Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Giup hoc sinh hoc tot phep nhan hoa mon Ngu Van 6

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (155.11 KB, 16 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>SO GIAO DUC & DAO TAO TINH BINH DUONG</b>


<b>PHONG GIAO DUC &DAO TAO HUYEN DI AN</b>



<b>TRUONG THCS DI AN</b>



<b>SANG KIEN KINH NGHIEM</b>


<b>DE TAI:</b>



<b>GIUP HOC SINH HOC TOT PHEP</b>


<b>NHAN HOA MON NGU VAN 6</b>



<b>GIAO VIEN:NGUYEN THI THAI DUNG</b>
<b> TO: VAN</b>


<b> NAM HOC: 2009-2010</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>A-DAT VAN DE</b>



<b>B-NOI DUNG VA BIEN PHAP TIEN HANH</b>


<b>I.TINH HINH THUC TE</b>



<b>II.HUONG GIAI QUYET CUA GIAO VIEN</b>


<b>III.KET QUA</b>



</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<b>A. ĐẶT VẤN ĐỀ:</b>



Trong nhà trường phổ thông nói chung, trường Trung học cơ sở nói riêng
học sinh được học tất cả các môn học. Môn ngữ văn là môn học vô cùng
quan trọng giúp hoàn thành nhân cách con người. Dạy Ngữ văn cho học sinh
phổ thông noi chung, học sinh Trung học cơ sở nói riêng không chỉ cung cấp
kiến thức mà còn giúp học sinh phát triển tư duy đặc biệt là tư duy logic. Vi


thế dạy Ngữ văn cho học sinh trong nhà trường là nhằm cung cấp cho học
sinh những kiến thức phổ thông, hệ thống, hiện đại về từ ngữ, ngữ pháp văn
bản, phong cách ngôn ngữ, rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng
mẹ đẻ trong cuộc sống và học tập; Bồi dưỡng cho học sinh cảm hứng thẩm
mĩ đúng đắn về cái hay, cái đẹp và sự phong phú của tiếng mẹ đẻ trong đời
sống và đặc biệt là trong văn chương, giáo dục học sinh tự hào về sự giàu
đẹp của Tiếng Việt, giữ gin, phát huy sự trong sáng và giàu đẹp đó; Và mục
đích cuối cùng của việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông là
giúp cho học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực hành luyện tập nghĩa
là giúp học sinh biết đặt câu, diễn đạt đúng một đoạn văn hay, một bài văn
cụ thể.


Học sinh không chỉ viết đúng mà còn viết bằng lời hay ý đẹp. Muốn vậy
giáo viên cần chú ý đến hinh thức nghệ thuật, đặc biệt là các biện pháp tu từ
về câu: So sánh, Nhân hóa, Ẩn dụ và Hoán dụ. Trong đó biện pháp nhân hóa
là một trong những biện pháp mà học sinh khó nhớ khó hiểu và vận dụng
không suôn sẻ trong bài tập luyện tâp. Vậy làm thế nào để có thể giúp học
sinh học tập có chất lượng hiệu quả? Trong quá trinh dạy học tôi đã luôn
trăn trở, định hướng hướng dẫn học sinh tiếp thu, vận dụng sự hiểu biết về
biện pháp nghệ thuật nhân hóa đạt chất lượng hiệu quả cao nhất. Sau đây, tôi
xin phép được trinh bày lại “

<b>Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt</b>



<b>phép nhân hóa ở mơn Ngữ văn 6”.</b>



<b>B. NỢI DUNG VÀ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH:</b>


<b>I.Tình hình thực tê</b>

:



<b>1</b>

.

<b>Chất lượng bộ môn</b>

:



</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

thị trường tác động đến tâm sinh lí khiến các em không còn hứng thú nhiệt


tinh với bộ môn, đa số các em chán văn, sợ văn dẫn đến ngại học văn.


<b>2. Đối với môn Tiêng Việt</b>

<b>:</b> việc tiếp thu và vận dụng thành thạo các
biện pháp tu từ trong nghe, nói, đọc, viết là vấn đề đáng được quan tâm. Đối
với học sinh khá giỏi thi bốn biện pháp tu từ trong chương trinh Ngữ Văn
lớp 6 là rất đơn giản, nhưng đối với học sinh 6.2, 6.6, 6.7, 6.8 (Năm học
2005-2006) người dạy phải vô cùng vất vã để đạt được kết quả vi chất lượng
đầu năm của các lớp đặc biệt rất đáng ngại: Lớp tập trung nhiều học sinh yếu
kém.


