Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG DÂN SỰ CHUYÊN SÂU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (110.73 KB, 12 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TP. HỒ CHÍ MINH

BÀI THI
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN
SỰ
( Dân sự chuyên sâu 01, thi kỳ thi chính )
-----o0o-----

Họ và tên: TRẦN THIỆN NHÂN
Sinh ngày: 16/3/1977
SBD: 32 Lớp: Luật sư ( Đợt: 1)
Khoá 22 tại Hậu Giang

Hậu Giang, ngày 26 tháng 8 năm 2021

1


ĐỀ THI:
Phần I: Câu hỏi tự chọn
Câu 2 ( HS 24 ) Xác định tư cách đương sự và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án?
Giải thích lý do vì sao anh ( chị ) đưa ra quan điểm như vậy. ( 1.5 điểm )
Câu 4 ( HS 24) Xác định diện và hàng thừa kế của cụ Nguyễn Thăng, cụ Trần Thị Trọng,
cụ Nguyễn Thị Lan? Giải thích lý do vì sao anh ( chị ) đưa ra quan điểm như vậy. ( 1.5
điểm )
Câu 9 ( HS 24) Anh ( chị ) trình bày kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề tố tụng của
vụ án? ( 2 điểm )
Câu 13 ( HS 24) Anh ( chị )hãy dự kiến kế hoạch hỏi trình bày tại phiên toà sơ thẩm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn? ( 2 điểm )


Phần II: Câu hỏi bắt buộc
Câu 15 ( HS 24) Là luật sư bảo vệ cho bị đơn, anh ( chị ) hãy trình bày nội dung cơ bản
bản luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng? ( 3 điểm )

LS.HGk22_32_TranThienNhan_02_ThiChinhCSDS1 Ngày 26/8/2021

2


Câu 2 ( HS 24 ) Xác định tư cách đương sự và những vấn đề cần chứng minh trong vụ
án? Giải thích lý do vì sao anh ( chị ) đưa ra quan điểm như vậy. ( 1.5 điểm )
1. Xác định tư cách đương sự
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim Lan, sinh năm 1951
Cư trú: Số 18/42/3/17 đường Huỳnh tấn phát, khu phố 4, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè,
thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Nguyễn Huy Thành, sinh năm 1968
Cư trú: số 18A, khu 4, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1- Nguyễn Huy Lộc, sinh năm
1963 2- Nguyễn Huy Tài, sinh năm
1963
Cùng cư trú: số 18A, khu 4, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
3- Nguyễn Lan Tố Quyên, sinh năm 1971
Cư trú: phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, TP.HCM
4- Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1973
Cư trú: phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
5. Trần Thị Ngọc Phượng, sinh năm: 1965
Cư trú: KV 4, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, Tiền Giang.
6. Phạm Thị Tâm, sinh năm: 1968 (Ủy quyền cho Nguyễn Huy Tài, sinh năm
1963) Cư trú: KV 4, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, Tiền Giang.

7. Nguyễn Thị Nàng, sinh năm: 1970
8. Nguyễn Thành Huy, sinh năm: 1990
Cư trú: KV 4, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, Tiền Giang.
2. Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án
+ Tóm tắc sơ lược vụ án


Trong nội dung của vụ án là tranh chấp di sản thừa kế với diện tích đất 2.000m vng
và 01 căn nhà trên đất, do ông: Nguyễn Thăng đứng tên quyền sử dụng đất và ông Thăng
đã chết ngày 04/01/2002. Lúc cịn sống ơng Thăng có người vợ chính thức là bà Trần Thị
Trọng, sinh năm 1917 chết ngày 22/8/2007 và có một người con ni là bà Nguyễn Thị
Kim Lan (nguyên đơn của vụ án). Trong thời gian chung sống với bà Trọng, ơng Thăng
cịn chung sống với bà Nguyễn Thị Lan như vợ chồng, bà Lan sinh năm: 1936, chết năm
2007 và có 5 người con chung là (Nguyễn Huy Thành bị đơn) và bốn người con khác .
Theo như yêu cầu của nguyên đơn (trong đơn khởi kiện ngày 24/6/2020) là chia 2000
m2 đất và 1 căn nhà tường do cha bà ông Nguyễn Thăng đứng tên QSDĐ tọa lạc tại số
18 khu 4, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. ½ tài sản chung phân nửa của
mẹ bà cho bà được hưởng, phân nữa còn lại chia đều cho 6 người con, trong đó có
ngun đơn và 5 đứa con chung của ơng Nguyễn Thăng là bà Nguyễn Thị Lan.
+ Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án là:
-

