Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

HOC SINH PTTH CHI HOC 4 MON BAT BUOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (676.73 KB, 6 trang )

(1)

Thứ 5, Ngày 06.08.2015



Học sinh THPT sẽ chỉ học 4 môn bắt buộc


06/08/2015 09:33 GMT+7



TT - Theo dự thảo mới nhất của chương trình giáo dục phổ thơng, thay vì phải học 13 mơn như hiện nay, học


sinh THCS sẽ chỉ phải học 7 - 8 môn bắt buộc và 4 môn đối với bậc THPT.



Học sinh của một số trường THCS, THPT trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tham gia lớp học thực tế giữa rừng xanh. Theo dự thảo chương
trình phổ thơng mới, Bộ GD-ĐT rất chú trọng đến các hoạt động sáng tạo, trải nghiệm của học sinh - Ảnh: Phan Thành


Dự thảo mới nhất chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể vừa được Bộ GD-ĐT điều chỉnh, hoàn thành. Theo dự thảo này, thay vì học
sinh phải học 13 mơn như hiện nay, số mơn học bắt buộc sẽ giảm chỉ cịn 7 - 8 mơn đối với THCS và cịn 4 mơn đối với THPT.
Theo dự thảo, sẽ có những mơn học mới được tích hợp từ các mơn học truyền thống, hoặc thay tên gọi để phù hợp với sự thay đổi nội
dung, tính chất, ý nghĩa giáo dục.


Dựa trên nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông, các trường được phép xây dựng hoặc yêu
cầu xây dựng kế hoạch giáo dục cho trường mình một cách linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể của địa phương. Việc này cũng phù hợp trong bối cảnh có nhiều bộ sách giáo khoa - tài liệu chính được sử dụng
trong thời gian tới



(2)

Nội dung học tự chọn tăng dần


Trao đổi với Tuổi Trẻ, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “Hệ thống môn học trong chương trình giáo dục phổ thơng
tổng thể được thiết kế theo định hướng đảm bảo cân đối nội dung các lĩnh vực giáo dục, phù hợp với từng cấp học, lớp học, thống nhất
giữa các lớp trước và sau, tích hợp mạnh ở các lớp dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên. Hệ thống các môn học cũng điều chỉnh để
tương thích với nhiều nước trên thế giới”.


Theo thiết kế trong dự thảo trên, có tám lĩnh vực giáo dục xuyên suốt ba cấp học gồm ngôn ngữ và văn học, tốn học, đạo đức - cơng
dân, thể chất, nghệ thuật, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, cơng nghệ - tin học.



Mỗi lĩnh vực sẽ có các mơn học cốt lõi và có điều chỉnh theo lớp, cấp. Ví dụ lĩnh vực giáo dục khoa học ở lớp 1, 2, 3 sẽ có mơn học
cuộc sống quanh ta và tới lớp 4, 5 tách ra thành hai mơn tìm hiểu xã hội và tìm hiểu tự nhiên, tương ứng với hai mơn khoa học xã hội
(tích hợp nội dung của các môn học truyền thống lịch sử, địa lý) và khoa học tự nhiên (tích hợp nội dung các mơn học truyền thống vật
lý, hóa học, sinh học).


Nếu ở giai đoạn giáo dục cơ bản (tiểu học, THCS) nhiều mơn học truyền thống được tích hợp trong mơn học mới thì ở bậc THPT, một
số mơn học truyền thống được trở lại như vật lý, hóa học, sinh học, lịch sử, địa lý, bên cạnh đó là nhiều chuyên đề học tập mới mang
định hướng nghề nghiệp cao.


Điểm mới so với nhiều dự thảo trước đây là ở cả ba cấp học, hệ thống môn học đều được chia thành các môn bắt buộc và tự chọn.
Trong nhóm mơn học tự chọn cũng có nhiều loại: mơn tự chọn học sinh có thể chọn hoặc khơng chọn; những môn học sinh bắt buộc
phải lựa chọn một hoặc một số mơn trong nhóm; nội dung học sinh có thể lựa chọn trong một môn học... Nội dung tự chọn này sẽ tăng
dần từ lớp thấp lên lớp cao.