<b>*Cụ thể la</b>:


+ Chất lượng đầu năm 32/40 em dưới trung binh (84%).
+ Từ trung binh trở lên chỉ có 8 em (16%).


Mặc dù chất lượng học yếu kém nhưng các em lại chưa chịu khó học
tập. Đa số học sinh xem nhẹ môn Văn , thường dành nhiều thời gian cho các
môn học khác như: Toán, Lý, hóa, Anh văn… Khi học môn Ngữ văn nói
chung, phần Tiếng Việt nói riêng học sinh thường chỉ học lý thuyết, nắm
vững lý thuyết mà không chú trọng thực hành luyện tập thi hầu hết các em
cho rằng những biện pháp tu từ nói chung và biện pháp nhân hóa nói riêng là
của nhà văn, nhà thơ, chỉ có nhà văn, nhà thơ mới sử dụng. Cụ thể khi tiếp
thu bài học về bốn phương pháp tu từ :So sánh, Nhân hóa, Ẩn dụ và Hoán
dụ của chương trinh Ngữ văn 6, học sinh đa số còn hạn chế về nhận thức,
đặc biệt ở bài Nhân hóa. Sau khi học xong các em học thuộc lòng và đọc
vanh vách theo kiểu học vẹt (Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ
vật… bằng những từ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người ) nhưng học
rồi rất chóng quên ; khi làm bài tập thi loại bài tập nhận diện các em làm rất
nhanh nhưng đến khi làm bài tập vận dụng thi lúng túng, đặc biệt là học sinh
“<b>vướng”</b>ở kiểu bài tập viết đoạn văn (bài tập 5: Viết đoạn văn miêu tả có sử


dụng phương pháp nhân hóa)


<b>II. Hướng giải quyêt của giáo viên:</b>



Trước tiên tôi hướng dẫn cho học sinh hiểu Nhân hóa là gi, có mấy kiểu
nhân hóa ; Ý nghĩa, tác dụng của việc sử dụng phép Nhân hóa trong giao
tiếp. Cụ thể là:


1-

<b>Hướng dẫn học sinh khái niệm nhân</b>



<b>hóa</b>

:



</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

dùng như vậy mà các sự vật được miêu tả trở nên sống động, gần gũi với
đời sống con người. Tôi còn hướng dẫn cho học sinh nắm chắc cách diễn
đạt nhân hóa đem lại cho bài thơ, bài văn tính biểu cảm cao bằng cách so
sánh hai cách dùng từ, đặt câu trong hai trường hợp dùng nhân hóa và
viết binh thường. Sau khi tim hiểu nhân hóa là gi, tôi hướng dẫn học sinh
phân loại.


2-

Hướng dẫn học sinh phân loại các kiểu nhân


hóa:



Tôi chọn các đoạn văn trong các văn bản đã học để hướng dẫn học
sinh xác định từ ngữ sử dụng phép nhân hóa của các tác giả rồi khẳng định
các kiểu nhân hóa.


☼ <b>Kiểu 1</b>: Dùng những từ vốn chỉ dùng để gọi người (cô, di, chú, bác,
cậu, mợ, thím,…) để gọi sự sật.


<b> Ví dụ</b>: Trong bài hát <b>“Con chim vanh khuyên”</b> của nhạc sĩ Hoàng


Vân.


“ Có con chim Vành khuyên nhỏ. Dáng trông thật ngoan ngoãn quá.
Gọi dạ, bảo vâng lễ phép ngoan nhất nhà. Chim gặp bác chào mào, “ Chào
bác!”.Chim gặp cô Sơn ca, “ Chào cô !”. Chim gặp bác chào Chào mào,
“Chào bác !”.Chim gặp cô Sơn ca, “ Chào cô !”.Chim gặp chị Sáu nâu
“Chào chị !”.


Hay trong truyện “ <b>Dê Mèn phiêu lưu kí</b>” Tô Hoài đã viết : “Tôi đã
quát mấy Chị Cào Cào, ngụ ngoài đầu bờ, khiến mỗi lần thấy tôi đi qua, các
chị phải nép khuôn mặt trái xoan xuống dưới nhánh cỏ, chỉ dám đưa mắt lên
nhin trộm. Thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm
láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên.


