Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (870.51 KB, 105 trang )


1
1. Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ cuối thế kỉ XIX ở châu Âu đã hình thành tổ chức sản xuất Nhà nớc
dựa trên kinh tế trang trại và thể hiện rõ vai trò tích cực của hình thức này.
Thực trạng phát triển KT-XH của nớc ta và thực tiễn phát triển của một số
nớc Đông Nam á trong những năm qua đã khẳng định vai trò quan trọng của
kinh tế trang trại đối với sự ổn định và phát triển KT-XH của mỗi quốc gia.
ở Việt Nam, trong những năm gần đây kinh tế trang trại phát triển mạnh
mẽ và đa dạng đã có tác dụng tới quá trình phát triển KT-XH và thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên nhiều địa phơng
trong cả nớc.
Đối với Hà Nội trong những năm qua, Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân Thành
phố đã ban hành nhiều chủ trơng, chính sách nhằm khuyến khích kinh tế
trang trại phát triển. Do vậy, trang trại của Hà Nội có bớc phát triển với nhiều
mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nhiều gơng điển hình làm ăn giỏi.
Sản phẩm sản xuất ra từ các trang trại có chất lợng và tính hàng hoá ngày
càng cao, góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu
cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp và nông thôn ngoại thành.
Tuy nhiên, trang trại Hà Nội còn bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó có sự
hạn chế về trình độ kiến thức của chủ trang trại và ngời lao động trong trang
trại. Chính điều này đã hạn chế đến khả năng ứng dụng khoa học công nghệ
mới, khả năng sử dụng vốn, đất đai, lao động. Trong khi đó với vị trí của Thủ
đô, yêu cầu lớn đợc đặt ra là: Hà Nội phải đi đầu trong CNH-HĐH nông
nghiệp, nông thôn.
Những yêu cầu, đòi hỏi trên đã và đang đặt ra một cách cấp bách về nâng cao
trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của các chủ trang trại nói chung và cần làm
rõ đối với công tác quản lý Nhà nớc của Thành phố là: Kiến thức cần có của các



2
chủ trang trại là kiến thức gì? hiện nay họ đã có cha? có đến đâu? có bằng cách
nào? nhu cầu bồi dỡng kiến thức cho chủ trang trại nh thế nào? nội dung cần bồi
dỡng là gì? hình thức, phơng pháp bồi dỡng ra sao để phát triển KT-XH nông
thôn, nhất là kinh tế trang trại Hà Nội. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng và giải pháp bồi dỡng kiến thức cho các
chủ trang trại ở Hà Nội.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng và giải pháp bồi dỡng nâng cao trình độ chuyên
môn, trình độ quản lý cho các chủ trang trại ở Hà Nội.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về bồi dỡng kiến
thức cho chủ trang trại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng nội dung và phơng pháp bồi dỡng kiến
thức cho chủ trang trại ở Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp bồi dỡng nâng cao trình độ cho các chủ
trang trại ở Hà Nội.
1.3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng nghiên cứu của luận văn là vấn đề Bồi dỡng kiến thức cho
các chủ trang trại, đó là quá trình trang bị kiến thức cần thiết về quản lý kinh
tế, quản lý kỹ thuật cho chủ trang trại để họ có thể điều hành hoạt động ở
trang trại có hiệu quả hơn.
- Luận văn tập trung nghiên cứu 30 trang trại thuộc 5 huyện ngoại thành
và 02 quận mới của Hà Nội từ năm 2002-2004 về thực trạng trình độ kiến thức
của các chủ trang trại, dự kiến đến năm 2010.
*
* *


3
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dỡng
kiến thức cho chủ trang trại

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về bồi dỡng kiến thức
Bồi dỡng kiến thức (theo định nghĩa trong từ điển bách khoa) là quá
trình tác động đến một con ngời nhằm làm cho con ngời đó lĩnh hội và nắm
vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống chuẩn bị cho ngời
đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định,
góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn
minh loài ngời. Về cơ bản lĩnh vực bồi dỡng là giảng dạy và học tập ở nhà
trờng gắn với việc giáo dục đạo đức và nhân cách. [dt 31]
Bồi dỡng đợc hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức,
nhằm hình thành và phát triển có hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ
để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền để cho họ có thể vào đời
hành nghề có kiến thức và đạt năng suất, hiệu quả cao.
Bồi dỡng là sự phát triển có hệ thống những kiến thức, kĩ năng mà mỗi cá
nhân cần có để thực hiện đúng một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể. Sự cần thiết
đó có thể là do nhu cầu cá nhân của ngời đợc bồi dỡng hoặc do nhu cầu phát
triển nhân học của tổ chức. Theo mục đích của ngời đợc bồi dỡng có các tiêu
chí phân loại: bồi dỡng, tơng ứng với nội dung, thời gian bồi dỡng và mức độ
đánh giá kết quả.
Nh vậy, chúng ta có thể hiểu đào tạo là quá trình hoạt động gắn với lao
động nghề nghiệp và chỉ diễn ra sau khi ngời tham gia vào quá trình này đã một
lần đợc đào tạo và công nhận bởi một văn bằng tơng ứng. Bồi dỡng là những
ngời đã có nghề hoặc đang làm một nghề nào đó nhng vì lí do thay đổi hoặc có
những vấn đề mới phát sinh, nghề cũ không còn phù hợp, cần phải bồi dỡng
nhằm nâng cao kiến thức và kinh nghiệm để có thể đảm nhận công việc và đạt

hiệu quả tốt hơn.

4
Bồi dỡng không chỉ là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên
môn, nghiệp vụ, kĩ năng, kĩ xảo mà còn làm tăng niềm say mê nghề nghiệp để
họ có thể đảm nhận và hoàn thành tốt hơn công việc nhất định. Trong hoạt
động bồi dỡng có giáo dục nhằm tăng cờng phát triển kiến thức, có giá trị
đạo lý, những hiểu biết mà mỗi ngời cần có trong cuộc sống.
Nh vậy, chúng ta có thể nhất trí với khái niệm: Bồi dỡng nguồn nhân
lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho
ngời học để họ có thể đảm nhận đợc những công việc nhất định [2]. Bồi
dỡng kiến thức bao gồm những bớc sau:
- Xác định nhu cầu bồi dỡng: là bớc đầu tiên rất quan trọng trong hoạt
động bồi dỡng. Đối với từng ngành, trong địa phơng, trong cơ quan, tổ chức
nhu cầu bồi dỡng bao giờ cũng gắn với chiến lợc và kế hoạch phát triển của
ngành, địa phơng, cơ quan và tổ chức đó. Bồi dỡng là hoạt động đòi hỏi
nhiều thời gian và chi phí tài chính lớn. Nếu bồi dỡng tốt có thể thu hồi lại
đợc chi phí đó, mang lại lợi ích to lớn cho cá nhân và xã hội, ngợc lại sẽ làm
tăng chi phí. Khi đánh giá nhu cầu bồi dỡng cần xem xét đến nhu cầu xã hội,
các chơng trình phát triển kinh tế có ích đến đặc thù của từng vùng, yêu cầu về
ngành nghề và trình độ, hiện trạng chất lợng nhân lực. Việc xác định nhu cầu
bồi dỡng của một ngành, lĩnh vực có ý nghĩa rất lớn cho các cơ sở.
- Xác định mục tiêu bồi dỡng: là trang bị cho ngời học những thông tin,
kiến thức mà họ cần nhng đang thiếu. Về nhận thức, đó là những thông tin,
kiến thức mà ngời học nhận đợc sau khoá bồi dỡng, về tác động là quan
điểm, niềm tin mà ngời học có đợc.
- Xác định đối tợng đợc bồi d
ỡng: trên cơ sở mục tiêu, số lợng, nội
dung và phơng pháp bồi dỡng mà xác định đối tợng bồi dỡng cho phù
hợp. Đối với cá nhân, quyết định và lựa chọn ngành học hoặc chơng trình

