Tải bản đầy đủ (.docx) (4 trang)

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (101.63 KB, 4 trang )

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
IV.1. Kết luận
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty xây dựng CTGT Việt
Lào đã đạt được những kết quả tích cực qua 7 năm hình thành và phát triển. Công
ty đã không ngừng mở rộng sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, vận dụng
sáng tạo các quy luật của thị trường nhằm thu hút khách hàng. Luôn thực hiện tốt
chủ trương quản lý kinh tế cũng như các chính sách kinh tế của Nhà nước, hoàn
thành nghĩa vụ đóng góp Ngân sách Nhà nước.
Đặc biệt, năm 2003 công ty đã có nhiều cố gắng trong sản xuất kinh doanh
và kết quả là tăng doanh thu 58% so với năm 2002, đảm bảo và nâng cao hơn nữa
đời sống công nhân viên. Tình trạng tài chính yếu kém của những năm trước dần
được khắc phục, công tác quản lí ngày càng được hoàn thiện.
IV.1.1. Về công tác quản lý tài chính
- Quản lí tài sản và nguồn vốn:
Tổ chức quản lí tiền mặt, tiền gửi theo chế độ Nhà nước quy định, không để
thất thoát, lãng phí
Nhìn chung các khoản phải thu, phải trả đã được mở sổ theo dõi và ghi
chép rõ ràng trên sổ chi tiết lẫn sổ tổng hợp. Đơn vị đã quan tâm đến công tác thu
hồi công nợ, các khoản phải thu, phải trả bằng ngoại tệ, đã phản ánh chênh lệch tỷ
giá, đánh giá lại số dư công nợ bằng ngoại tệ vào thời điểm cuối năm. Tuy vậy
trong công tác quản lí công nợ còn một số tồn tại sau:
+ Nợ phải thu khách hàng còn khá lớn
+ Phần các khoản phải thu, phải trả chưa được đối chiếu đầy đủ
+ Theo dõi các khoản phải thu, phải trả nội bộ chưa khoa học, chưa
đối chiếu công nợ nội bộ
Quản lí NVL, CCDC, hàng hoá đã thực hiện mở thẻ kho theo dõi chi tiết
từng loại NVL, CCDC. Cuối năm có tổ chức kiểm kê NVL, CCDC và các khối
sản phẩm dở dang theo quy định.
Quản lí phân phối tiền lương và các khoản theo lương thực hiện trích quỹ
lương dựa theo đơn giá tiền lương do Tổng công ty phê duyệt, tính và thanh toán


lương cho người lao động đúng quy định. Chứng từ thanh toán lương được tập
hợp đầy đủ.
TSCĐ được mở sổ theo dõi chi tiết, việc tăng, giảm TSCĐ đúng thủ tục quy
định và có chứng từ đầy đủ, cuối năm đã thực hiện kiểm kê theo quy định,
Các khoản đầu tư dài hạn được quản lí theo dõi đầy đủ. Tuy vậy tình trạng
máy móc, thiết bị của đơn vị còn lạc hậu và hư hỏng nhiều, chưa phát huy hết
công suất. Đơn vị cũng chưa có phương án đầu tư đổi mới để tăng năng lực cạnh
tranh.
- Quản lí doanh thu, chi phí:
Để quản lí doanh thu, chi phí, đơn vị đã xây dựng và ban hành quy chế
quản lí tài chính và hạch toán kinh doanh.
Về quản lí doanh thu, phần lớn các công trình phát sinh trong năm được
phản ánh doanh thu tương đối đầy đủ. Tuy nhiên quá trình tính toán, xác định
doanh thu còn có những sai sót về mặt nghiệp vụ.
Về quản lí chi phí, đơn vị quản lí chi phí sản xuất cơ bản chặt chặt, công
tác khoán quản được thực hiện tương đối khoa học, đảm bảo chế độ quy định hiện
hành của Nhà nước. Tuy vậy trong quá trình thực hiện, việc kiểm tra kiểm soát
chưa thường xuyên, chưa chặt chẽ nên chi phí còn vượt mức khoán.
IV.1.2. Về tổ chức công tác kế toán:
- Tổ chức bộ máy kế toán: phù hợp với đặc điểm tình hình SXKD của công ty,
trình độ cán bộ kế toán cơ bản đáp ứng được yêu cầu công tác hạch toán kế toán
và quản lí tài chính của đơn vị. Sự phân công, phân nhiệm các phần hành kế toán
hợp lí, rõ ràng. Công tác tài chính kế toán của công ty đã đi vào nề nếp.
- Tổ chức chứng từ kế toán: được tập hợp, sắp xếp khoa học, lưu trữ đầy đủ và bảo
quản đúng quy định, bảo đảm tính hợp lệ, hợp pháp.
- Hạch toán kế toán: tuân thủ theo chế độ hiện hành. Tuy nhiên việc hạch toán TK
136, 336 chưa đúng quy định.
- Sổ kế toán: được mở đầy đủ từ sổ chi tiết đến sổ tổng hợp theo quy định.
- Báo cáo tài chính: được lập đầy đủ các mẫu biểu theo chế độ và đúng thời gian
quy định.

