điệu giữa đức tin tơn giáo và
lịng u nƣớc, Trần Nhân Tơng vừa là ông vua yêu nƣớc có công lãnh đạo
quân dân ta hai lần đánh thắng quân Nguyên, vừa là nhà thiền học tiêu biểu
của thiền phái Trúc Lâm. Sự đồng điệu ấy đã góp phần to lớn tạo nên sức

15


mạnh đại đoàn kết dân tộc trong suốt cuộc đấu tranh giữ nƣớc và dựng nƣớc.
Kế thừa truyền thống ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, lịng u
nƣớc và đức tin tơn giáo khơng có gì mâu thuẫn, trái lại cịn gắn bó chặt chẽ
với nhau. Một ngƣời dù theo tơn giáo nào thì trƣớc hết ngƣời đó phải là cơng
dân, có nghĩa vụ với dân tộc, đất nƣớc.
Nhƣ vậy, đặc điểm văn hóa dân tộc nói chung, truyền thống yêu nƣớc
nói riêng là cơ sở thực tiễn của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách tơn giáo.
Thực chất tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chính sách tơn giáo là nhằm xây

dựng, củng cố khối đại đồn kết tồn dân, vì mục tiêu dân giàu nƣớc mạnh,
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chính sách tơn giáo theo tƣ tƣởng của
Ngƣời, thể hiện tính nhất qn, lâu dài, thực sự tơn trọng tín ngƣỡng, tơn
giáo; thái độ mềm dẻo, khéo léo trong việc giải quyết các vấn đề tôn
giáo. Trong "Tám điều mệnh lệnh" của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng
hịa ghi rõ: Chính phủ, qn đội và đồn thể phải tơn trọng tự do tín ngƣỡng,
phong tục tập qn của đồng bào.
Nói chung tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về Tơn giáo thể hiện ở những
điểm sau
* Tƣ tƣởng đoàn kết lƣơng giáo
Là tƣ tƣởng mang tính tồn diện nhất thể hiện cả trong kinh tế, chính
trị, văn hóa xã hội. Ngƣời từng nói ” phải đồn kết chặt chẽ giữa đồng bào
lƣơng và đồng bào tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống ấm no, xây dựng tổ
quốc”. Phải tập hợp tất cả các quần chúng trong các hình thức mặt trận nhƣ
Mặt trận phản đế Đông Dương, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt…với
các tổ chức hội đồn như Cơng giáo cứu quốc, Phật giáo cứu quốc, Cao Đài
cứu quốc…Đồng bào và chiến sỹ cả nƣớc phải quan tâm và chăm sóc cho
cuộc sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tơn giáo. Đồng thời những
ngƣời có tín ngƣỡng phải đặt lợi ích dân tộc, lợi ích tồn dân lên trên hết, phải

16


tơn trọng quyền tự do tín ngƣỡng và khơng tự do tín ngƣỡng của nhân dân;
khắc phục mọi mặc cảm, định kiếm và chống âm mƣu chia rẽ lƣơng- giáo của
bọn phản động. Đồng thời phỉa biết phân biệt nhƣ cầu tín ngƣỡng chân chính
của đồng bào có đạo với việc lợi dụng tín ngƣỡng, tơn giáo của các phần tử
phản động. Mặt khác để thực hiện hịa bình và đồn kết tơn giáo phải chú ý kế
thừ giá trị nhân bản của tôn giáo, trân trọng những ngƣời thành lập các tôn
giáo lớn, tranh thủ giáo sỹ, quan tâm đến giáo dân;độ lƣợng vị tha với những