Hay trong truyện : “<b>Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng</b>”-Truyện Ngụ ngôn
Từ đó, lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật
sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả.


<b>☼ Kiểu 2</b>: Dùng những từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để
chỉ hoạt động, tính chất của vật.


<b>Ví dụ</b> : Trong truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí” Tô Hoài đã dùng rất
nhiều từ ngữ nhân hóa : “Tôi đi đứng oai vệ. Mỗi bước đi làm điệu dún dẩy
các khoeo chân, rung lên rung xuống hai chiếc râu. Cho ra kiểu cách con nhà
võ. Tôi tợn lắm. Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm. Khi tôi to
tiếng thi ai cũng nhịn, không ai đáp lại. Bởi vi quanh quẩn, ai cũng quen
thuộc minh cả. Không nói, có lẽ họ nể hơn là sợ. Nhưng tôi lại tưởng thế là
không ai dám ho he”.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

mía múa gươm, kiến hành quân, cỏ gà rung tai nghe, bụi tre tần ngần, gỡ tóc,


hàng bưởi bế lũ con, đầu tròn trọc lốc, sớm ghé xuống sân, khanh khách
cười, cây dừa sải tay, bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa…


☼ <b>Kiểu 3</b>: Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người.
<b>Ví dụ</b> :


Trong ca dao:


“ Núi cao chi lắm núi <b>ơi</b>


Núi che mặt trời chẳng thấy người thương !”
Hay :


“ Trâu <b>ơi</b>, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.”


Sau đó hướng dẫn phân tích cho học sinh hiểu rằng : Nhân hóa, ngoài
tác dụng làm cho sự vật được miêu tả trở nên sống động, gần gũi với con
người (như đã nêu ở trên) còn thường xuyên được sử dụng để làm phương
tiện, làm cớ để con người giãi bày tâm sự.


<b>Ví dụ</b> :


“ Đêm qua ra đứng bờ ao


<b>Trông</b> cá cá lặn, <b>trông</b> sao sao mờ
Buồn <b>trông</b> con nhện giăng tơ


Nhện <b>ơi</b> ! nhện <b>hỡi</b>, nhện <b>chơ</b> mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai


Sao <b>ơi</b> sao <b>hỡi</b> ! <b>nhớ</b> ai sao mờ”
(<i><b>Ca dao</b></i>)


Những lời con nhện (Nhện ơi! Nhện hỡi, nhện chờ mối ai ), gọi sao
(Sao ơi, sao hỡi ! nhớ ai sao mờ) thực chất là nỗi niềm buồn nhớ, trông chờ
của con người trong đêm khuya.


Đặc biệt trong quá trinh hướng dẫn học sinh tim hiểu khái niệm tôi
hướng dẫn học sinh cặn kẽ từng bước. Cho học sinh đọc đoạn trích trong bài
“ Mưa” của Trần Đăng Khoa rồi hỏi : “Bầu trời được gọi bằng gi ?” (Ông)


Sau đó phân tích :Ông thường được dùng để gọi người, nay được
dùng để gọi trời. Cách gọi như vậy làm cho trời trở nên gần gũi với người.


Các hoạt động : mặc áo giáp, ra trận là các hoạt động của con người.Nay
dùng để miêu tả bầu trời trước cơn mưa làm tăng tính biểu cảm của câu thơ,
làm quang cảnh trước cơn mưa sống động hơn.


Ngoài ra, trong khổ thơ trích còn dùng những từ ngữ : Múa gươm để tả
cây mía, hành quân để tả kiến.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

- Ông trời mặc áo giáp đen với “ bầu trời đầy mây đen”


- Muôn nghin cây mía múa gươm với muôn nghin cây mía ngã
nghiêng, bay phấp phới.


- Kiến hành quân đầy đường với kiến bò đầy đường.