Ở bậc trung học, thay vì học sinh phải học 13 môn như hiện nay, số môn học bắt buộc sẽ giảm nhiều, chỉ cịn 7 - 8 mơn đối với THCS
và chỉ cịn 4 mơn đối với THPT. Các mơn ngữ văn, tốn, cơng dân với Tổ quốc và ngoại ngữ 1 (do trường chọn) là bốn môn bắt buộc
đối với học sinh THPT. Bên cạnh đó, học sinh THPT có thể tự chọn trong các mơn học, nhóm mơn học nội dung học tập phù hợp với
sở trường, định hướng nghề nghiệp.


“Trong cả cấp THPT, học sinh có thể thay đổi môn học tự chọn và chuyên đề học tập phù hợp với nguyện vọng. Nhưng học sinh sẽ
phải hồn thành số lượng mơn học, chun đề học tập tối thiểu theo quy định của chương trình. Chương trình sẽ dành thời lượng nhất
định để tạo điều kiện cho học sinh có thể thực hiện sự thay đổi này” - Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho biết.


Đề cao trải nghiệm sáng tạo


Với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh, trong định hướng xây dựng chương trình mơn học, Bộ GD-ĐT cũng đặt ra
các u cầu cụ thể, trong đó nhấn mạnh đến phương pháp dạy học, chú trọng tính thiết thực trong nội dung dạy học và hoạt động trải
nghiệm của học sinh, tùy theo đối tượng học sinh của mỗi cấp học, tùy theo đặc thù của từng môn học để xây dựng chương trình mơn
học phù hợp.



Ví dụ như mơn ngữ văn, phương pháp dạy học dựa trên nguyên tắc chủ đạo là học thơng qua hoạt động nhằm khuyến khích, tạo cơ hội
cho học sinh đọc, viết, nói, nghe, qua đó phát triển năng lực tư duy, cảm thụ văn học, năng lực hành dụng tiếng Việt; khuyến khích suy
nghĩ độc lập, sáng tạo, hạn chế ghi nhớ máy móc...


Một trong những điểm mới được lưu ý khi xây dựng chương trình giáo dục phổ thông lần này là hoạt động trải nghiệm sáng tạo và
nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Trong đó hoạt động trải nghiệm sáng tạo dành cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12.


Đây là cách vận dụng những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm bản thân vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống, qua đó hình thành
những năng lực chung và năng lực đặc thù (tổ chức hoạt động, quản lý cuộc sống, định hướng, chọn nghề...), phát huy năng khiếu riêng
của từng người.


Trải nghiệm sáng tạo được chú trọng trong từng môn học, đồng thời thiết kế thành các hoạt động riêng để vận dụng tổng hợp nhiều lĩnh
vực kiến thức, kỹ năng, đa dạng về hình thức tổ chức và phương pháp hoạt động phù hợp với những mục tiêu khác nhau.



(3)

sinh có cơ hội trải nghiệm với các ngành nghề khác nhau, bằng nhiều hình thức phong phú” - Thứ trưởng Hiển giải thích.


Nghiên cứu khoa học kỹ thuật và thực hiện các chuyên đề học tập cũng được quy định trong chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể.
Đây cũng là một hình thức trải nghiệm, là cách để học sinh biết vận dụng tổng hợp kiến thức của nhiều môn học để tạo nên các sản
phẩm thiết thực, hoặc giải quyết các tình huống, vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, gắn học với hành.


Việc tổ chức học tập theo chuyên đề, theo dự án học tập và nghiên cứu khoa học giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực tự học, tự
nghiên cứu, khả năng làm việc nhóm, làm quen với việc thảo luận, phản biện và biết cách trình bày, thuyết phục.


Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, những điểm nhấn của chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể và định hướng chương trình mơn
học này đều xuất phát từ việc nghiên cứu khoa học giáo dục, tổng kết thực tiễn và triển khai thực nghiệm tại các nhà trường ngay trong
chương trình phổ thơng hiện hành.


Có thể kể đến việc dạy học các chuyên đề tích hợp; tổ chức cuộc thi khoa học kỹ thuật, thi vận dụng kiến thức liên môn; thực hiện tự
chủ kế hoạch giáo dục nhà trường với việc chủ động thiết kế các dự án dạy học của giáo viên, học sinh; đổi mới phương pháp đánh giá
học sinh; đổi mới cách thức tổ chức, quản lý lớp học theo hướng để học sinh chủ động, sáng tạo, tự quản (mơ hình trường học mới


triển khai ở tiểu học và THCS)…


Được mời giáo viên thỉnh giảng


Việc tổ chức dạy học tự chọn dựa trên nhu cầu học sinh và điều kiện của mỗi trường. Các trường được phép mời giáo viên thỉnh
giảng hoặc gửi học sinh sang học ở các trường, nhóm/lớp lân cận nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của học sinh.


Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, để đảm bảo cho chương trình vừa ổn định vừa phát triển, sau khi đã ban hành chính thức, trong
q trình tổ chức thực hiện, chương trình vẫn được cán bộ quản lý, giáo viên, các trường, các cơ quan quản lý giáo dục và những
người quan tâm nhận xét, góp ý. Hằng năm Bộ GD-ĐT sẽ tổ chức đánh giá, xem xét điều chỉnh nếu cần thiết và hướng dẫn thực hiện
các điều chỉnh nếu có.


Thực hiện theo hình thức cuốn chiếu từ năm 2018


Năm học 2018 - 2019: triển khai chương trình sách giáo khoa mới ở lớp 1, lớp 6, lớp 10.
Năm học 2019 - 2020: triển khai ở lớp 2, lớp 7, lớp 11.


Năm học 2020 - 2021: triển khai ở lớp 3, lớp 8, lớp 12.
Năm học 2021 - 2022: triển khai ở lớp 4, lớp 9.
Năm học 2022 - 2023: triển khai ở lớp 5.


Trước đây, trong lịch sử giáo dục Việt Nam từng trải qua nhiều lần cải cách, đổi mới chương trình - sách giáo khoa phổ thơng:
- Cuộc cải cách giáo dục năm 1950.


- Cuộc cải cách năm 1956.


- Năm 1981, chương trình cải cách giáo dục đánh dấu việc thống nhất hệ thống giáo dục phổ thơng trên cả nước với việc chỉ có một
chương trình - sách giáo khoa.



(4)

* ThS Hà Hữu Thạch(hiệu trưởng Trường THPT Giồng Ông Tố, Q.2, TP.HCM):



Ông Hà Hữu Thạch - Ảnh: HOÀNG HƯƠNG


Học sinh dễ trang bị kiến thức cho nghề nghiệp sau này


Việc giảm từ 13 mơn học như hiện nay cịn 4 mơn học bắt buộc ở bậc THPT và 7 - 8 môn bậc THCS như dự thảo chương trình giáo
dục phổ thơng tổng thể đã nêu, theo tôi, là một sự chuyển biến mạnh, một bước tiến bộ đáng được ghi nhận của Bộ GD-ĐT. Bởi ai
cũng hiểu giảm số môn học bắt buộc sẽ giúp giảm sự quá tải cho học sinh phổ thông.


Việc giữ lại 4 môn học bắt buộc của bậc THPT là ngữ văn, tốn, cơng dân với Tổ quốc và ngoại ngữ 1 cũng khá phù hợp với định
hướng thi THPT quốc gia. Học sinh cũng dễ dàng xác định và đăng ký học các môn tự chọn để phục vụ cho nghề nghiệp của mình sau
này.