đào tạo, bồi dỡng để nâng cao năng lực là đặc biệt quan trọng về lập nghiệp
cho tơng lai hoặc khả năng thích ứng với sự thay đổi công việc. Đối với tổ

5
chức, lựa chọn đúng ngời để bồi dỡng sẽ tạo điều kiện cho chính ngời đó
có cơ hội phát triển và sự phát triển đội ngũ lao động nhằm nâng cao hiệu quả
và năng suất lao động cũng nh hiệu quả đầu t. Ngợc lại, sẽ lãng phí về thời
gian, sức lực của ngời học và kinh phí của Nhà nớc. Vì vậy, lựa chọn đối
tợng học cần căn cứ vào nhu cầu và động lực của ngời học.
- Xây dựng nội dung và phơng pháp bồi dỡng: trên cơ sở thực trạng, nhu
cầu, mục tiêu bồi dỡng phù hợp với đối tợng đã đợc xác định. Nội dung bồi
dỡng phải thực hiện tốt các mục tiêu của chơng trình đặt ra. Lựa chọn phơng
pháp bồi dỡng cũng hết sức quan trọng vì nó liên quan đến đối tợng và mục
đích . Phơng pháp bồi dỡng sẽ ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả của bồi dỡng.
- Xác định nguồn lực về bồi dỡng: nguồn lực thiết yếu cho đào tạo, bồi
dỡng bao gồm thời gian, nhân lực, địa điểm, cơ sở vật chất, phơng tiện và
tài chính cho bồi dỡng. Trong tình hình hiện nay, các yếu tố trên giữ vai trò
quan trọng tác động đến tâm lý, nhận thức của ngời học.
- Tổ chức thực hiện bồi dỡng: Đây là khâu quan trọng ảnh hởng trực tiếp
đến kết quả bồi dỡng. Việc chuẩn bị các bớc trên tốt cũng nhằm phục vụ cho
khâu tổ chức thực hiện bồi dỡng có hiệu quả.
- Đánh giá kết quả bồi dỡng và điều chỉnh hoạt động tiếp theo: qua các lớp
bồi dỡng phải có tiêu chí đánh giá về mức độ đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đặt ra
của khoá bồi dỡng để có sự điều chỉnh phù hợp.
2.1.2 Hình thức bồi d
ỡng kiến thức
Thông thờng có các hình thức bồi dỡng nh sau:
Hình thức bồi dỡng giúp cho mọi ngời vừa làm vừa học, nhằm hoàn
thiện và mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ
để thích nghi với thay đổi công việc và đời sống xã hội. Ngoài ra còn có các

hình thức tại nơi làm việc tức là ngời học đợc thực hành tại nơi sản xuất, hệ
thống này phù hợp với các trờng học nghề trong công nghiệp và khá phổ biến
trong những năm qua.

6
Hình thức bồi dỡng là mức thấp hơn đào tạo cả về qui mô, nội dung,
chơng trình. Hình thức bồi dỡng thờng áp dụng cho việc triển khai hoặc
phổ biến các nội dung mới về mặt chuyên môn nghiệp vụ hoặc kỹ thuật cho
các đối tợng cần quan tâm. Đối với hình thức này, thời gian học tập ngắn,
chủ yếu vừa học lí thuyết vừa học thực hành, kiến thức lí thuyết không buộc
phải theo hệ thống; cơ quan, tổ chức và ngời dạy thờng không yêu cầu phải
chuyên nghiệp.
Có nhiều cách bồi dỡng khác nhau nhng đợc hình thành bởi một số lý
do nh tuổi tác, giới tính, những vấn đề về tâm lí xã hội. Theo Honey và
Mumford [dt 4], kiểu học đợc chia làm 4 nhóm: ngời học thực dụng, ngời
học năng động, ngời học có phản hồi và ngời thích ứng nghiên cứu lí luận.
Những ngời học thực dụng là những cá nhân mong muốn tham gia toàn
bộ một quá trình và ra quyết định, đòi hỏi liên hệ giữa chủ đề học với những
vớng mắc của họ, giống nh việc nắm rõ ràng những chuyên môn đáng tin
cậy để cạnh tranh, tìm kiếm cơ hội để thực hiện, tập trung vào những vấn đề
thực tiễn đặt ra và chỉ quan tâm tới những nội dung có khả năng áp dụng đợc.
Những ngời học năng động là những cá nhân học bằng quá trình thử
nghiệm, thích nhìn tận mắt, có nhu cầu cần đợc kích thích vào những hoạt
động khác nhau, thích những nhiệm vụ mang tính thách thức, thích giải quyết
vấn đề theo nhóm.
Những ngời có phản hồi cần thời gian để phản hồi trong khi họ tiếp thu
và cố gắng hiểu những vấn đề đợc nghe giảng, thích tìm kiếm, cần thời gian
để tiêu hoá trớc khi đề nghị hoặc hành động, mong muốn thực hiện những
chi tiết và đa ra những phân tích và báo cáo có cơ sở.
Những ngời nghiên cứu lí luận lại khác ở chỗ họ thích lý thuyết trừu

tợng, thích tự học, khám phá mối liên kết và kết hợp giữa ý tởng, sự kiện và
tình huống, thích suy diễn và thách thức những câu hỏi và khảo sát kỹ l
ỡng
những phơng pháp cơ bản, những giả thuyết Honey và Mumford [dt 4].

7
Thực tế cho thấy hầu hết các nhà kinh doanh nằm trong nhóm thứ nhất và
thứ hai (thực dụng và năng động). Họ quan tâm tới những vấn đề trong thế
giới thực và thích quá trình học trao đổi lẫn nhau ở những nơi họ có thể tham
gia các hoạt động.
Hình ảnh ngời học trong các mô hình học tập và giảng dạy thể hiện:
Học là một quá trình chủ động và kiến tạo; việc học tập đợc hoàn cảnh hóa
và tình huống hoá; việc học tập có động cơ nội tại; việc học tập đợc tự tổ
chức và tự kiểm tra.
Bồi dỡng kiến thức ngời lao động nông nghiệp có thể khái quát thành
3 hình thức:
- Hình thức thứ nhất: Gọi là hệ thống học tập và tham quan (T&V) [2], ở
đây gồm 2 phần học ở trên lớp và đi thăm quan khảo sát thực tế tại hiện
trờng. Mô hình này tạo điều kiện liên kết về chuyên ngành, trách nhiệm và
nghiên cứu. Đây là mô hình mang lại thành công ở nhiều nớc nhất là châu á
đợc ngân hàng thế giới áp dụng ở nhiều nớc trong 15 năm qua.
- Hình thức thứ hai: Cán bộ khuyến nông tiếp nhận đề nghị của ngời
dân và trực tiếp giải quyết và huấn luyện tại các trang trại theo định kỳ.
- Hình thức thứ ba: Là nghiên cứu hệ thống canh tác và khuyến nông, theo
hình thức này một nhóm các nhà khoa học đa ngành cùng với cán bộ khuyến nông
cùng tham gia giải quyết khó khăn và thử nghiệm các giải pháp ở ngay trang trại.
Phơng pháp này có hiệu quả ở một khu vực nhỏ, nhng cũng tốn kém.
2.1.3 Phơng pháp bồi dỡng kiến thức cho lao động nông nghiệp
* Đối với giáo viên
- Ngời dạy sáng suốt sẽ thiết kế chơng trình phù hợp dạy học cho

ngời lớn. Bởi ngời lớn tuổi đòi hỏi sự quyết tâm khám phá, thẩm tra, thử
nghiệm và chấp nhận rủi ro.
- Phơng pháp giảng dạy cho ngời lớn tuổi phong phú đa dạng; diễn
thuyết, thảo luận nhóm, sắm vai, kể chuyện, làm mẫu, trò chơi, bài tập tình
huống, thăm thực địa.