ngƣời lỗi lầm; đấu tranh cƣơng quyết với bọn phản động lợi dụng tơn giáo
chống phá cách mạng.
Tƣ tƣởng của ngƣời về đồn kết lƣơng giáo ln chiếm một vị trí quan
trọng trong hệ thống di sản lý luận mà Ngƣời để lại cho toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta.
Theo Ngƣời đoàn kết tôn giáo đƣợc thể hiện trên một số nội dung sau:
Đồn kết tơn giáo đƣợc xây dựng trên cơ sở kết hợp đúng đắn các lợi
ích cơ bản của cơng dân trong xã hội làm mẫu số chung.
Có thái độ ứng xử mềm dẻo, tế nhị với các chức sắc tơn giáo, quan tâm
cuộc sống đời thƣờng của các tín đồ.
Hồ Chí Minh trên cơ sở nhận thức thực tiễn đời sống các tôn giáo Việt
Nam và các yêu cầu cách mạng đã xây dựng tình cảm đồn kết giữa những
ngƣời theo các tôn giáo khác nhau; chấp nhận tất cả mọi ngƣời khơng cùng tín
ngƣỡng tơn giáo. Đó là nét độc đáo và thiên tài của Hồ Chi Minh. Nó thể hiện
lịng nhân ái, bao dung, hịa hợp trong nhân cách của Ngƣời. Nhờ đó mà đã
tránh đƣợc tình trạng các tôn giáo đấu tranh với nhau để tranh giành ảnh
hƣởng gây mất ổn định xã hội và gây khó khăn cho cách mạng, tạo điều kiện
cho các tơn giáo tham gia vào mặt trận đoàn kết chung, chiến đấu giải phóng
tổ quốc và xây dựng đời sống ấm no cho nhân dân mà vẫn đảm bảo đƣợc đức
tin cho những ngƣời theo các tôn giáo. Nhờ vậy, với mục tiêu chính nghĩa

17


đúng đắn và phƣơng pháp mềm dẻo linh hoạt, Hồ Chí Minh đã đồn kết đƣợc
những ngƣời có các tơn giáo khác nhau tạo thành sức mạnh đại đoàn kết tơn
giáo cũng là góp phần làm nên đại đồn kết dân tộc để tiến hành cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc và thơng qua đó thì các tơn giáo cũng có điều kiện
hiểu và xích lại gần nhau hơn, tạo thành khối đại đoàn kết thống nhất, làm
thất bại mọi âm mƣu chia rẽ, phá hoại cách mạng của kẻ thù. Với Hồ Chí

Minh đại đồn kết tồn dân tộc, trong đó có đại đồn kết giữa những ngƣời có
tín ngƣỡng và những ngƣời khơng có tín ngƣỡng, giữa những ngƣời có tín
ngƣỡng khác nhau, tất cả đều vì mục tiêu độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của
nhân dân, vì sự phát triển hồn thiện của mỗi cá nhân con ngƣời Việt Nam và
vì sự phát triển của dân tộc.
Ngƣời quan niệm “Tổ quốc độc lập Tôn giáo mới đƣợc tự do” Ngƣời
ln kêu gọi “Tồn thể đồng bào ta, khơng chia lƣơng giáo, đồn kết chặt chẽ,
quyết lịng kháng chiến, để giữ gìn non sơng, Tổ quốc mà cũng để giữ gìn
quyền tơn giáo tự do”. Ngƣời cũng đã viết: ”Nay đồng b ta đồn kết, hi sinh
của cải xƣơng máu, kháng chiến đến cùng, để giữ quyền thống nhất và độc
lập của Tổ quốc...” Từ quan điểm đó mà ngay khi Chính phủ mới đƣợc thành
lập đã có rất nhiều ngƣời đứng đầu các tơn giáo tham gia Quốc hội.
Ngày 3/ 11/ 1946 Hồ Chí Minh đƣợc Quốc hội ủy nhiệm đứng ra lập Chính
phủ mới theo ngun tắc: Đồn kết tập hợp nhân tài khơng phân biệt đảng
phái. Đặc biệt Chỉ thị 5/10/1947 chủ chƣơng đoàn kết hơn nữa với tất cả các
cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau. Linh mục Lê Văn Yên đƣợc
mời làm Ủy viên kháng chiến Bắc Ninh. Linh mục Phạm Bá Trực đƣợc cử
làm Phó trƣởng ban thƣờng trực cũng tự nguyện tham gia gánh vác việc làm
cố vấn Chính phủ và đã ”hứa sẽ cố gắng làm việc, một lịng vì dân vì
nƣớc”[11,430] .

