Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Tài liệu Mãn kinh và những thay đổi về xương doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (141.58 KB, 5 trang )

Mãn kinh và những thay đổi về xương

Tuổi càng cao, sức khỏe cũng như vóc dáng của con
người sẽ thay đổi. Ở độ tuổi 40-50, đối với phụ nữ cơ thể
sẽ "xuống dốc không phanh" với những biểu hiện: da
nhăn nheo, vòng 2 biến dạng trong khi vòng 1 lại nhỏ
đi... Nhưng có một sự thay đổi lớn mà ít người nhận ra
đó là sự thay đổi về xương, nhất là ở phụ nữ tuổi mãn
kinh.
Từ nhỏ cho đến khi lớn lên lượng xương trong cơ thể người
phụ nữ tăng dần, khoảng 25-30 tuổi thì đạt đến đỉnh cao.
Nhân tố di truyền có ý nghĩa quyết định đối với sự phát
triển của xương (80%), 20% là do chế độ ăn uống, vận
động, hormon, thuốc và bệnh mạn tính quyết định.
Trong giai đoạn phát dục, cơ thể cần
bổ sung lượng canxi thích hợp để phát
triển xương. Vì thế, nếu không chú ý
bồi dưỡng sức khỏe ở giai đoạn này
thì hệ xương kém phát triển mà biểu
hiện cụ thể nhất là chiều cao phát
triển kém. Phụ nữ có mật độ xương ở
mức cao nhất ở lứa tuổi 30 và họ cần
phải có đủ lượng canxi để tạo xương
và duy trì sức khỏe ở giai đoạn còn
lại. Ngoài 30 tuổi, lượng xương của
người phụ nữ dần dần thoái hóa (mỗi
năm giảm 0,25%-1%), và sau khi mãn
kinh (trong vòng 15 năm đầu) do lượng oestrogen giảm nên
tốc độ thoái hóa xương khá nhanh, mỗi năm giảm 1%-5%.
Trong khoảng thời gian 3-5 năm đầu sau khi mãn kinh, sự
thoái hóa xương xảy ra nhanh nhất, với biểu hiện chủ yếu


là hiện tượng xốp xương. Thêm vào đó là quá trình già hóa
nên công năng của tế bào xương giảm, sự hấp thụ canxi và
sự tổng hợp vitamin D kém đi... làm ảnh hưởng xấu đến
cấu trúc của xương.

Luyện tập những
động tác phù hợp
hằng ngày để xương
chắc khỏe.
Bước sang tuổi 60-70, xương của người phụ nữ yếu hẳn,
sụn và các đĩa đệm xẹp xuống, biểu hiện rõ nhất là lưng bị
còng. Theo thống kê, có tới 40% phụ nữ ở độ tuổi trên 50
mắc các chứng bệnh về xương như đau lưng, đau vai, mỏi
gối, gãy xương... Sau mãn kinh, loãng xương tiến triển theo
thời gian, xương mất nhiều lên. Kết quả là một hoặc nhiều
xương bị gãy, và sau đó là đau kéo dài và tàn tật. Chẩn
đoán loãng xương càng sớm càng tốt là bước rất quan trọng
để giúp hạn chế mất xương ở giai đoạn sớm nhất có thể.
Mãn kinh là nguyên nhân quan trọng nhất gây loãng xương.
Tuy nhiên không phải người phụ nữ nào ở tuổi mãn kinh
cũng bị loãng xương mà chỉ có khoảng 30% số người bị
bệnh loãng xương, và ở độ tuổi ngoài 75 thì tỷ lệ này chiếm
tới 40%-60%.
Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, những nhân tố
dễ gây loãng xương là: di truyền, nghiện thuốc lá, nghiện
rượu, dùng đồ uống có hàm lượng caffein quá cao, ít vận
động mạnh, thiếu canxi, mãn kinh quá sớm... Ngoài ra, tác
dụng phụ của một số loại thuốc cũng có thể gây loãng
xương.
Để hạn chế những tác động xấu do loãng xương ở phụ nữ

trong giai đoạn mãn kinh. Cần có một chế độ ăn uống đủ
chất: canxi, florua, magiê, và bổ sung vitamin D bằng cả
việc ăn uống kết hợp với hoạt động ngoài trời, tăng cơ hội
sưởi nắng để làm tăng lượng vitamin D3 tổng hợp ở tế bào
da, làm tăng khả năng hấp thụ canxi qua đường tiêu hóa,
làm cho xương chắc hơn. Bạn cũng nên bổ sung đầy đủ
canxi tối thiểu 1.000mg/ngày; sử dụng liệu pháp nội tiết tố
thay thế ở giai đoạn mãn kinh theo chỉ định của bác sĩ. Đối
với một số trường hợp cần phải được bổ sung oestrogen và
canxi, hạn chế tối thiểu hiện tượng gãy xương. Để tránh
phát sinh hiện tượng gãy xương, phụ nữ ở giai đoạn tiền
mãn kinh nên chú ý đề phòng trượt ngã. Muốn giảm chứng
loãng xương, ngoài việc kết hợp ăn uống, bạn cũng phải có
một chế độ luyện tập thích hợp như chơi thể thao (bóng
bàn, cầu lông, tennis...), đi bộ đúng cách. Nên tránh những
môn thể thao hay ngã như đạp xe ở địa hình gồ ghề, đấu
vật, thể hình... Hạn chế đưa vào cơ thể những chất góp
phần làm mất canxi và magiê như đồ uống có caffein, nước
ngọt có gas, chất cồn và muối. Thừa cân cũng làm bộ
xương mỏng mảnh chịu lực nhiều hơn. Vì thế, bạn phải giữ
ổn định trọng lượng. Các sản phẩm từ sữa là nguồn cung
cấp canxi rất tốt. Lưu ý, bạn chỉ nên dùng các loại sữa và
sản phẩm từ sữa có lượng chất béo thấp.

×