8
- Dạy học thực nghiệm là phơng pháp quan trọng bởi có những đặc tính sau:
+ Thực nghiệm phát triển cho học viên về mặt thể chất, tinh thần và trí tuệ.
+ Thực nghiệm thông qua những thông tin về các nhóm hoạt động nh
thế nào và cách hoạt động nhóm có tác động thế nào với các nhóm khác. Cả
hai đều quan trọng đối với những ngời làm việc trong khung cảnh có tổ chức.
+ Thực nghiệm nhấn mạnh vào sự phát triển phơng pháp giải quyết vấn
đề một cách có hiệu quả hơn.
+ Thực nghiệm dạy cho học viên học một kỹ năng mà họ sẽ cần đến
thờng xuyên về chuyên môn và nhân cách.
- Mục tiêu chủ yếu của phơng pháp dạy là phải huy động đợc tính tổng
hợp của các giác quan của học viên. Nghiên cứu cho biết kết quả thu nhận
kiến thức của ngời lớn tuổi nh sau: Thông qua đọc sách báo (10%); qua
nghe (20%); qua nhìn thấy(30%); kết hợp cả nghe và nhìn thấy (50%); qua
việc ngời học nói và viết (70%); qua việc ngời học tự tay làm (90%) [dt13] .
* Đối với học viên
Ngời nông dân nói chung và chủ trang trại nói riêng có quá trình chấp
nhận tiếp thu áp dụng hay phủ định kỹ thuật mới thờng diễn ra 5 bớc tuần tự
nh sau: nhận thức, quan tâm, đánh giá, thực nghiệm và tiếp thu (hoặc phủ định).
- Nhận thức: Từ một thông tin qua đài, báo, tivi hoặc từ hộ nông dân bên
cạnh, nông dân nhận biết kỹ thuật mới hiện có về sản xuất.
- Quan tâm từ thông tin thu nhập đợc, nông dân liên hệ với thực tiễn của
mình nảy sinh ý muốn áp dụng một kỹ thuật nào đó.
- Đánh giá: Sau khi đã có sự quan tâm về kỹ thuật nào đó ngời nông dân

cân nhắc những thuận lợi, khó khăn của kỹ thuật với điều kiện của mình để
quyết định. Đây là bớc rất quan trọng để chứng minh tính u việt và tính hiệu
quả của tiến bộ kỹ thuật.
- Thực nghiệm: Nếu biết đánh giá là khả quan, thông qua mô hình trình
diễn của khuyến nông, ngời nông dân tiến hành thử nghiệm TBKT mà họ
muốn áp dụng.

9
- ứng dụng hoặc phủ định: Kết quả làm thử sẽ là căn cứ để nông dân có áp
dụng và mở rộng TBKT mới hay không và thực hiện mở rộng ở quy mô phù hợp.
2.1.4 Những nguyên tắc học tập của lao động nông nghiệp
Học tập của ngời lao động nông nghiệp là một quá trình ngời dạy
cung cấp một cơ hội cho ngời học giành đợc kiến thức, kỹ năng, nhận thức.
Những đặc điểm của s phạm học ngời lớn, theo Goad Hanson cho rằng
ngời học có thể học tốt nhất khi [dt 4]:
- Họ tham gia tích cực trong thực tiễn quá trình học tập, không nhận
thông tin một cách thụ động.
- Họ có trách nhiệm về việc học tập của chính mình biểu hiện qua hoạt động
tập trung vào khía cạnh xúc cảm, nhận thức có đợc trong quá trình học tập.
- Học thông qua hành, ngời lớn mong muốn đợc tham gia luyện tập,
nếu có thể thực hiện đợc công việc ấy kể cả cần nhiều thời gian.
- Việc học liên quan đến những cái mà họ đã biết. Ngời dạy cần cho ví
dụ thực tiễn, phù hợp và đáp ứng đợc đời sống thực. Từ đó họ có thể hiểu
đợc trong phạm vi những kiến thức, kinh nghiệm có thể tham khảo.
- Ngời lớn thờng chống lại những thông tin mới hoặc kĩ năng mà học
cảm thấy bị ép buộc hoặc phê bình. Môi trờng học tập không cần. Việc đe doạ
ngời lớn chỉ gây ra sự bực bội, căng thẳng và hạn chế tới việc học tập của họ.
- Vai trò của ngời giáo viên là ngời tạo điều kiện học tập tích cực, trình
bày thông tin hoặc kĩ năng tạo ra một hoàn cảnh mà trong đó có thể xảy ra sự
khám phá, tìm tòi. Vì vậy, kỹ thuật dạy học tích cực sẽ nâng cao khả năng áp

dụng những kiến thức và kĩ năng mới vào thực tiễn công việc.
- Sự học tập cần có sự phong phú và tác dụng kích thích. Quá trình giảng
dạy càng sống động càng mang lại hiệu quả cao. Nó là ý tởng tốt để huy
động 5 giác quan của học viên, đặc biệt là thị giác, thính giác, xúc giác.
Sự thay đổi nhịp độ và sự phong phú của các hình thức học giảm nhẹ tình
trạng chán ngán, mệt mỏi đầu óc.

10
- Việc kiểm tra mục tiêu học tập, đánh giá kết quả học tập bằng các trắc
nghiệm và theo quy trình xếp loại là rất có hiệu quả và học tập sẽ thành công.
2.1.5 Các nhân tố ảnh hởng đến công tác bồi dỡng kiến thức
- Trình độ học vấn của đối tợng học
Trình độ học vấn của đối tợng học là yếu tố rất quan trọng để tiếp thu và
ứng dụng khoa học tiên tiến. Trình độ văn hoá cao, khả năng tiếp nhận nhanh và
có khả năng vận dụng tri thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ học vấn
ảnh hởng trực tiếp đến số lợng và chất lợng tuyển sinh cũng nh thời gian và
cơ cấu môn học cho một khoá bồi dỡng, lựa chọn hình thức bồi dỡng.
Các nhà nghiên cứu tính toán cho thấy: năng suất sẽ tăng 7% nếu chủ hộ
có học vấn ở mức độ nào đó và tăng lên 11% nếu tốt nghiệp phổ thông cơ sở.
Cứ thêm một năm có thể làm tăng hơn 10% tiền công ở Hàn Quốc, một năm
học sẽ làm cho sản lợng trang trại tăng 2%, ở Malaixia là 5% [dt 25].
- Sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong nền kinh tế thị trờng, ở nông thôn có sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động và tốc độ nhanh theo hớng thu nhập và lợi nhuận cao. Sự
tác động của khoa học công nghệ không chỉ nâng cao năng suất lao động mà
còn làm cho sự biến đổi ngành nghề trong xã hội cũng diễn ra nhanh chóng.
Để có đợc việc làm ngời lao động buộc phải học lấy một nghề nghiệp nào
đó hoặc phải thay đổi nghề khác để có cơ hội tìm kiếm việc làm thậm chí
trong lúc làm việc ở nông thôn cũng phải học để nắm chắc nghề nghiệp hơn.
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế ở các vùng lãnh thổ

không đồng đều, mạng lới giao thông ở nhiều vùng còn yếu kém, thu nhập
của ngời nông dân ở các vùng còn có sự chênh lệch. Vì vậy, cần phải có
chính sách trợ giúp về bồi dỡng mới đảm bảo công bằng trong giáo dục.
Nông thôn nớc ta cũng ở trong tình trạng chung của các nớc đang phát
triển là nhân lực có trình độ cao ở nông thôn luôn khan hiếm. Sinh viên từ nông
thôn qua đô thị học, sau khi tốt nghiệp thờng không muốn về nông thôn mà ở lại

