Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Tài liệu ĐỒ ÁN " MẠNG DI ĐỘNG GSM" PHẦN 2 ( CHƯƠNG 5 MẠNG BÁO HIỆU SÔ S7) docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (183.65 KB, 10 trang )

Nguyễn Hà Dương - Lớp ĐTVT4 - Khoá 41 Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG 5
MẠNG BÁO HIỆU SỐ 7
5.1 Cấu trúc mạng báo hiệu
Theo quan điểm chung, mạng viễn thông được cấu trúc theo hai mức khác
nhau : mức quốc tế và mức quốc gia. Cấu trúc này cũng được áp dụng cho mạng
báo hiệu. Người ta chia ra mạng báo hiệu quốc gia và mạng báo hiệu quốc tế.
Các mạng báo hiệu này có thể có các cấu trúc riêng (Hình 5.1).
Mạng được chia thành các vùng báo hiệu (Hình 5.2), mỗi vùng được phục vụ
bởi một cặp tổng đài STP. Một mạng báo hiệu quốc gia như vậy được dùng để
báo hiệu tới các tổng đài trong các vùng báo hiệu kề nhau. Vì vậy ta có một hệ
thống báo hiệu gồm 3 mức :
1. Các điểm chuyển giao báo hiệu quốc gia (STP).
2. Các điểm chuyển giao báo hiệu vùng (STP).
3. Các điểm báo hiệu (SP).
Lượng tải ở các tổng đài điểm chuyển giao báo hiệu sẽ giảm xuống do đặt các
tổng đài này ở hai mức. Một thuận lợi khác của sự sắp xếp này là một mạng báo
90
Country 1
Country 2
International
Network
National
Network
Hình 5.1 Cấu trúc mạng báo hiệu
Nguyễn Hà Dương - Lớp ĐTVT4 - Khoá 41 Đồ án tốt nghiệp
hiệu mạnh hơn bởi vì khi các lỗi xuất hiện ở trong một vùng báo hiệu thì hầu
như không ảnh hưởng tới phần còn lại của mạng.
Mỗi tổng đài luôn có hai kênh báo hiệu nối chúng lại với nhau. Truyền dẫn
tốc độ cao cho phép nhiều tổng đài thực hiện công việc của chúng với chỉ một
kênh báo hiệu, nhưng vì lý do tin cậy... có ít nhất hai kênh báo hiệu riêng biệt


được sử dụng (thường có các kênh báo hiệu nối giữa hai điểm chuyển giao báo
hiệu khác nhau).

STP tổ hợp / STP không tổ hợp :
Có hai loại STP được sử dụng trong mạng báo hiệu là :
 STP tổ hợp (Intergrated STP) :
STP tổ hợp thường là tổng đài nội hạt hoặc tổng đài quá giang. Điều này có
nghĩa là chỉ một phần dung lượng của bộ xử lý có thể được sử dụng cho chức
năng STP. STP tổ hợp có các ưu điểm sau :
 Thực hiện nhanh.
 Hiệu quả giá thành (dùng dung lượng dự trữ ở tổng đài đã lắp đặt).
 Tổng lưu lượng báo hiệu thấp hơn ( lưu lượng trên các tuyến giữa các SP
và các STP không cần chuyển giao tín hiệu - không có lưu lượng STP).
91
Reg
STP
SP11
Reg
STP
SP12
Reg
STP
Reg
STP
SP22SP21
National STP National STP
National STP National STP
Region 1
Region 2
Hình 5.2 Mạng báo hiệu