Từ đó, ta thấy nhân hóa có tính hinh ảnh làm cho các sự vật, sự việc
được miêu tả gần gũi hơn với con người rồi hướng dẫn cho học sinh làm,


giải quyết bài tập 1 thi học sinh dễ nhận diện, chỉ ra và xác định đúng
nhân hóa trong ví dụ là (Bến cảng) đông vui. (Tàu) mẹ, (tàu) con,( Xe)
anh, (xe) em tíu tít (nhận hàng về và chở hàng ra )…


Từ sự phân tích trên, học sinh cũng dễ dàng nhận ra tác dụng của nhân
hóa trong đoạn văn là làm cho bến cảng được miêu tả sinh động hơn;
người đọc dễ hinh dung được cảnh nhộn nhịp, bận rộn của các phương
tiện có trên bến cảng và học sinh cũng dễ dàng làm bài tập 2 ( So sánh
cách viết nhân hóa với cách viết binh thường) ở hai đoạn văn sách giáo
khoa


<i> <b>Bài tập 2: So sánh hai đoạn văn để tìm sự khác nhau trong cách</b></i>


<i><b>diễn đạt:</b></i>


<b>Đoạn 1</b> <b>Đoạn 2</b>


Đông vui Rất nhiều tàu xe


Tàu mẹ, tàu con Tàu lớn, tàu bé


Xe anh, xe em Xe to, xe nhỏ


Tíu tít nhận hàng về và chở hàng ra Nhận hàng về và chở hàng ra


Bận rộn Hoạt động liên tục


Khi hướng dẫn học sinh tim hiểu các kiểu nhân hóa thi sau khi cho học
sinh đọc ví dụ việc đầu tiên là tôi hướng dẫn học sinh tim những sự vật được
nhân hóa trong các câu thơ, câu văn đã cho (Ví dụ a là <b>Miệng, Tai, Mắt,</b>


<b>Chân, Tay</b>; ví dụ b là “ <b>Tre</b>”, ví dụ c là “ <b>Trâu</b>”) rồi hướng dẫn cho học
sinh chỉ ra cách nhân hóa các vật trong những câu thơ, câu văn đó là:


- Dùng từ ngữ vốn gọi người để gọi sự vật (Ví dụ a).


- Dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động,
tính chất của vật (Ví dụ b).


- Trò chuyện xưng hô với vật như người (Ví dụ c).


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

Các phép nhân hóa trong mỗi đoạn trích là:


a. Núi <b>ơi</b>! (trò chuyện, xưng hô với vật như với người). (Cua, cá) <b>tấp</b>
<b>nập</b>; (cò, sếu, vạc, le . . .) <b>cãi cọ om sòm</b>: dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động,
tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật; <b>họ</b> (Cò, sếu, vạc,
le . . .); <b>anh</b> (cò): dùng từ ngữ vốn chỉ người để gọi vật.


b. (Chòm cổ thụ) <b>dáng mãnh liệt</b>, <b>đứng trầm ngâm</b>, <b>lặng nhìn</b>;
(thuyền) <b>vùng vằng</b>: dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của
người để chỉ hoạt động, tính chất của vật.


c. (cây) <b>bị thương</b>; <b>thân mình</b>; <b>vêt thương</b>; <b>cục máu</b>: dùng từ
ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất
của vật.


Để khẳng định kiến thức vừa học, tôi đặt câu hỏi để củng cố:
- Nhân hóa là gi? Có mấy kiểu nhân hóa?


Gọi hai học sinh đọc các kết luận trong phần ghi nhớ, dặn các em
về nhà học thuộc rồi cho học sinh tim thêm các ví dụ trong các truyện ký, thơ


ca đã học rồi chuyển làm bài tập 5. Như trên đã nói, đây là bài tập học sinh “vướng”
nhất, chất lượng bài tập thấp nhất. Để làm được bài tập số 5, tôi nhắc lại bài tập số 1,
2 rồi hướng dẫn cho học sinh làm bài tập số 3. Nghĩa là cho học sinh sự khác nhau cơ
bản giữa cách viết và có cơ sở để kết luận cách viết nào thích hợp với loại văn bản
nào, cần phải lập bảng so sánh, đối chiếu từ ngữ trong mỗi cách viết (làm tương tự
như bài tập 2 ở trên).


<b>Cách 1</b> <b>Cách 2</b>


Trong <b>họ hang</b> nhà chổi Trong các loại chổi


<b>Cô bé</b> Chổi Rơm Chổi rơm


<b>Xinh xắn</b> nhất Đẹp nhất


Có <b>chiêc váy</b> vàng óng Tết bằng rơm nếp


<b>Áo</b> của cô Tay chổi


Cuốn từng <b>vòng quanh</b>


người trông cứ như áo len vậy.