11
thành phố để kiếm việc làm. Nguyên nhân chủ yếu là cơ sở hoạt động ở nông thôn
so với thành thị luôn có khoảng cách, ít có cơ hội học tập và thăng tiến.
- Hệ thống giáo dục bồi dỡng
Mạng lới và năng lực của các trờng, các tổ chức bồi dỡng có ảnh
hởng lớn đến hiệu quả bồi dỡng. Do tính chất đặc thù của các vùng miền,
đặc điểm hình thái, địa lý, kinh tế - xã hội, các vùng rất khác nhau nên đòi hỏi
có một mạng lới phù hợp. Một hệ thống phân bố phù hợp, có khả năng
hớng nghiệp và nên thông qua các cấp trình độ sát với nhu cầu. Lao động kỹ
thuật của địa phơng là cơ sở cho việc bồi dỡng có hiệu quả.
Nội dung bồi dỡng cũng phải đợc hiện đại hoá chứa đựng nhiều yếu tố
mới phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển của trang trại hiện nay; đáp ứng kịp
thời những biến chuyển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật. Cấu trúc lôgic
của nội dung bồi dỡng tạo ra những mối tơng giao chặt chẽ tạo tiền đề cho
việc thích nghi nhanh chóng thực tiễn sản xuất và công tác.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác bồi dỡng đó là: Hệ thống các
trờng các tổ chức có trách nhiệm bồi dỡng, các yếu tố cấu thành điều kiện vật
chất cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập. Các phơng tiện kỹ thuật
dạy học tạo nên điều kiện thuận lợi cho việc dạy học nh: âm thanh, ánh sáng,
các phơng tiện nghe nhìn, dụng cụ trực quan, mô hình tham quan, các trang trại
mẫu, các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả.
- Sự phát triển của thị trờng lao động
Tại các quốc gia đang phát triển, có hoàn cảnh gần giống Việt Nam, vấn

đề đang đặt ra gay gắt là số ngời trong độ tuổi lao động xã hội ngày càng
tăng, nhng tỉ lệ đợc lại rất thấp; lao động nông nghiệp d thừa trong khi tốc
độ phát triển công nghiệp chậm, không đủ sức thu hút nhân lực d thừa của
nông thôn. Không những sức ép về lao động d thừa mà sức ép về kỹ thuật
công nghệ cũng rất lớn. Ví dụ ở Hà Nội, mặc dù trong những năm qua tốc độ
đô thị hoá nhanh, đất nông nghiệp giảm nhanh để nhờng chỗ cho các khu

12
công nghiệp, các khu đô thị mới ra đời nhng việc chuyển lao động d thừa từ
nông nghiệp sang công nghiệp là rất khó khăn do vấn đề tuổi tác, trình độ, khả
năng thích ứng và tiếp thu công nghệ mới hạn chế.
Ngày nay, quá trình tiến hành CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn ngời ta
bắt đầu quan tâm tới việc đầu t theo chiều sâu, nghĩa là cần phải xây dựng cơ sở
sản xuất có trình độ kỹ thuật và công nghệ cao. Do đó thu hút nhân lực có trình
độ chuyên môn kỹ thuật, các chuyên gia công nghệ trình độ cao và khả năng thu
hút nhân lực có trình độ thấp, lao động giản đơn không nhiều. Mặt khác, ngời
lao động tham gia vào thị trờng lao động trong thời kì này không những phải
đợc đạt trình độ nhất định về chuyên môn nghề nghiệp, mà còn phải có tác
phong lao động công nghiệp, khả năng hợp tác lao động cao. Việc từ bỏ thói
quen của lao động nông nghiệp thủ công, trong khi kiến thức để có thể đáp ứng
và có khả năng tham gia thị trờng lao động mới đòi hỏi phải có nội dung, hình
thức và phơng pháp bồi dỡng thích hợp.
- Sự phát triển của khoa học công nghệ
Đổi mới khoa học công nghệ là bớc đi cần thiết tiếp theo của đổi mới
thể chế. Thực tiễn đã chứng minh rằng đổi mới khoa học công nghệ (phát triển
lực lợng sản xuất) tất yếu sẽ dẫn đến đổi mới thể chế (quan hệ sản xuất) sao
cho phù hợp với sự phát triển khoa học công nghệ.
Trên thế giới, cách mạng khoa học công nghệ trong những thống kê qua
đã làm thay căn bản kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Các nhà khoa học đã đa
ra ý kiến cho rằng: yếu tố thông tin và tri thức trở thành điều kiện hết sức cơ

bản để một quốc gia vơn lên trong cuộc chạy đua trong thế kỉ XXI. Cạnh
tranh kinh tế thế giới mà trọng tâm là cạnh tranh khoa học và công nghệ, nhất
là công nghệ cao. Các quốc gia phải xây dựng chiến lợc công nghệ, trong đó
chiến lợc giáo dục đợc đặt vào vị trí trung tâm.
Dựa vào những thành tựu mới về công nghệ sinh học, có nhiều chuyên
ngành mới trong nông nghiệp đã ra đời nh công nghệ enzim, công nghệ gien,

13
công nghệ vi sinh. Từ đó, các cơ quan làm nhiệm vụ bồi dỡng , cần cập nhập
tiến bộ khoa học công nghệ , điều chỉnh các loại hình phù hợp với xu thế phát
triển của khoa học công nghệ mới.
2.1.6 Đặc điểm của chủ trang trại và lao động trong trang trại
Đặc điểm của chủ trang trại: Các chủ trang trại là những ngòi nông dân
lao động có vốn, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá nhất định. Họ
bỏ vốn đầu t khai phá đất hoang, mua sắm máy móc, nông cụ, thuê mớn lao
động, vay vốn d thừa ở nông thôn và lấy sản xuất hàng hoá làm hớng chính.
Trong số các chủ trang trại, có nhiều cán bộ hu trí và đảng viên, là cán bộ lãnh
đạo và quản lý ở địa phơng, là lão nông tri điền. Sự phân biệt giữa họ và ngời
nông dân bình thờng chỉ là kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, là quyết tâm cao, ý
chí làm giàu và phơng pháp tiếp cận mới. Điều mấu chốt của mô hình kinh tế
mới này là phải có nhiều chủ trang trại có trình độ kiến thức, biết làm giàu.
Phơng hớng chính của các trang trại là kết hợp sản xuất nông, lâm nghiệp,
thuỷ sản với chế biến và tiêu thụ; sản xuất gắn với thị trờng. Nhiều sản phẩm của
các trung tâm đạt chất lợng cao đợc sơ chế hoặc tái chế đều có khả năng tiếp cận
thị trờng. Để thực hiện đợc phơng hớng đó, các chủ trang trại đã mạnh dạn
đầu t, ứng dụng khoa học công nghệ mới và kỹ thuật hiện đại vào sản xuất và chế
biến. Đặc biệt một số trang trại đã đầu t hàng tỉ đồng để ứng dụng tới tiêu hiện
đại, đầu t chiều sâu để thâm canh cây trồng, vật nuôi, mua sắm máy móc phát
triển công nghiệp chế biến ngay ở vùng nguyên liệu. Nh vậy, trang trại nh là
một mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam bằng con đờng phát

huy nội lực của kinh tế hộ là chính, tự lực tự cờng là chính.
Do xuất phát từ một nớc đang phát triển, trong những năm gần đây chủ
trang trại ở Việt Nam đang có những khó khăn rất cơ bản là thiếu kiến thức về
chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.
Đặc diểm của lao động trong trang trại: Lao động làm việc trong trang
trại là một bộ phận của nguồn nhân lực trong nông thôn, có thể hiểu là nguồn
lực cơ bản có tính chất quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn;