- Việc chỉ đạo và kiểm tra công tác kế toán: có thực hiện song chưa thường xuyên.
- Thực hiện nghĩa vụ với NSNN: thực hiện tốt
Sở dĩ công tác kế toán còn một số tồn tại như trên là do đơn vị chưa có sự
thống nhất về sơ đồ hạch toán kế toán trong toàn bộ công ty. Bên cạnh đó, địa bàn
công ty rộng nên việc chỉ đạo và kiểm tra công tác tài chính kế toán còn hạn chế.
IV.2. Kiến nghị
IV.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác hạch toán kế toán
Quá trình sản xuất kinh doanh của một công ty xây dựng công trình giao
thông là quá trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào tạo
thành các công trình, hạng mục công trình. Qua đó, một mặt tạo công ăn việc làm
và tăng thu nhập cho người lao dộng, mặt khác làm tăng lợi nhuận và khả năng
cạnh tranh của công ty trên thị trường. Để đạt được điều đó đòi hỏi công ty phải
giám sát chặt chẽ việc chi tiêu vật tư, tài sản, tiền vốn và nhân công lao động một
cách có hiệu quả trên cơ sở tổ chức hợp lý quá trình hạch toán chi phí sản xuất
phát sinh. Từ đó cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để các nhà quản lý có thể đưa
ra được những quyết định tối ưu nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành .
Để có thể tiết kiệm cho chi phí sản xuất đã bỏ ra thì công tác kế toán chi phí
sản xuất phải được tính toán chính xác. Bên cạnh việc tổ chức ghi chép, phản ánh
theo đúng giá trị thực tế của chi phí ở thời điểm phát sinh chi phí , mà còn phải tổ
chức ghi chép, tính toán và phản ánh từng loại chi phí theo nơi phát sinh chi phí,
nơi chịu chi phí và theo đúng đối tượng chịu chi phí.
Trong quá trình sản xuất thi công , chi phí sản xuất thể hiện hao phí trong kỳ,
chi phí này được xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai của quá trình sản
xuất. Đó là kết quả của sản xuất. Quan hệ so sánh này đã hình thành chỉ tiêu giá
thành. Giá thành thực sự trở thành chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, với các biện pháp đổi mới quản lý,
công nghệ hiện đại, thiết bị sản xuất mà doanh nghiệp áp dụng. Giá thành với
chức năng bù đắp chi phí, nếu công ty đúng, tính đủ giá thành sẽ đảm bảo tránh
được tình trạng lãi giả, lỗ thật trong kinh doanh. Do đó, việc hạch toán chi phí sản
xuất kinh doanh và tính giá thành phải phù hợp, kịp thời với sự phát triển và yêu

cầu quản lý.
IV.2.2. Phương hướng giải quyết
Căn cứ vào những tồn tại về công tác tài chính, kế toán đơn vị cần có biện
pháp chấn chỉnh, sửa chữa kịp chời.
Đơn vị cần tăng cường công tác quản lí, công tác kiểm tra, kiểm soát, nhất là
bộ máy kế toán để khắc phục những tồn tại, những hạn chế trên nhằm đổi mới
năng lực sản xuất để đảm bảo tăng trưởng SXKD.

×