Quấn quanh thành cuộn


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

1. Ngoài ra, trong quá trinh phân tích tôi còn hướng dẫn học sinh
hiểu giá trị nghệ thuật của phép nhân hóa trong câu văn vi học sinh
thực sự thấy được cái hay của phép nhân hóa trong câu văn thi mới cố
gắng luyện tập.



<b>* Cách lam</b>: phân tích – giảng dạy các ví dụ


<b>Ví dụ</b>:


- Cứ thế, hai ba năm nay rừng Xà Nu ưỡn tấm ngực lớn
của minhra che chở cho làng.


- Cho học sinh dùng phép nhân hóa: <b>ưỡn tấm ngực, che</b>
<b>chở</b>


- Yêu cầu học sinh nêu cách hiểu của minh:
- Giáo viên:


* <b>Giảng</b>


- <b>Ưỡn tấm ngực</b>: biểu hiện với tư thế hiên ngang, sẵn sàng
với mọi thử thách.


- <b>Che chở</b>: Muốn nói đến sự bảo vệ.




dù bom đạn tàn phá, rừng Xà Nu vẫn xanh tốt, vẫn sống mãnh liệt.




Sức sống mãnh liệt, kiên cường của con người trước sự độc đáo
của quân thù.


Sau đó tóm lại cho học sinh thấy hai điều ở ví dụ này:



- Nội dung: ca ngợi đất nước, con người miền núi trong
chiến tranh.


- Nghệ thuật: dùng phép nhân hóa giúp cho câu văn thêm
gợi cảm, sinh động.


- Dùng cách diễn đạt cùng nghĩa nhưng không nhân hóa để học
sinh nhận xét.


<b>Ví dụ</b>:


<b>Cách 1</b>: Cách nói binh thường
Kiến bò đầy đường


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

Hành quân
Đầy đường


<b> (Trần Đăng Khoa)</b>




Nhận xét: Cách nói nhân hóa giàu hinh ảnh hơn, làm cho sự vật
trở nên gần gũi với con người.


2. Yêu cầu học sinh tim, nắm vững một số từ vốn gọi người để gọi
vật: cô, chú, bác, chị, anh . . . (tùy theo tinh cảm, ngữ cảnh)


<b>Ví dụ:</b> Cô Mắt, bác Tai, chị Chổi, chú Ếch, anh Dế Mèn . . .
Đặt câu:



- Cô Mắt, bác Tai, cậu Chân, cậu Tay thân mật sống với
nhau, mỗi người một việc, không tị ai cả.


- Chị Chổi Rơm vào loại xinh xắn nhất.


3. Dùng từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt
động tính chất của vật.


a. Ủ rủ (tính cách con người).




tim sự vật (lá cây)




Đặt câu: Lá cây ủ rủ dưới nắng.


b. Thở than (hành động của con người).




Tim sự vật (Dế Mèn trong đêm . . .)




Đặt câu: Dế thở than trong đêm . . .
c. Cười:





Tim sự vật (hoa)




Đặt câu: Hoa cười dưới ánh nắng sớm ban mai.


4. Dùng Hô ngữ để trò chuyện, xưng hô với vật như cới người.
- Gạch dưới những từ ngữ vốn dùng gọi người để đặt câu.


<b>Ví dụ:</b>


Chim <b>ơi</b> đừng bay nhé
Mây <b>ơi</b> . . .


Gió <b>ơi</b>! Đừng thổi nữa.
Sao <b>ơi</b>!


Trâu <b>ơi</b>! Ta bảo trâu này


Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
(Ca dao)


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

- Chân, tay, tai, mắt, miệng.


(Truyện Ngụ ngôn)
- Bài học đường đời đầu tiên


(Trích tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” – Tô Hoài)



- Mưa


(Trần Đăng Khoa)


6. Gợi ý liên tưởng cho học sinh (bằng từ ngữ cụ thể)


- Tiếng mưa trên mái tôn liên tưởng đến điều gi của con người?
- Tiếng chắt lưỡi: Thằn lằn đêm <sub></sub> tâm trạng gi của con người?