14
là lực lợng ngời sử dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào
sản xuất nông nghiệp.
Tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại hiện nay đã bao gồm lực
lợng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ
sản, quản lý kinh tế v.v... có nhiều ngời đã có trình độ đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật lành nghề và một số chuyên
gia đã về nghỉ hu với t cách là t vấn cho các chủ trang trại.
Ngoài ra, lực lợng chiếm số đông là số lao động phổ thông có trình độ
văn hoá phổ thông hoặc sơ cấp về chuyên môn kỹ thuật đảm nhiệm các công
việc đơn giản trong trang trại.
Theo chúng tôi, quá trình trang bị kiến thức cho chủ trang trại và
ngời lao đông là nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết về kiến thức cho quá
trình phát triển và đi lên của trang trại: Trong thực tế đã có nhiều chủ trang
trại hoặc lao động trong trang trại đã có trình độ bậc đại học hoặc trên đại
học nhng ở lĩnh vực khác không gắn với kiến thức về chuyên môn kỹ thuật
của nông nghiệp.
Vì vậy, mục tiêu cần gắn với yêu cầu quy hoạch của từng trang trại, từng
vùng, từng địa phơng. Nội dung phải đảm bảo xây dựng trên cơ sở hiện đại
hoá, chứa đựng nhiều yếu tố mới, phản ánh những thành tựu khoa học, kỹ
thuật có tác dụng đa lại hiệu quả cao nhất phù hợp với sự phát triển kinh tế -
xã hội nông thôn hiện nay.

2.1.7 Sự thay đổi trong nông nghiệp và yêu cầu đặt ra cho công tác bồi
dỡng kiến thức
Nông nghiệp toàn cầu hiện nay đang có sự thay đổi lớn về cấu trúc bao
gồm sự thay đổi trong đặc tính sản phẩm, trong quá trình sản xuất và hành
vi tiêu dùng, trong công nghệ và quy mô hoạt động, trong vị trí địa lý, trong
môi trờng kinh tế chính trị. Sự thay đổi này đang xảy ra ở mức độ cao. Sản

15
xuất đang dịch chuyển từ một hệ thống dựa trên hộ nông dân cá thể nhỏ
bán sản phẩm của họ trong những chợ đông đúc sang hệ thống sản xuất
theo hợp đồng mà nó đợc sắp xếp dọc theo chuỗi liên tục sản xuất, chế
biến và phân phối.
Sonka đã xác định 3 vấn đề quan trọng đối với ngời quản lý kinh
doanh nông nghiệp cần thiết phải nắm bắt. Thứ nhất, một loạt vấn đề mà
trong ngành nông nghiệp đang phải đơng đầu nh quốc tế hoá, công nghệ
sinh học, thay đổi cơ cấu, cấu trúc, chiến tranh thơng mại, tổ chức thơng
mại quốc tế (WTO), công nghệ thông tin và truyền thông [dt 12] Những
vấn đề này không đợc đánh giá một cách riêng rẽ mà phải xem chúng là
một hệ thống quan hệ chặt chẽ với nhau. Thứ hai, về vấn đề ứng dụng công
nghệ thông tin tạo ra sự thay đổi cơ cấu trong một ngành kinh tế. Cuối
cùng, ngời quản lý cần thiết phải học để biết đánh giá, thuê mớn và khai
thác những tài sản vô hình nh thế nào. Trong tơng lai, sự thành công
trong nền kinh tế tri thức sẽ đợc xác định bằng năng lực sáng tạo và quản
lý những tài sản vô hình ví dụ nh khai thác mối quan hệ kinh doanh
(Sonka 2000; Goldsmith và Gow, 2000) [dt 11].
Điều quan trọng hơn là việc xác định những kĩ năng gì mà các đơn vị
kinh tế nông nghiệp và mỗi cá nhân sẽ yêu cầu trong tơng lai và hệ thống
giáo dục sẽ cung cấp các kỹ năng đó một cách tốt nhất.
Sử dụng không đúng mức nguồn nhân lực là một vấn đề cấp bách mà nông
nghiệp trong các nớc chậm phát triển đang phải đơng đầu. Kinh nghiệm của

các nớc cho thấy rằng nếu không phát triển kiến thức và kỹ năng cho chủ trang
trại cũng nh các thành viên trong gia đình họ thì khó có thể phát triển đợc cái
gì khác. Việc phát triển và sử dụng những công nghệ hoặc thể chế tổ chức mới
liên quan chặt chẽ tới trình độ của nguồn nhân lực.
Trong quá trình phát triển, đặc biệt là sự phát triển năng động trong giai
đoạn hiện nay nền kinh tế đòi hỏi phải nghiên cứu thờng xuyên mối quan hệ
giữa giáo dục và việc làm.

16
Nghiên cứu là để hiểu rõ về sự thay đổi trong sẽ giúp đỡ và chuẩn bị cho
từng cá nhân để thích ứng với sự thay đổi cấu trúc rộng lớn trong ngành nông
nghiệp là chuyển từ kinh doanh hàng hoá tĩnh với việc đa sản phẩm cùng loại
tới thị trờng sang một hình thái thị trờng đợc định hớng bởi ngời tiêu
dùng với những sản phẩm rất đa dạng. Quá trình này đợc đổi mới liên tục và
các sản phẩm đợc chuyên môn hoá cao trong hệ thống phân phối và bổ trợ.
Để hiểu ảnh hởng của sự thay đổi cơ cấu xảy ra trong ngành nông
nghiệp, trong hệ thống trợ giúp thì cần phải đơn giản hoá những vấn đề lí
thuyết. Cassson đã mô tả một nền kinh tế nh là một hệ thống thông tin. Thứ
nhất, các thông tin cho phép các đơn vị kinh tế phối hợp tốt hơn các hoạt động
kinh tế của họ. Thứ hai, thông tin giúp đỡ các đơn vị nâng cao chất lợng việc
ra quyết định của họ. Kết quả là chất lợng ra quyết định của các đơn vị chính
là một hàm số của thông tin và sự phối hợp thông tin với các đơn vị kinh
doanh khác, hoạt động nghiên cứu và đầu t đề cập đến việc chuyển đổi thông
tin thành tri thức của ngời học [dt 2128].
2.1.8 Sự sáng tạo giá trị chuyển đổi thông tin thành tri thức
Chúng ta đang chuyển sang một nền kinh tế thông tin và nền kinh tế tri
thức; Vì vậy nền tảng giá trị truyền thống và sự sáng tạo sức mạnh cũng đang
thay đổi. Giá trị và sức mạnh truyền thống gắn liền với việc sở hữu nguồn lực
vật chất trong tơng lai, nguồn lực tri thức vật chất hoặc vốn tri thức càng
phát triển. Quá trình chuyển đổi tạo ra sự thay đổi trong kinh doanh từ quan

điểm tập trung vào nhiệm vụ hoạt động sản xuất, dựa trên hiệu quả thông qua
việc chuyên môn hoá tới việc tập trung cả quá trình hoạt động sản xuất trong
đó nó nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ quản lý; làm việc theo
nhóm và khả năng trao đổi tơng tác giữa các nhiệm vụ (Burton- Fines, 1999).
Trong nền kinh tế tri thức mới, giá trị đợc tạo ra từ việc chuyển đổi thông tin
thành tri thức. Tri thức có thể đợc chia thành hai loại; thứ nhất, tri thức là vấn
đề nào đó nh những khái niệm và một lí thuyết nào đó có đợc những kĩ

