Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

THI TUYEN SINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (120.62 KB, 5 trang )

(1)

ĐỀ THI TUYỂN SINH CAO ĐẲNG NĂM 2010
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C, D


PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I (2,0 điểm)


Anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về cái tơi trữ tình trong bài thơ Vội vàng
của Xuân Diệu


Câu II (3,0 điểm)


Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị
về mối quan hệ giữa tài và đức.


PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)


Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo chương trinh Chuẩn (5.0 điểm)


Trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) Nguyễn Khoa
Điềm viết:


Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm


Đất Nước là nơi ta hò hẹn


Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hồng bay về hịn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ơng móng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẳng



Không gian mênh mông


Đất Nước là nơi dân mình đồn tụ
Đất là nơi Chim về


Nước là nơi Rồng ở


Lạc Long Quân và Âu Cơ


Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng


(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.118 – 119)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên để làm rõ nét mới lạ, sâu sắc trong
cách cảm nhận của nhà thơ về đất nước.


Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)


Anh/chị hãy phân tích những nét đẹp trong nhân cách của nhân vật bà
Hiền (Một người Hà Nội – Nguyễn Khải) để làm rõ lời bình luận của
người kể chuyện:


“Một người như cơ phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội
rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở
mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng
những ánh vàng”



(2)

BÀI GIẢI GỢI Ý


Câu I. Nhận xét về “cái tôi” trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu :


Xuân Diệu (1916 – 1985) là “ơng Hồng của thơ ca tình u” và là nhà
thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (theo Hoài Thanh) trước Cách mạng tháng
Tám đã mang đến cho thơ ca dân tộc một “cái tơi” trữ tình mới lạ, độc đáo : “Tôi
là Một, là Riêng, là Thứ nhất” (Xn Diệu). “Cái tơi trữ tình” ấy được thể hiện
rõ nét trong bài thơ Vội vàng:


- “Cái tơi trữ tình” như ơng Hồng ngạo nghễ với khát vọng sống mãnh
liệt.


- “Cái tơi trữ tình” tràn đầy mộng mơ nhưng rất chân thực, thắm thiết với
mùa xuân cuộc đời, hạnh phúc trần thế.


- “Cái tơi trữ tình” vừa cơ đơn, chán nản, vừa yêu đời say đắm, cuống
quýt, vội vàng, thật dữ dội.


Đó là một “cái tơi trữ tình” sáng ngời giá trị nhân văn trong thơ ca hiện
đại.


Câu II.


Văn bản phải đáp ứng các yêu cầu của đề bài về tính chất (văn bản), về
độ dài (600 từ), về nội dung (suy nghĩ về mối quan hệ giữa tài và đức).


Thí sinh có thể trình bày nội dung theo những cách khác nhau. Sau đây là
một số gợi ý:


- Giải thích khái niệm:


+ Tài: tài năng, năng lực, kỹ năng kỹ xảo của con người trong lao động.
Tài là kết quả của nhiều yếu tố : năng khiếu bẩm sinh, sự cần cù trong học


tập, sự chăm chỉ rèn luyện trong lao động và cuộc sống. Tài biểu hiện
trong lao động chân tay và lao động trí óc.


+ Đức: đạo đức, phẩm chất đạo đức, nhân cách của một con người. Đức là
kết quả của nhiều yếu tố: bản chất thiên phú, môi trường sinh sống, học
tập trong gia đình, nhà trường xã hội, cơng phu trau dồi, tu dưỡng bản thân
được soi sáng bởi một lý tưởng. Đức biểu hiện trong suy nghĩ, lời nói,
hành động của con người và trở thành một lẽ sống đẹp.


- Nghị luận mối quan hệ khắng khít giữa tài và đức:


+ Có tài mà khơng có đức là người khơng trọn vẹn. Họ có thể được nhiều
người nể phục. Nhưng họ dễ trở nên kiêu căng, ngạo mạn, độc ác, dễ trở
thành kẻ xấu xa, nguy hiểm cho gia đình, xã hội, con người (người con bất
hiếu, học trò bất xứng, cơng dân phạm pháp).