National
Network
Nguyễn Hà Dương - Lớp ĐTVT4 - Khoá 41 Đồ án tốt nghiệp
 STP không tổ hợp hay STP đứng một mình (Stand Alone STP) :
STP không tổ hợp là một tổng đài rất đơn giản. Nó bao gồm hệ thống xử lý
(APZ) và các kết cuối báo hiệu (ST) và phân hệ báo hiệu kênh chung (ở AXE).
STP không tổ hợp có các ưu điểm sau :
 Toàn bộ dung lượng của bộ xử lý dùng cho chức năng STP.
 STP không bị ảnh hưởng bởi lỗi ở các phần khác của tổng đài như ở các
STP tổ hợp.
5.2 Đánh số các điểm báo hiệu
Để thuận tiện cho việc nhận dạng các tổng đài trong một mạng, tất cả các
điểm chuyển giao báo hiệu và các điểm báo hiệu đều được đánh số theo một hệ
thống xác định trước. Khi một thông báo được gửi từ một điểm báo hiệu này tới
một điểm báo hiệu khác, các số này được đại diện bởi mã điểm đích Destination
Point Code (DPC) và mã điểm nguồn Originating Point Code (OPC) trong khối
tín hiệu tin báo (MSU).
Tất cả các tổng đài trong mạng báo hiệu đều có các số duy nhất của nó. Tuy
nhiên việc đánh số tương tự có thể được sử dụng trong một mạng khác nào đó.
5.3 Các điểm đích trong mạng báo hiệu
Mỗi một Khối tín hiệu thông báo (MSU) chứa một nhãn. Nhãn cho một thông
báo (MSU - TUP) liên quan đến một cuộc nói chuyện điện thoại có dạng như
sau:
CIC OPC DPC
 CIC (Circuit Identification Code - Mã nhận dạng mạch) : Nhận dạng
mạch thoại mà tin báo thuộc về nó.
 OPC (Originating Point Code - Mã điểm nguồn ) : Nhận dạng điểm báo
hiệu mà sinh ra tin báo.
 DPC (Destination Point Code - Mã điểm đích) : Nhận dạng điểm báo hiệu
mà tin báo dự định gửi cho nó.

Số của điểm báo hiệu mà được đưa ra ở DPC là đích của tin báo mạng báo
hiệu (DEST). Trong một tổng đài có một DEST cho mỗi đường thoại đi ra. Điều
này nghĩa là sau khi có một đường thoại được chọn cho một cuộc gọi, điểm báo
hiệu biết DEST mà các tin báo hiệu thuộc về (nó) sẽ được gửi tới nó. DEST
được đặt trong mã điểm đích (DPC) của nhãn cùng với số kết nối thoại trong
Mã nhận dạng mạch CIC và số của tổng đài gửi tin báo trong Mã điểm nguồn
(OPC).
Sau khi một thông báo được nhận dạng ở điểm báo hiệu phù hợp với Mã điểm
nhận (DPC) của nhãn thì cuộc nối thoại phải được nhận dạng. Điều này được
92
Nguyễn Hà Dương - Lớp ĐTVT4 - Khoá 41 Đồ án tốt nghiệp
tiến hành nhờ Mã điểm nguồn (OPC) và Mã nhận dạng mạch (CIC), đó là tổng
đài nguồn và số của cuộc nối thoại giữa hai tổng đài.
Vậy, nếu một cuộc nối thoại không thuộc vào một tuyến từ một tổng đài
nguồn thì tổng đài đích sẽ không thể thiết lập cuộc nối thoại. Kết quả sẽ là một
tin báo báo hiệu “vô chủ” mà không thể được dịch trong điểm báo hiệu nhận.
Trong trường hợp giữa tổng đài nguồn và tổng đài đích không có đường thoại
trực tiếp, thí dụ : một cuộc gọi từ A tới C. Khi đó cuộc nối thoại tất nhiên là
hướng về phía tổng đài đích (C) theo cách bình thường bằng một hoặc nhiều
hơn các tổng đài quá giang (B) (B có các đường thoại trực tiếp tới Avà C). Từ
một tổng đài nguồn (A) một đường thoại tới tổng đài chuyển tiếp (B) sẽ được
chọn, và DEST liên kết với đường thoại đó sẽ được dùng cho các tin báo báo
hiệu. Các thông báo báo hiệu bây giờ sẽ được gửi đến tổng đài quá giang B.
Từ tổng đài quá giang B, một đường thoại tới C sẽ được chọn và DEST liên
kết với đường này sẽ được dùng cho các tin báo báo hiệu. Vì vậy các tin báo
báo hiệu sẽ được hướng tới tới tổng đài quá giang tiếp theo hay tới tổng đài đầu
cuối (C). Do đó các đích phù hợp (DEST) phải được xác định ở mỗi điểm báo
hiệu.
Các quy tắc để xác định DEST :
 (SP) - Trong một điểm báo hiệu, DEST được đặt để đại diện cho các đích