17
năng thông qua thực hành và việc thực nghiệm những khái niệm và lí thuyết
trong thực tiễn, đôi khi còn gọi là kiến thức [dt 27].
Khả năng quản trị kinh doanh nông nghiệp của một ngời thu đợc thông
qua học tập, lao động thực tiễn, sáng tạo và đổi mới. Tri thức của một đơn vị
kinh doanh tồn tại dới một số dạng: lực lợng lao động (nguồn vốn nhân lực)
[dt 31]; tự hiểu biết về nhu cầu và sở thích của ngời tiêu dùng (nguồn vốn
khách hàng) [dt 31] và hệ thống, sản phẩm chế biến cũng nh năng lực của nó
(nguồn vốn tổ chức) [dt 31]. Chuyển đổi giá trị đợc sáng tạo ra từ tri thức
thành lợi thế cạnh tranh bền vững đòi hỏi một vai trò cơ bản.
2.1.9 Vai trò của kiến thức đối với sự phát triển kinh tế trang trại
Lao động trong trang trại là chủ thể của sự phát triển kinh tế xã hội nông
thôn giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển sản xuất nông, lâm, ng
nghiệp và dịch vụ nông thôn.
Bồi dỡng kiến thức cho nguồn nhân lực ở nông thôn chính là việc đầu t
vào con ngời để đạt đợc các mục đích sau:
+ Bồi dỡng kiến thức kinh tế, kỹ thuận, quản lý cho lao động nông
nghiệp để nâng cao năng suất và hiệu quả trong nông nghiệp.
+ Chuẩn bị cho thế hệ trẻ nông thôn một nghề ngoài nghề nông nếu họ
muốn làm việc ở một lĩnh vực khác.
Bồi dỡng kiến thức nhằm hớng nông dân tới sự thay đổi, dạy nông
dân cải tiến phơng pháp ra quyết định và cung cấp cho nông dân những

thông tin kỹ thuật và thực tiễn sản xuất. Bồi dỡng kiến thức truyền bá
những kiến thức về công, kỹ thuật nghệ mới.
Một đất nớc với những ngời lao động ở nông thôn biết đọc và biết viết
sẽ thu lợm đợc nhiều thông tin tốt hơn, đơn giản là họ dễ dàng tiếp thu
những thông tin dới dạng sách báo. Việc giao tiếp tốt giúp cho việc giảm chi
phí kinh doanh và thúc đẩy việc phát triển. Bồi dỡng giúp chủ trang trại nắm
bắt, hiểu rõ và lựa chọn những thông tin về kỹ thuật, tổ chức và thị trờng.

18
Đầu t cho hoạt động bồi dỡng kiến thức không chỉ mang lại lợi ích
cho bản thân ngời nông dân mà cho toàn xã hội. Kết quả của việc bồi dỡng
trong nông thôn không những mang lại năng suất và hiệu quả trong nông
nghiệp mà còn tăng năng suất lao động trong ngành phi nông nghiệp ở hầu
hết các nớc - các nớc phát triển cũng nh chậm phát triển. Nh
SCHULTZ

đã khẳng định rằng giúp ngời nông dân đối phó với việc mất cân bằng
về kinh tế [dt 9]. Do vậy khi nông nghiệp của một đất nớc thay đổi từ nền
nông nghiệp truyền thống sang mô hình năng động hơn và dựa vào khoa học
kỹ thuật thì giá trị của lại càng tăng lên.
- Giáo dục quan trọng không chỉ đối với chủ trang trại, với ngời lao
động trang trại mà đối với cả con cái họ, ngời sẽ tiếp tục nghề nông nghiệp
cũng nh với những ngời muốn tìm nghề phi nông nghiệp khác.
Bồi dỡng kiến thức cho các chủ trang trại là một kiểu đào tạo cho ngời
lớn thờng đợc gọi là đào tạo khuyến nông, ở đó ngời chủ trang trại là đối
tợng chính và chơng trình bồi dỡng hớng vào những vấn đề khó khăn
trong sản xuất, trong quá trình mà ngời chủ trang trại đang gặp phải. Bên
cạnh những đánh giá, khẳng định bớc đầu kinh tế trang trại ở nớc ta đang
đặt ra một loạt vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đáng chú ý là:
- Trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ của các chủ trang trại còn thấp,

nhất là trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng. Số chủ trang trại có bằng từ
sơ cấp đến đại học mới chiếm 31%. Số chủ trang trại dự các lớp bồi dỡng về
khuyến nông, lâm mới đạt 13,53%, số chủ trang trại chăm chú theo dõi tivi, đài
báo mới chiếm 30,32%, từ các tổ chức xã hội chiếm 12,29% [dt 9].
- Hầu hết trang trại ở Việt Nam vừa mới ra đời và phát triển mạnh khoảng
hơn chục năm trở lại đây nên kinh nghiệm sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế thị trờng còn hạn chế. Đặc biệt các trang trại có điểm xuất phát thấp, từ hộ
nông dân sản xuất kinh doanh với quy mô lớn hơn, mục tiêu của trang trại là
sản xuất sản phẩm để bán theo nhu cầu của ngời tiêu dùng, thì chắc chắn với
năng lực quản lí, kiến thức về kinh doanh cha đợc tích luỹ nhiều.

19
- Với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đang diễn
ra từng ngày từng giờ nh giống cây trồng vật nuôi, sử dụng các yếu tố đầu
vào rất đa dạng, công nghệ sản xuất trong khi các chủ trang trại là ngời
trực tiếp thực hiện những công nghệ, kỹ thuật này cần thiết phải đợc tiếp cận
thờng xuyên thông qua đào tạo, bồi dỡng và sách báo.
- Các chủ trang trại xuất thân từ nhiều đối tợng khác nhau là nông dân,
cán bộ, bộ đội, công an và những ngời mất việc làm từ những ngành nghề
khác có ý chí và nguyện vọng làm giàu bằng việc lập các trang trại, hầu hết
cha qua trờng lớp về quản lý kinh tế cũng nh chuyên môn kỹ thuật vì vậy
nhất thiết phải đợc đào tạo để làm ông chủ thực sự có kiến thức quản lý và kỹ
thuật đáp ứng yêu cầu thực tế của sản xuất.
- Cho tới hiện nay chúng ta cha có một hệ thống giáo dục chính thức
cho ngời nông dân nói chung và cho ngời chủ trang trại nói riêng. Vì vậy,
cần thiết phải có những khoá bồi dỡng phù hợp với từng vùng, từng trình độ
của chủ trang trại.
- Mặc dù về lý thuyết khẳng định rằng tri thức là chìa khoá mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh, song trong thực tế số các chủ trang trại dám tự bỏ
tiền để tham dự các lớp bồi dỡng về chuyên môn kỹ thuật và quản trị kinh

doanh là rất ít.
- Bên cạnh tâm lý cha đầu t vào thì một trở ngại cơ bản của các chủ
trang trại là khả năng tài chính còn hạn chế, mà mới chỉ đầu t vào một số điều
kiện sản xuất vật chất của trang trại nh cải tạo đất, thuê mớn đất, một số máy
móc chủ yếu và giống cây trồng phục vụ trực tiếp cho sản xuất của trang trại.
- Tất nhiên cho tới nay Nhà nớc đã có một số chính sách, chơng trình
dự án đào tạo, bồi dỡng kiến thức cho đối tợng ở nông thôn, nông nghiệp
nói chung và cho trang trại nói riêng, song các khoá bồi dỡng thờng tổ chức
một cách chủ quan, thiếu lu ý đến nhu cầu thực sự của đối tợng học, trong
khi chơng trình giảng dạy, phơng pháp giảng dạy còn nghèo nàn dẫn đến
hiệu quả của khoá bồi d
ỡng cha cao. Vì vậy, cần thiết phải thực hiện một
cách hoàn chỉnh chu trình.