(3)

khó thực hiện được chức trách, khó hồn thành được nhiệm vụ và khó có
kết quả cao trong cơng việc.


+ Đức và tài có quan hệ gắn bó nhau. Đức là nền tảng giúp cho tài bay cao
vững chắc. Thiếu đức, tài sẽ giống như quả bóng khơng được sợi dây níu
giữ: quả bóng khơng càng bay cao càng dễ vỡ, quả bóng mang độc tố càng
bay cao càng nguy hiểm. Đức giúp tài được nâng cao giá trị của sự tài ba.
Có tài, tấm gương sáng của đức lại càng thêm tỏa sáng.


+ Trước đây, cha anh ta quan niệm tài và đức là chuyên và hồng. Hồ chủ
tịch cũng từng nói : có tài mà khơng có đức thì vơ dụng; có đức mà khơng
có tài thì làm việc gì cũng khó. Người có đức có tài là người cao quý, là
hiền tài, là vốn quý của quốc gia.



- Bài học được rút ra:


+ Về nhận thức: thấy được mối quan hệ gắn bó khắng khít giữa tài và đức;
ngày nay, tài là kỹ năng nghề nghiệp, óc sáng tạo; đức là phẩm chất của
người Việt Nam yêu nước, yêu người, phấn đấu cho lý tưởng dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, ấm no, hạnh phúc.


+ Về tình cảm: tình cảm làm cơ sở cho sự rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng
cho đức và tài là tình cảm chân thật yêu nước, yêu người.


+ Có quyết tâm phấn đấu, rèn luyện bản thân trở thành người thật sự có
tài, có đức góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn hội
nhập hiện nay.


CÂU III.a.


1/ Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ
những năm chống Mĩ – thế hệ có những đóng góp nổi bật vào thơ ca Việt Nam
những năm này, đã đem đến cho thơ tiếng nói trữ tình mới mẻ của tuổi trẻ.
- Trong thơ thời chống Mĩ, chủ đề Đất nước vốn là chủ đề bao trùm.
Những cảm nhận về Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm thời kỳ này có những nét
riêng biệt mang dấu ấn của sự trải nghiệm bằng chính cuộc sống của mình.




2/ Cảm nhận về Đất Nước:


- Đoạn thơ về Đất Nước bắt đầu một cách rất bình dị, tạo một sự gần gũi,
thân thiết mà không bắt đầu một cách trang trọng..




(4)

truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ đã nói lên chiều sâu lịch sử của Đất
nước Việt Nam. Về mặt khơng gian địa lí, Đất nước khơng chỉ là núi sơng, rừng
bể (con chim Phượng Hồng… con cá Ngư Ơng,…) mà cịn là cái khơng gian rất
gần gũi với cuộc sống mỗi người. “Đất là nơi anh đến trường, Nước là nơi em
tắm... Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” – Và cũng là
không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ.


- Nguyễn Khoa Điềm đã tập trung cảm nhận về nguồn cội của Đất nước:
một dân tộc cao quý “cha rồng, mẹ tiên” thể hiện niềm tự hào dân tộc. Tác giả đã
mượn truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ để nói lên bề dày lịch sử và
tình cảm thiêng liêng về dân tộc – đất nước.


Tác giả sử dụng sáng tạo các yếu tố của ca dao, truyền thuyết dân gian.
Có lúc lấy lại từng phần của câu ca dao, nhưng phần nhiều là sử dụng ý, hình ảnh
tạo nên hình tượng thơ mới, vừa gần gũi vừa mới mẻ (Đất nước là nơi em đánh
rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…)


Ở trên chiều rộng của khơng gian địa lí và chiều dài của thời gian lịch sử,
Đất nước được cảm nhận như sự thống nhất các phương diện văn hóa, truyền
thống, phong tục, cái hàng ngày và cái vĩnh hằng, trong đời sống mỗi cá nhân và
cả cộng đồng…


- Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận về Đất Nước qua cái nhìn tổng hợp
nhiều chiều: chiều dài của thời gian - lịch sử, chiều rộng của không gian – địa lý
và chiều sâu của truyền thống văn hóa dân tộc, mỗi chi tiết thơ, hình ảnh thơ vừa
gần gũi đời thường vừa thắm đẫm chất liệu văn hóa dân gian, đều mang cả 3
bình diện trên và để sau này qui chiếu về tư tưởng cốt lõi: “Đất Nước của nhân
dân, của ca dao thần thoại”. Hình thức nghệ thuật điệp từ “là nơi” (chín lần trong
mười ba câu thơ ngắn) đã góp phần nhấn mạnh ý nghĩa thiêng liêng, nguồn cội
của Đất Nước.



3/ Tổng kết :


- Cái riêng biệt, độc đáo của đoạn thơ này là sự cảm nhận, phát hiện về
Đất nước trong một cái nhìn tổng hợp, tồn vẹn, mang đậm tư tưởng nhân dân,
sử dụng phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cách sáng tạo.
Tác giả đã dùng những hình ảnh rất bình dị, quen thuộc nhưng thơ mộng và đẹp
đẽ.


Câu III.b.


1. Giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm, đoạn văn trữ tình ngoại đề:
- Nguyễn Khải là nhà văn xông xáo, nhạy bén với những vấn đề thời sự,
có khả năng phân tích tâm lí sắc sảo; ở giai đoạn đổi mới, ơng đặc biệt quan tâm
đến số phận cá nhân trong cuộc sống đời thường; giọng văn đôn hậu, trầm lắng,
nhiều chiêm nghiệm.



(5)

- Câu trữ tình ngoại đề (lời bình luận) với cách so sánh độc đáo và chứa
chan tình cảm trân trọng.


2. Về nét đẹp trong nhân cách Hiền :


- Không thuộc kiểu người xuất chúng, bà Hiền là một người Hà Nội bình
thường nhưng rất đậm cốt cách Hà Nội. Đó là sự nhuần nhuyễn giữa nét đẹp
riêng của đất kinh kì với phẩm chất chung của một người Việt (giản dị mà lịch
lãm, thiết thực mà sang trọng, cần mẫn mà tài hoa, chân thực mà tinh tế sâu
sắc…).


- Phẩm chất bền vững thuộc về đạo lí làm người mn đời chính là căn
cốt giúp bà Hiền có thể sống tốt, sống đẹp ở mọi thời, trong mọi mối quan hệ gia


đình và xã hội, dù thời cuộc có lúc thăng trầm (khơn ngoan mà tự trọng, thức
thời mà chu đáo, linh hoạt mà trung thực, đôn hậu mà bản lĩnh, trọn vẹn cả việc
nước việc nhà…).


3. Ý nghĩa của hình ảnh so sánh :


- Hạt bụi vàng là hình ảnh của một sự vật nhỏ bé, khiêm nhường mà cao
đẹp, quý báu. Nhiều hạt bụi vàng như thế hợp lại thành ánh vàng chói sáng, đó là
phẩm giá đã thành bản sắc Hà Nội, thành truyền thống của người Hà Nội nghìn
năm văn hiến.


- Là hình ảnh so sánh đặc sắc thể hiện sự khái quát nghệ thuật cao, trong
đó có sự đối lập mà thống nhất giữa thân phận và giá trị, biểu hiện được sự gắn
bó giữa cá nhân với cộng đồng; chứa đựng niềm trân trọng và tự hào của tác giả.
Hình ảnh ấy giúp Nguyễn Khải cơ đúc được tồn bộ phẩm chất phong phú của
nhân vật vào một chi tiết nhỏ nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng, gây ấn tượng sâu
đậm đối với người đọc.


- Câu trữ tình ngoại đề đã khái quát được vẻ đẹp trong cách nghĩ, cách
làm, cách sống của một người Hà Nội.





Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×