mà các điểm báo hiệu nối tới chúng bằng các đường thoại trực tiếp.
 (STP) - Trong một điểm chuyển giao báo hiệu, DEST được đặt để đại diện
cho các đích mà điểm báo hiệu của nó và các điểm báo hiệu phụ thuộc được
nối bằng các đường thoại trực tiếp.
Chú ý rằng càng xa các điểm chuyển giao báo hiệu có liên quan, quy tắc cơ
bản cho DEST được bổ sung trong đó nó cũng bao gồm cả các điểm báo hiệu bổ
sung.
5.4 Định tuyến trong mạng báo hiệu
Quá trình định tuyến gồm 2 giai đoạn sau :
Một chùm kênh báo hiệu sẽ được chọn cho một Mã điểm đích (DPC) riêng
biệt. Lựa chọn này phụ thuộc vào các quyền ưu tiên mà đã được ấn định trước
đối với các chùm kênh báo hiệu cho đích liên quan.
Nếu chùm kênh báo hiệu này có hơn một đường báo hiệu, một phần của mã
nhận dạng mạch (CIC) được dùng để quyết định kênh báo hiệu nào trong chùm
kênh báo hiệu nên được sử dụng.
Tất cả các đích (DEST) trong mỗi điểm báo hiệu cần phải được xác định với
các yếu tố đáng quan tâm sau :
 Các chùm kênh báo hiệu được sử dụng.
93
Nguyễn Hà Dương - Lớp ĐTVT4 - Khoá 41 Đồ án tốt nghiệp
 Trật tự ưu tiên giữa các bộ đường nối.
Hai chùm kênh báo hiệu (LS) được xác định cho mỗi DEST và các chùm
kênh báo hiệu này được ấn định các sự ưu tiên (PRIO). PRIO có thể có một
hoặc hai giá trị.
Nếu một trong các chùm kênh báo hiệu có PRIO = 1 và các kênh báo hiệu
khác có PRIO = 2 thì các thông báo sẽ được gửi lên chùm kênh báo hiệu có
PRIO =1 lâu đến chừng nào các chức năng của chùm kênh báo hiệu này hoàn
thành. Nếu có cùng mức ưu tiên là PRIO =1 ấn định cho cả 2 chùm kênh báo
hiệu thì các chùm kênh báo hiệu này sẽ hoạt đông theo quy tắc chia tải.
Chia tải hoạt động bằng cách sử dụng một trong các bit số 1 và số 2 trong mã

nhận dạng mạch (CIC). (Hình 5.3). Giá trị này trong bit chỉ ra chùm nào trong 2
chùm kênh báo hiệu nên được dùng. Bit số 1 được dùng ở các điểm báo hiệu
(SP) và các (STP) quốc gia, trong khi đó bit số 2 được dùng trong các STP
vùng.

Nếu giá trị bit được dùng là 0 thì chùm kênh báo hiệu mà được xác định đầu
tiên sẽ được chọn. Nếu giá trị là 1 thì chùm kênh báo hiệu mà được xác định
cuối cùng sẽ được chọn. Cách sử dụng mã nhận dạng mạch này đảm bảo việc
chọn đường qua cùng một đường mạng của tất cả các tin báo phụ thuộc vào một
cuộc gọi đặc trưng. Một điều kiện tiên quyết cho điều này đó là chùm kênh báo
hiệu được chọn không bị lỗi.
Việc chia tải được sử dụng cho sự mở rộng lớn nhất có thể, trừ trong các
trường hợp nơi mà ở đó có một chùm kênh báo hiệu trực tiếp tới đích liên quan.
Trong trường hợp này chùm kênh báo hiệu trực tiếp được ấn định PRIO = 1 và
các chùm kênh báo hiệu khác PRIO = 2. Tuy nhiên, quy tắc này cũng có một số
ngoại lệ.
11
3 2 1 0
11
3 2 1 0
94
SP and National STP
Regional STP
CIC
Bit
CIC
0 or 1
0 or 1
Hình 5.3
Bit

0 or 1

×