20
- Bồi dỡng kiến thức cho chủ trang trại và lao động trong trang trại
nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới về phát triển KHCN trong thời kì CNH-
HĐH.
Khoa học và công nghệ luôn giữ vị trí trung tâm trong CNH-HĐH nông
nghiệp nông thôn. Kinh nghiệm của các nớc khu vực châu á- Thái Bình
Dơng và của nớc ta trong những năm gần đây đã khẳng định chuyển giao
công nghệ đem lại thành công khi năng lực nội sinh về công nghệ của đất
nớc phải đủ tầm để lựa chọn, tiếp nhận, ứng dụng, thích nghi và phát triển
công nghệ đó. Chính vì vậy, bồi dỡng kiến thức cho chủ trang trại và lao
động trong trang trại đáp ứng những đòi hỏi mới của phát triển khoa học công
nghệ, tức là phải phát triển mạnh giáo dục, phát huy nguồn lực của con ngời.
Nguồn lực con ngời muốn phát huy đợc vai trò của mình thì ngời lao động
cần có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, đợc bồi dỡng tiến kịp với nền
khoa học hiện đại.
Bồi dỡng còn là điều kiện để giải quyết việc làm, tăng thời gian sử dụng lao

động, nâng cao thu nhập, ổn định kinh tế và đời sống xã hội nông thôn.
Khoa học công nghệ làm biến đổi tận gốc hàng hoá sản xuất, phơng thức
tổ chức quản lý sản xuất, phong cách t duy của con ngời. Theo số liệu thống kê
phần đóng góp của tiến bộ khoa học công nghệ mới trong tâm tởng nông nghiệp
ở thập niên 70 là 27%, vào cuối thập niên 80 là 40%, trong những năm 2000 là
50%, và dự kiến trong những năm tới mức đóng góp sẽ là 70% [dt 11].
Với mọi điều kiện giống nhau, việc truyền bá những công nghệ mới làm
tăng thêm sự quan tâm của các trang trại. Đối với chủ trang trại và ngời lao
động có nhiều khả năng nhất trong việc tự bồi dỡng kiến thức theo nhu cầu
phát triển chung thì sẽ thích nghi với sự phát triển chung.
Từ những điểm nêu trên, rõ ràng thị trờng sẽ loại trừ những sản phẩm;
những trang trại nào mà ngời lao động không theo kịp và sự biến đổi của
khoa học công nghệ mới, cách thức quản lý mới. Chính vì vậy, tại các nớc
phát triển giáo dục đợc coi là yếu tố quyết định trong cạnh tranh.

21
- Bồi dỡng kiến thức góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa của
trang trại.
Theo các chuyên gia kinh tế và thực tiễn trên thế giới cho thấy kinh tế
trang trại và lợi thế trong việc áp dụng kỹ thuật hiện đại và cách thức tổ chức
và phơng pháp canh tác mới sẽ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo tiền
đề cơ bản nhất để phát triển nông nghiệp hàng hoá. Sự chuyển đổi này sẽ dẫn
đến hiện tợng cấu trúc lại lực lợng lao động trong xã hội. Phần lớn lao động
nông nghiệp sẽ chuyển sang lao động phi nông nghiệp, số lao động nông
nghiệp sẽ đợc chuyên môn cao, nắm vững các công nghệ mới.

2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Trên thế giới
* Kinh nghiệm của các nớc phơng Tây

- ở Hoa Kì, trang trại gia đình chiếm 87% tổng số trang trại, 15% đất đai
và gần 70% giá trị nông sản của cả nớc. Thống kế chính thức cho biết 3,2
triệu trang trại sản xuất hơn 50% sản lợng ngô và đậu tơng của toàn thế
giới, hàng năm xuất khẩu 40- 50 triệu tấn lúa, các nhà kinh tế học Mĩ dự đoán,
trong thế kỉ XXI, trang trại vẫn là hình thức xí nghiệp chủ yếu của nền nông
nghiệp Mĩ. Lao động của gia đình làm việc ở trang trại nếu nhận tiền công
nh ngời ngoài thì coi nh lao động làm thuê. ở Hoa Kì, muốn trở thành chủ
trang trại đợc Nhà nớc công nhận trình độ quản lý với t cách pháp nhân thì
phải tốt nghiệp các trờng, lớp kỹ thuật và quản lý nông nghiệp, có kinh
nghiệm từ lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác trong
hoặc ngoài nớc, có bằng tốt nghiệp về nông học, bằng lái ô tô, máy kéo, có
kiến thức về kinh tế kỹ thuật, kinh tế thị trờng, luật pháp. Chủ trang trại Hoa
Kì là những chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, có trình độ học vấn Đại
học. Đồng thời họ tích cực tham gia vào nghiên cứu chuyên sâu lĩnh vực nông
nghiệp. Chủ trang trại thờng xuyên có mối liên hệ tốt với các trung tâm
nghiên cứu khoa học [dt 9].

22
ở Hoa Kỳ có trên 2 triệu lao động nông nghiệp làm thuê, trang trại nhỏ
thu nhập dới 110.000 USD/năm, không thuê lao động; trang trại trung bình thu
nhập 100.000 - 500.000 USD/năm thuê 1 -2,5 lao động, trẻ em trên 14 tuổi trở
lên làm ở trang trại sẽ đợc xem là công nhân làm thuê nông nghiệp [20]. Công
nhân làm thuê nông nghiệp đợc chia thành các loại sau: công nhân tạm thời,
công nhân thời vụ, công nhân thờng xuyên, công nhân quanh năm, đòi hỏi
phải có yêu cầu kỹ thuật nhất định và mức lơng phù hợp với trình độ đợc .
Việc công nhân ở Hoa Kì không bỏ nông nghiệp để ra Thành phố hoặc chuyển
sang các ngành khác vì nhiều ngời không đủ trình độ nghề nghiệp để chuyển,
vả lại mức thu nhập ở trang trại cũng khá vì chính phủ có đạo luật quy định
mức lơng tối thiểu cho lao động làm thuê trong nông nghiệp và hàng năm
đợc điều chỉnh. Với tình hình nông nghiệp nh trên, trong khi các ngành khác

lại không kiếm đợc việc làm tạm thời nh vậy, cho nên trang trại vẫn là nơi
thu hút học sinh, sinh viên, số ngời hu trí, số ngời thất nghiệp một phần, các
bà nội trợ có thời gian rảnh vẫn muốn đi làm ở trang trại để kiếm thêm tiền.
- ở Tây Âu, hầu hết các trang trại là trang trại gia đình và đều là các
quốc gia phát triển nên nông nghiệp đã đạt tới một trình độ cao. Trong nông
nghiệp chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào GDP và dân số lao động nông
nghiệp cũng chiếm một tỉ lệ nhỏ tơng tự. Song nền nông nghiệp các quốc gia
này không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà còn cho xuất khẩu
với khối lợng, chất lợng ngày càng cao.
Vai trò nông nghiệp trong việc bảo đảm sự tồn tại và phát triển nông
nghiệp nông thôn là rất quan trọng. Hàng năm, các quốc gia này phải bỏ ra
một khoản tiền lớn để chi cho công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
và hỗ trợ cho các trang trại. Chẳng hạn, trong khối EU, ngân sách trợ cấp của
chính phủ cho nông nghiệp trong đó có hỗ trợ khá lớn. ở Đức là 13,7% GDP,
Pháp (7.1%), Anh (27,2%), Na Uy (32,5%)[dt 9].
Số lao động canh tác trên mỗi trang trại có xu hớng giảm. Điều này
đợc giải thích bởi cuộc cách mạng KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp đang