18


Để thực hiện đồn kết tơn giáo, trong đó trọng tâm là đồn kết Lƣơng Giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đƣa ra những giải pháp có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn to lớn là: Xây dựng hệ thống chính trị trong vùng có đồng bào tơn
giáo, làm tốt công tác vận động với các chức sắc và tín đồ tơn giáo, tích cực
đấu tranh chống bọn đế quốc, phản động lợi dụng tơn giáo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng lãnh đạo và chỉ đạo việc xây
dựng và phát huy vai trò của tổ chức Đảng các cấp, các hệ thống chính quyền,

của mặt trận dân tộc thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác ở các địa
phƣơng, nhất là vùng có đơng đồng bào theo đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cịn
đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ ở các vùng đồng bào
công giáo. Ngƣời khẳng định: "Cán bộ là gốc của mọi công việc" và "công
việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém". Ngƣời chủ trƣơng
phát triển cán bộ tại chỗ là chính, để họ trở thành cán bộ "bán chuyên nghiệp"
đi vận động tôn giáo. Ngƣời thƣờng căn dặn cán bộ phải thật bền bỉ thì mới
có thể giúp đồng bào tơn giáo phân biệt rõ bạn, thù.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác vận động đối với các chức sắc
tôn giáo và đồng bào tôn giáo. Ngƣời luôn biểu lộ sự tôn trọng, quan tâm đối
với các chức sắc tơn giáo và tìm cách tốt nhất để tranh thủ họ; song cũng có
thái độ xử sự dứt khốt, kiên quyết trừng trị những kẻ mƣợn tiếng đạo, làm
nhục Chúa, làm hại dân. Đối với kẻ lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ, dụ dỗ,
cƣỡng ép đồng bào chống lại Tổ quốc, Ngƣời chỉ rõ: "Chính phủ sẽ nghiêm trị
những kẻ lừa bịp, cƣỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hƣơng, sa vào một đời
sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng nhƣ phần hồn".
Chủ tịch Hồ Chí Minh ln chăm lo đến đời sống của đồng bào tơn
giáo, chăm sóc cả "phần xác" và "phần hồn".Theo Ngƣời, "phần xác có no ấm
thì phần hồn mới thong dong", từ đó Ngƣời chỉ đạo Chính phủ cần có chính
sách cụ thể để cải thiện cuộc sống cho đồng bào, tích cực tăng gia sản xuất,

19


nâng cao đời sống. Ngƣời nói: "Phải ra sức củng cố hợp tác xã, phát triển sản
xuất, tăng thu nhập cho xã viên. Đồng thời phải đảm bảo tín ngƣỡng tự do.
Nhƣng hoạt động tôn giáo không đƣợc cản trở sản xuất của nhân dân, khơng
đƣợc trái với chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc". Đối với "phần hồn" của
đồng bào tôn giáo, Ngƣời không chỉ đánh giá cao giá trị của văn hóa tơn giáo,
mà cịn trực tiếp quan tâm tới sinh hoạt tôn giáo. Ngƣời đã nhiều lần đến các