Tâm trạng hối tiếc <sub></sub> nhân hóa


- Bụi tre đứng trước gió mạnh <sub></sub> gục đầu, khuất phục.
- Gió mạnh, dông to <sub></sub> gốc điên cuồng.


Giáo viên gợi ý: học sinh thực hành nhiều trong mỗi kiểu nhân hóa.
Từ sự phân tích định hướng hướng dẫn như trên tôi gợi ý cho học sinh
chủ đề của đoạn rồi hướng dẫn cách đặt từng câu sau đó gọi học sinh sắp
xếp các câu theo trinh tự hợp lí, logic; cứ thế hoàn chỉnh dần bài tập 5 sau
đó khuyến khích học sinh tự viết.


Điều đáng mừng là học sinh hào hứng, phấn khởi, tự tin hơn khi học
Ngữ văn.


Cảm giác mong đợi giờ học Ngữ văn của các em đã lộ rõ trên từng nét
mặt học sinh mỗi khi tôi bước vào lớp. Kết quả cụ thể cuối năm là:


<b>III. KẾT QUA</b>


<b>Lớp 6a2</b>


- Năm học sinh đạt loại khá là:
1. Trần Thị Kim Anh


2. Nguyễn Thị Thanh Lam
3. Giang Ngọc Linh


4. Võ Thị Thùy Linh
5. Lê Thị Tố Nga


- Một học sinh đạt loại giỏi là:
6. Lưu Thị Phượng Liên


<b>Lớp 6a6</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

2. Huỳnh Xuân Gin
3. Lê Thu Hường
4. Đặng Minh Tâm


5. Phạm Ngọc Minh Tâm
- Một học sinh đạt loại giỏi là:
6. Lê Thị Thúy


<b>Lớp 6a7</b>


- Năm học sinh đạt loại khá là:
1. Trần Kim Vân


2. Nguyễn Ngọc Thành



3. Nguyễn Thị Quỳnh Hương
4. Đặng Thị Kim Ngọc


5. Nguyễn Thị Vân Anh


- Một học sinh đạt loại giỏi là:
6. Nguyễn Phương Nhung
Cuối năm học 2007-2008 có:


Học sinh đạt tỉ lệ trung binh trở lên, trong đó 30% khá giỏi
Tỉ lệ học sinh lên lớp 90%


IV. <b>BÀI HỌC KINH NGHIỆM</b>


* <b>Giáo viên</b>: xem trọng việc luyện tập trong giờ học nhưng cũng
không xem nhẹ lí thuyết.


- Vận dụng nhiều cách để gợi mở, dẫn dắt học sinh yếu (6a7) hiểu
được cái hay, cái đẹp của biện pháp tu từ nhân hóa để học sinh đặt câu tốt
hơn.


- Cho học sinh học nhiều câu thơ, câu văn của các tác giả nổi tiếng
trong những bài đã học và đọc thêm giúp giáo viên đưa nhiều ví dụ về
phép nhân hóa (Kiến thức phong phú) liên hệ kịp thời trong tiết học.


* <b>Học sinh:</b>


- Nắm vững kiến thức cơ bản về từ ngữ
- Hiểu lí thuyết.



<i><b>C. KẾT LUẬN CHUNG</b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

sự sáng tạo, tinh thần học hỏi và phải có lòng yêu nghề, tận tụy với công
việc, thi mới gặt hái được thành quả mong muốn.


Tôi khẳng định một lần nữa, muốn giúp các em hiểu bài, hứng thú học và
học có hiệu quả, chất lượng thi người dạy cần phải kết hợp nhuần nhuyễn.
Trong quá trinh thực hiện đề tài tôi nhận thấy phần trinh bày còn thiếu sót,
rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo và các đống nghiệp để đề
tài này được hoàn thiện hơn.


Tôi xin chân thành cảm ơn!


Dĩ An, ngày 22 tháng 02 năm 2010
Người viết


<i><b>Nguyễn Thị Thái Dung</b></i>


<b>NHẬN XÉT CỦA BAN GIÁM HIỆU TRƯỜNG THCS DĨ AN</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

...
...
...
...
...
...
...
...
...


...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...


<b> NHẬN XÉT CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO DĨ AN...</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

...
...


...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
<b>NHẬN XÉT CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH DƯƠNG . </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16></div>

<!--links-->

×