23
diễn ra mạnh mẽ đi đôi với chất lợng lao động của trang trại và một số lợng
công nhân làm thuê ở mức tối thiểu vẫn có thể tiến hành sản xuất với quy mô
lớn hơn trớc và đạt đợc năng suất cao.
ở Hà Lan, bình quân một trang trại có 2,2 lao động, trong đó lao động
làm thuê chỉ có 0,4 lao động. ở Pháp, một trang trại bình quân có 29 ha chỉ
cần 2,07 lao động trong đó có 0,16 lao động làm thuê [dt 9].
Các trang trại đã đạt tới trình độ sản xuất tiên tiến. Hầu hết các trang trại
đều đợc cơ giới hoá, hiện đại hoá và đang có xu hớng vi tính hoá, tự động
hoá. Điều này tạo ra sức sản xuất mạnh mẽ cho các trang trại đồng thời cũng
giảm dần khoảng cách về trình độ cũng nh điều kiện lao động giữa lao động
công nghiệp và lao động nông nghiệp. ở châu Âu, mỗi trang trại có từ 9-10

máy kéo, ô tô và các máy nông nghiệp công suất lớn. Cứ 100 ha đất ở Anh có
61 máy kéo, Pháp (84), I-ta-li-a (105) Các chủ trại chăn nuôi đợc cơ giới
hoá và tự động hoá [dt 9].
Trình độ quản lí, học vấn của các chủ trang trại rất cao. Chủ trang trại
vừa là ngời quản lí, vừa là ngời tham gia trực tiếp vào quá trình SXKD.
Trớc xu hớng cạnh tranh gay gắt để tồn tại cộng với quá trình CNH-HĐH,
cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ buộc các chủ
trang trại độc lập, phải luôn nâng cao trình độ quản lý, trình độ hiểu biết để
kịp thời thích ứng với sự biến chuyển nền kinh tế, để nắm bắt và vận dụng các
loại kỹ thuật, công nghệ mới.
* Kinh nghiệm của các nớc và lãnh thổ châu á gió mùa
Các nớc châu á gió mùa gồm các quốc gia đã và đang phát triển với
nền nông nghiệp chủ yếu đa vào sản xuất lúa nớc. Quy mô diện tích đất
canh tác bình quân không những rất thấp (dới 1ha/ngời) mà còn rất phân
tán, manh mún. Đặc thù kinh tế trang trại khu vực này chiếm một tỉ lệ lớn
song cha hoàn toàn thống lĩnh toàn bộ nền nông nghiệp mà còn tồn tại song
song cùng kinh tế trang trại vẫn còn các loại hình tổ chức sản xuất khác chủ

24
yếu là kinh tế tiểu nông (tự cung, tự cấp) từ một số quốc gia đã phát triển và
các nớc nh Nhật, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc.
Các nớc trên thành công nhanh chóng trong tiến trình công nghiệp hoá
nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc) đều có đội ngũ trí
thức lớn, có khả năng tiếp thu và áp dụng thành công vốn tri thức mới về công
nghệ tiên tiến. Kết quả đó nhờ vào việc chính phủ coi trọng giáo dục đại học, tỉ
lệ ngân sách đặt cho giáo dục ở nớc này đều rất cao. Tỉ lệ học sinh ở độ tuổi từ
20-24 vào đại học năm 1992 của Hàn Quốc là 40%, Thái Lan là 16%, Nhật Bản
31%, các nớc Trung Quốc, ấn Độ, Băng-la-đét, Việt Nam xấp xỉ 2% [dt 32].
ở Nhật Bản, chính phủ mở các trờng dạy nghề, trợ cấp đào tạo cho
những ngành đợc Nhà nớc khuyến khích. Công nhân Nhật Bản đợc đào tạo

theo hớng tổng hợp, không chuyên môn hoá nên họ rất dễ chuyển sang các
ngành khác. Tỉ lệ những ngời mới tham gia lực lợng lao động có trình độ
đại học tăng mạnh, gấp 4 lần từ 1975 đến 1995, các hình thức ở Nhật Bản rất
đa dạng, ngoài hệ thống trờng chính quy nhà nớc còn mở các lớp dài hạn,
ngắn hạn đặc biệt Nhật Bản đã sử dụng chơng trình truyền hình giáo dục để
hớng dẫn cho nông dân và trang trại. Phơng pháp quản lí và áp dụng kỹ thuật
vào sản xuất. Nhật Bản cũng rất quan tâm nâng cao kiến thức và kĩ năng cho
dân chúng. Sách, tạp chí đợc dịch và xuất bản hàng năm. Giáo dục và đào tạo
của Nhật Bản nh trong giáo dục phổ cập với mục tiêu để cho ngời học nắm
đợc kiến thức thực tế, nắm vững bí quyết và phơng pháp sản xuất.
Các nớc khác cũng nhận thức đợc rằng trong điều kiện sản xuất từ nghèo
khổ, lao động rẻ thì điều kiện tiên quyết để tiến hành CNH-HĐH trong sản xuất
nông nghiệp phải coi trọng công tác giáo dục nhằm nâng cao chất lợng đội ngũ
lao động. Do đó các nớc đã có chiến lợc dài hạn cho công tác tăng cờng
ngân sách nhà n
ớc cho lĩnh vực này. Tỉ lệ phần trăm ngân sách dành cho giáo
dục và đào tạo nói chung của các nớc: Singapore (23%), Malaixia (20%), Thái
Lan (21%), Trung Quốc (16%), Việt Nam (11%) [dt 32].

25
Một kinh nghiệm quan trọng của các nớc ASEAN là quan tâm phát
triển hợp lí hệ thống giáo dục, coi trọng việc huấn luyện tại cơ sở sản xuất,
chú trọng tới việc giáo dục văn hoá truyền thống và giáo dục hớng nghiệp
cho ngời lao động. Đặc biệt chính phủ các nớc quan tâm tới việc giáo dục
hớng nghiệp từ phổ thông đến đại học, thúc đẩy ứng dụng khoa học công
nghệ nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật cho ngời lao động.
Hiện tợng chung của các nớc là thiếu nguồn nhân lực có đủ trình độ để
đáp ứng yêu cầu sản xuất, nhất là nguồn nhân lực ở các trang trại. ở đây có
vấn đề đặc biệt là ở các nớc phát triển chậm, điều kiện lao động ở nông thôn
còn khó khăn nhng chính phủ cha có chính sách thu hút lực lợng lao động

có đủ trình độ về khu vực nông nghiệp nông thôn. Mặt khác do ảnh hởng của
t tởng cũ nên những ngời đợc đào tạo cha sẵn sàng về lao động ở khu vực
này. Vì vậy, việc cần bổ sung và đa dạng hoá các cơ sở giáo dục hớng nghiệp
cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện phát triển rộng rãi mạng lới
khuyến nông, giúp đỡ các tổ chức cá nhân đầu t vào nghiên cứu khoa học kỹ
thuật, kêu gọi các nhà khoa học đang sống ở nớc ngoài tham gia xây dựng
đất nớc là việc làm cần thiết đợc chính phủ các nớc quan tâm.
ở Hàn Quốc sau khi tự túc đợc lơng thực (năm 1975), các trang trại
bắt đầu đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, tăng các loại cây trồng có giá trị kinh tế
cao. Các trang trại ứng dụng ngày càng nhiều các tiến bộ khoa học và công
nghệ trên các lĩnh vực sinh học, hoá học, cơ điện, tin học Một trong những
chính sách táo bạo nhất của Hàn Quốc để thực hiện CNH- HĐH, trong những
năm 70 chính phủ đã tăng chỉ tiêu của các trờng đại học về khoa học và cơ
khí, các trờng cao đẳng kỹ thuật và trung cấp. Cùng thời gian này, chính phủ
mở thêm 22 trung tâm dạy nghề và viện nghiên cứu khoa học công nghệ trong
đó các trờng, trung tâm phục vụ khu vực nông nghiệp nông thôn chiếm tỉ lệ
đáng kể. Năm 1996, Hàn Quốc ban hành luật nghề để phát triển lực l
ợng lao
động có tay nghề và bắt buộc các xí nghiệp, các trang trại phải có chơng
trình đào tạo tại cơ sở.

×