Tải bản đầy đủ (.ppt) (26 trang)

Bai 13. Mot so HDH thong dung moi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.23 MB, 26 trang )

Bµi 13
Bµi 13
1. Hệ điều hành MS-DOS
1. Hệ điều hành MS-DOS

Đơn giản, hiệu quả phù hợp với tình trạng thiết
bị của máy tính cá nhân trong thập kỉ 80 của
thế kỉ XX.

Là hệ điều hành của hãng Microsoft trang bị cho
máy tính cá nhân IBM PC.

Là hệ điều hành đơn nhiệm, thực hiện thông qua
hệ thống lệnh.

2. Hệ điều hành WINDOWS
2. Hệ điều hành WINDOWS
Là hệ điều hành của hãng Microsoft với nhiều
phiên bản khác nhau, song có một số đặc trưng chung:

Chế độ đa nhiệm.

Có hệ thống giao diện dựa trên cơ sở bảng chọn
với biểu tượng kết hợp giữa đồ hoạ và văn bản
giải thích.

Cung cấp nhiều công cụ xử lí đồ hoạ đa phương
tiện, đảm bảo khai thác hiệu quả nhiều loại dữ
liệu khác nhau như âm thanh, hình ảnh...

Đảm bảo các khả năng làm việc trong môi trư


ờng mạng.
1. 1985: Windows 1.0: 
Khi Windows 1.0 được ra mắt, nó không tạo được nhiều danh tiếng như 
những phiên bản sau đó, phiên bản này chỉ chiếm vị trí "thứ yếu" trong suốt lịch sử 
Windows. Windows 1.0 hoạt động trên nền MS-DOS 2.0, yêu cầu 256kb bộ nhớ và 
có thể chạy trên ổ cứng hoặc 2 đĩa mềm chạy cùng lúc.
Windows 1.0 lúc đó chứa khá nhiều phần mềm mà ngày nay vẫn còn được 
sử dụng như Notepad, Calendar và Paint. Windows 1.0 vẫn chưa cho phép các cửa 
sổ ứng dụng nằm chồng lên nhau mà tính năng này chỉ xuất hiện ở bản 2.0.
2. 1987: Windows 2.0
Windows 2.0 hỗ trợ nhiều tính năng mới nhưng cũng đồng thời nâng cao 
yêu cầu phần cứng. Người dùng Windows 2.0 phải có bộ nhớ 512kb và yêu cầu 
DOS 3.0. Phiên bản cập nhật cuối cùng của hệ điều hành này là 2.11 cũng đòi hỏi 
người dùng phải sử dụng ổ cứng, không cho dùng đĩa mềm. 
Windows 2.0 bắt đầu xuất hiện nhiều phần mềm trên nền tảng Windows 
hơn thay vì DOS trước đó, chẳng hạn như Excel hay Word. Một số phần mềm từ các 
nhà phát triển cho máy Mac trước đó như PageMaker cũng được chuyển qua 
Windows. Windows 2.0 cũng là bản Windows bị Apple kiện vì công ty này cho rằng 
hệ điều hành của Microsoft vi phạm giao diện của họ. Vấn đề này chỉ được giải quyết 
7 năm sau đó.
3. 1990: Windows 3.0: 
Windows 3.0 ra mắt vào năm 1990 và kẻ thừa kế 3.1 ra đời 2 năm sau đó là 
những hệ điều hành đầu tiên chứng tỏ Microsoft sẽ thống trị thế giới trong một thời 
gian dài. 
Windows 3.0 cũng là lần đầu tiên các chương trình DOS có thể chạy đa 
nhiệm trên những cửa sổ riêng biệt có thể thay đổi kích thước được. Trước đó, DOS 
bắt buộc phải chạy ở chế độ toàn màn hình. Do hỗ trợ những tính năng đa phương 
tiện như ở CD-ROM mà yêu cầu RAM tối thiểu của phiên bản Windows 3.00a là 
640kb và thêm 256kb bộ nhớ mở rộng nữa. 
4. 1993: Windows NT3.1: 

Ra mắt vào tháng 7 năm 1993, Windows NT được xây dựng dành cho 
doanh nghiệp hơn là người dùng cuối, nó được chế tạo nằm nâng cao tính ổn định 
cũng như bảo mật tốt hơn. Windows NT 3.1 hỗ trợ 32 bit thay cho kiến trúc 16 bit 
trước đó. Tuy là bản đầu tiên của kiến trúc NT nhưng nó vẫn được đặt tên là 3.1 để 
phù hợp với các bản dành cho khách hàng cá nhân. Windows NT đòi hỏi CPU 
80386, 12MB RAM (khuyến cáo 16MB) và ổ cứng có 90MB trống. Sau này thì 
Microsoft còn tiếp tục với 3 bản NT mới: NT3.5 vào năm 1994, NT 3.51 vào 1995 và 
1996 là NT 4.0. Cuối cùng, chúng ta thấy NT chuyển thành Windows 2000. 
5. 1995: Windows 95: 
Windows 95, ra mắt vào tháng 8 năm 1995 đã lần đầu tiên kết hợp 
Windows và DOS vào một thể duy nhất thay vì cài đặt Windows trên DOS trước đó. 
Đây cũng là bản Windows dành cho khách hàng gia đình đầu tiên hỗ trợ kiến trúc 32 
bit, Windows 95 được xây dựng bởi cả những dòng lệnh 16bit và 32bit. Nó có rất 
nhiều cải tiến về giao diện đồ họa mà vẫn còn tồn tại đến ngày này, chẳng hạn như 
thanh taskbar và Start menu.
Windows 95 ổn định hơn các đàn anh đi trước rất nhiều, nó cũng là hệ điều 
hành Windows đầu tiên hỗ trợ tiêu chuẩn Plug and Play của Intel và cho phép đặt tên 
dài hơn 8 ký tự.Về yêu cầu tối thiểu, Windows 95 yêu cầu CPU 80836 DX, 4MB bộ 
nhớ RAM và ổ cứng 120MB. Tuy nhiên, để chạy mượt thì bạn nên có một bộ xử lý 
80486 và 8MB RAM.
6. 1998: Windows 98: 
Windows 95 là một bước tiến lớn so với Windows 95 nhưng Windows 98 lại 
không thể làm được điều tương đương. Dù vậy, nó cũng có những thay đổi đáng ghi 
nhận nhất định, chẳng hạn như hỗ trợ tiêu chuẩn Winsock, (TCP/IP) trực tiếp trong 
hệ điều hành. thay vì cài đặt dưới dạng add-on. Đây cũng là lần đầu tiên Internet 
Explorer được tích hợp thành một phần của hệ điều hành, một trong những nguyên 
nhân lớn nhất dẫn đến việc Microsoft lâm vào vụ kiện chống độc quyền của bộ Tư 
Pháp Mỹ.
Windows 98 cũng hỗ trợ USB tốt hơn Windows 95. Hệ điều hành này ra 
mắt với 1 tính năng mới là Active Desktop cho phép truyền tải các tin trực tuyến về 

máy nhưng nó có quá nhiều lỗi nên đã bị gỡ bỏ trong bản sau. Windows 98 yêu cầu 
CPU 486DX2 66MHz và 16MB RAM (24MB khuyến cáo) cùng ổ cứng trống 500MB.

×