chùa chiền, nhà thờ với tấm lòng thành kính dự các lễ nghi tơn giáo nhƣ: Lễ
Phật đản, Lễ Giáng sinh...
Nhƣ vậy, thực chất tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng
chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo để giải quyết vấn đề tín ngƣỡng tơn giáo ở
Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hồn cảnh lịch sử, văn
hóa và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tín đồ tơn giáo ở
Việt Nam thực hiện tƣ tƣởng của Ngƣời về chính sách tơn giáo, đã và đang
sống theo phƣơng châm: "Sống phúc âm trong lòng dân tộc", "tốt đời đẹp
đạo", "đạo pháp dân tộc và chủ nghĩa xã hội".
* Tôn trọng tự do đức tin ( cao hơn là niềm tin) nhiều ngƣời gọi đó là
tơn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng tơn giáo.
Tự do tín ngƣỡng tơn giáo và tự do khơng tín ngƣỡng tơn giáo là nhu
cầu khơng thể thiếu đƣợc đối với nhân dân, là cái thiêng liêng của mỗi ngƣời
không ai đƣợc xâm phạm hay làm tổn hại đến điều đó, đồng thời cũng là mục
tiêu phấn đấu của cách mạng. Theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, tơn trọng quyền tự
do tín ngƣỡng tức là tơn trọng nhân dân, tôn trọng nhu cầu tâm linh của một
bộ phận nhân dân, tôn trọng yêu cầu về tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa
tinh thần của xã hội.
Mỗi một tơn giáo là một hệ tƣ tƣởng, Hồ Chí Minh đã hiểu vấn đề tự
do tín ngƣỡng phải đƣợc giải quyết một cách rất thỏa đáng. Ngƣời khơng gị
ép hay bắt buộc ngƣời khác phải theo tƣ tƣởng này hay theo tƣ tƣởng khác, ai

20


cũng có quyền tự do nghiên cứu một chủ nghĩa nào mà mình mong muốn.
Trong lần trả lời phỏng vấn các nhà báo ngày 12/7/1946 ở Roaya Mông xô,
Ngƣời đã nói: “ Tất cả mọi ngƣời đều có quyền nghiên cƣu một chủ nghĩa.
Riêng tôi, tôi nghiên cứu chủ nghĩa Mác”. Cho nên cũng có thể nói, quan
điểm tơn trọng quyền tự do tín ngƣỡng của con ngƣời đó cũng chính là quyền

con ngƣời đƣợc tự do về tƣ tƣởng.
Quyền tự do tín ngƣỡng, tơn giáo là một trong những quyền cơ bản của
con ngƣời, đƣợc ghi nhận tại Điều 18 Tun ngơn nhân quyền tồn thế giới
năm 1948 và đƣợc phát triển đầy đủ hơn trong Công ƣớc quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc. Điều 18, khoản 3 của Công
ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị nói về quyền tự do tôn giáo đã xác
định: “ Quyền tự do bày tỏ tơn giáo hoặc tín ngƣỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi
pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công
cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ
bản của ngƣời khác”.
Nhƣ vậy, theo quan điểm của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế,
mặc dù là một quyền cơ bản của con ngƣời, nhƣng quyền tự do tín ngƣỡng,
tơn giáo khơng phải là tuyệt đối, mà là một quyền có giới hạn. Sự giới hạn đó
là cần thiết nếu việc thực hiện quyền này xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự
xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc quyền và tự do cơ bản của ngƣời khác. Nói
cách khác, ở tất cả các nƣớc, các loại hình tổ chức tơn giáo đều đƣợc tự do
hoạt động nhƣng phải trong giới hạn của Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi
hoạt động tôn giáo gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi
phạm đạo đức và các quyền của ngƣời khác… đều bị cấm và nghiêm trị theo
pháp luật. Vì vậy, những kẻ lợi dụng tôn giáo để trục lợi cá nhân, thực hiện
những hành động chống chính quyền, gây mất ổn định trật tự xã hội thì phải
bị xử lý thỏa đáng.

21


Khẳng định quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân, nhân dân có quyền
tin hoặc khơng tin, theo hoặc khơng theo một tơn giáo nào, song khơng vì thế
mà bài xích, đó kỵ, ghen ghét, đối đầu nhau, gây mất đoàn kết, làm cho kẻ thù
dễ lợi dụng chia rẽ. Ngƣời chỉ rõ: ”Trong một nƣớc văn minh có tự do tín