Tuy nhiên, tơi vẫn cịn băn khoăn là mơn cơng dân với Tổ quốc thực chất có phải là mơn đạo đức - giáo dục công dân hay không. Ý
kiến của tôi là mơn này cần có sự tích hợp kiến thức lịch sử vào thì mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục trong thời kỳ hội nhập như
hiện nay.



(5)

Ơng Nguyễn Quang Minh - Ảnh: HỒNG HƯƠNG


Giảm hàn lâm, lý thuyết; tăng ứng dụng, thực hành


Tôi cảm thấy băn khoăn với nội dung “bậc THPT chỉ còn 4 mơn bắt buộc” như dự thảo đề ra. Mới nhìn vào cứ tưởng việc giảm số
môn học là giảm tải cho học sinh. Nhưng trên thực tế sự quá tải là do chương trình giáo dục hiện nay quá hàn lâm, nặng lý thuyết,
nhồi nhét quá nhiều kiến thức. Nếu thật sự muốn giảm tải thì cần giảm bớt tính hàn lâm, lý thuyết, tăng tính ứng dụng, thực hành... để
khi học các em thấy được mơn học đó rất có ích trong cuộc sống. Như thế các em sẽ học nhẹ nhàng, thoải mái, thích thú hơn.
Nếu quy định bậc THPT chỉ có 4 mơn bắt buộc rất dễ dẫn đến tình trạng học sinh học lệch, sẽ có những môn học các em không bao
giờ biết tới mặc dù cuộc sống rất cần. Ví dụ như mơn lịch sử, địa lý rất cần thiết nhưng không hiểu tại sao lại không đưa vào danh
sách những môn bắt buộc hoặc tích hợp vào một trong bốn mơn bắt buộc như dự thảo đã nêu? Thử hỏi kỹ sư, bác sĩ mà không biết
đến lịch sử dân tộc, không biết địa lý khu vực sẽ thành người thế nào?




(6)

VĨNH HÀ



GS Đinh Quang Báo - Ảnh: VIỆT DŨNG


Các trường sư phạm phải vào cuộc


Để có thể thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thơng mới, vấn đề phải nghĩ tới từ khi xây dựng chương trình là đổi mới đào
tạo giáo viên. Một trong những điểm mới của chương trình giáo dục phổ thơng mới là việc dạy tích hợp (liên mơn và trong nội bộ
mơn học), trong khi trước đây giáo viên chỉ được đào tạo đơn mơn. Vì thế các trường sư phạm phải bắt nhịp để đổi mới đào tạo,
cung cấp nguồn giáo viên mới đáp ứng yêu cầu này.


Việc chuyển từ chủ yếu truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, phẩm chất người học có nghĩa giáo viên cũng cần trang bị nền
tảng tri thức rộng, được rèn luyện nhiều hơn về phương pháp, nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết về tâm lý giáo dục... Đây là những vấn đề
các trường sư phạm phải quan tâm vào cuộc để có thể đảm nhiệm vai trò tập huấn, đào tạo giáo viên đáp ứng điều kiện về nhân lực
cho chương trình giáo dục phổ thơng mới.


* Ơng Lê Ngọc Điệp(ngun trưởng phòng giáo dục tiểu học Sở GD-ĐT TP.HCM):


Hiện đại và bản sắc dân tộc


Chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể là chương trình mang tính hiện đại và bản sắc dân tộc. Ví dụ mục tiêu giáo dục cấp tiểu học
hiện hành còn được phát triển phẩm chất, năng lực và nhấn mạnh “định hướng chính vào giá trị gia đình, dịng tộc, q hương, những
thói quen cần thiết trong học tập và sinh hoạt”.


Hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho từng cấp học cũng rất rõ ràng, cụ thể. Các phẩm chất sống yêu thương, sống tự chủ, sống
trách nhiệm và các năng lực tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, giao tiếp, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông... Đây là
những phẩm chất của con người VN và những năng lực của con người VN hiện đại.






×