ngƣỡng, tự do ngơn luận nhƣng khơng đƣợc vu khống kẻ khác” [44,73]. Đó là
một quan điểm cách mạng và khoa học. Nếu tự do theo kiểu vơ chính phủ
chắc chắn sẽ dẫn đến kết cục là không đƣợc tự do. Quyền theo hay không
theo một tôn giáo nào khơng có nghĩa là quyền áp đặt thiên kiến, niềm tin của
mình đối với ngƣời khác. Bởi vậy, quan điểm của Ngƣời là thừa nhận quyền
tự do lựa chọn tôn giáo để theo của đồng bào cũng nhƣ sự bình đẳng giữa các
tơn giáo. Tuy nhiên sự tự do tín ngƣỡng, tự do lựa chọn tôn giáo của nhân dân
không đƣợc cản trở đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội...đến sự phát
triển của đất nƣớc. Ngƣời nói: ” Hoạt động tơn giáo khơng đƣợc cản trở sản
xuất của nhân dân, khơng đƣợc trái với chính sách và pháp luật của Nhà
nƣớc” [45,606].
Khẳng định quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân, Hồ Chí Minh cịn
thể hiện rõ quan điểm về việc chống vi phạm quyền tự do tín ngƣỡng dƣới
mọi hình thức. Đối với cán bộ của Đảng và Nhà nƣớc, Ngƣời luôn nhắc nhở
phải tôn trọng quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân, phong tục tập quán của
nhân dân. Ngay sau khi Nhà nƣớc kiểu mới ra đời, Hồ Chí Minh đã ban hành
mệnh lệnh “chính quyền, qn đội và đồn thể phải tơn trọng tín ngƣỡng,
phong tục tập quán của đồng bào” [41,565].
Hiến pháp đầu tiên của nƣớc ta năm 1946, ở chƣơng II, mục B đã ghi
rõ; “mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngƣỡng”. chính cƣơng của
Mặt trận Liên Việt ở điều 7, điểm 1 ghi “tôn trọng quyền tự do tín ngƣỡng, tự
do thờ cúng cho mọi ngƣời”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lại quan
điểm đó trong thƣ gửi cụ Giám mục Lê Hữu Từ ngày 1/2/1947: “ Trong Hiến

22


pháp ta định rõ: Tín ngƣỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích
Cơng giáo sẽ bị phạt. Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống lại đạo
vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả các đồng

bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ phản đối tôn giáo”
[40,38].
Ngƣời kịch liệt phê phán chủ nghĩa giáo hội bị lợi dụng bởi mục đích
thực dân , nhƣng ln tơn trong tự do tín ngƣỡng của nhân. Ngƣời kiên quyết
bài trừ mê tín dị đoan, bài trừ những hủ tục làm cản trở sự vận động và phát
triển của xã hội Việt Nam.
Sự tôn trọng tự do tín ngƣỡng của nhân dân trong các bài viết và nói
của Ngƣời về tơn giáo là: Mỗi cơng dân có quyền theo hoặc khơng theo bất
kỳ một tơn giáo nào. Ngƣời có tín ngƣỡng và khơng có tín ngƣỡng đều bình
đẳng nhƣ nhau trƣớc pháp luật: Mỗi tín đồ tôn giáo cả trên cƣơng vị tổ chức
và cá nhân vừa làm tròn bổn phận của tin đồ, vừa làm trịn nghĩa vụ của cơng
dân. Mọi tơn giáo đều bình đẳng trƣớc pháp luật. mọi cơng dân đều có quyền
thay đổi hoặc không thay đổi tôn giáo của minh mà không cần một điều kiện
xã hôi nào kèm theo.
Từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh ra nƣớc Việt Nam dân chủ
cộng hòa cho đến nay đều nhất quán:” Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng và quyền tự do khơng tín ngƣỡng
tơn giáo cơng dân theo tơn giáo hoặc khơng theo tơn giáo đều bình đẳng trƣớc
pháp luật, đƣợc hƣởng mọi quyền cơng dân và có trách nhiệm thực hiện mọi
nghĩa vụ công dân”[17,150].
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, đối với ngƣời có tín ngƣỡng , đức
tin tôn giáo và long yêu nƣớc không mâu thuẫn nhau mà mỗi ngƣời vừa là
ngƣời dân yêu nƣớc vừa là một tín đồ chân chính. Cùng với những hoạt động
đặng thổi vào long yêu nƣớc kính Chúa, Hồ Chí Minh đã chủ động giúp đỡ

23


×