Chứng minh yêu cầu của ngun đơn có hợp pháp và hợp tình khơng?
Chứng minh, làm rõ nghĩa vụ nuôi dưỡng của nguyên đơn đối với người để lại di
sản, có hay khơng có?
Làm rõ, chứng minh cơng sức đóng góp bồi bỗ, tu dưỡng di sản để lại của người để
lại di sản
Chứng minh hàng thừa kế có đúng, đủ như yêu cầu của nguyên đơn hay không?

Lý do cần xác định tư cách đương sự và những vấn đề cần chứng minh trong tình

tiết vụ án là rất quan trọng bởi vì:
Khi xác định tư cách đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là xác định người người được quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án dân sự.
Việc chứng minh là làm rõ thêm các tình tiết, sự kiện của vụ án, nhằm đảm bảo tính
chân thật, khách quan của vụ án dân sự. Và đối tượng chứng minh là những tình tiết
thuộc về nội dung, bản chất hoặc các tinh tiết khác liên quan cần phải được làm rõ
trong giải quyết vụ án dân sự. Các chủ thể chứng minh phải dựa trên cơ sở căn cứ
pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ án dân sự đó.
3. Xác định hàng thừa kế
Câu 4 ( HS 24) Xác định diện và hàng thừa kế của cụ Nguyễn Thăng, cụ Trần Thị Trọng,
cụ Nguyễn Thị Lan? Giải thích lý do vì sao anh ( chị ) đưa ra quan điểm như vậy. ( 1.5
điểm )


Xác định Diện và Hàng thừa kế của cụ Nguyễn Thăng, cụ Trần Thị Trọng, cụ
Nguyễn Thị Lan có quan hệ như sau:
Bà: Nguyễn Thị Kim Lan, sinh năm 1951 (con)
Cư trú: Số 18/42/3/17 đường Huỳnh tấn phát, khu phố 4, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè,
thành phố Hồ Chí Minh.
Ơng: Nguyễn Huy Thành, sinh năm 1968 (con)
Ơng: Nguyễn Huy Lộc, sinh năm 1963 (con)
Ông: Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1963 (con)
Ông Nguyễn Thành Huy, sinh năm: 1990 (cháu)
Bà: Trương Thị Hiếu Thảo, sinh năm 1980 (cháu)
Ông: Nguyễn Trần Hải Đăng, sinh năm 2000 (cháu)
Ông: Trương Thoại Khao, sinh năm 1977 (cháu)
Cùng cư trú: KV 4, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, Tiền Giang.
Bà: Nguyễn Lan Tố Quyên, sinh năm 1971 (con)
Cư trú: phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, TP.HCM

Bà: Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1973 (con)
Cư trú: phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
Căn cứ pháp lý Điều 651 quy định người thừa kế theo pháp luật, Điều 652 quy định về
thừa kế thế vị, Điều 653 quy định quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và
cha đẻ, mẹ đẻ. Điều 654 quy định Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế của
Bộ luật dân sự 2015 thì tất cả những người trên đây thuộc Diện thừa kế của cụ Nguyễn
Thăng, cụ Trần Thị Trọng và cụ Nguyễn Thị Lan. Các người con thuộc Hàng thừa kế thứ
nhất. Các người cháu thuộc hàng thừa kế thứ ba.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN
Câu 9 ( HS 24) Anh ( chị ) trình bày kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề tố tụng của vụ
án? ( 2 điểm )
1. Về tố tụng:
Thẩm quyền thụ lý giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Kim Lan, sinh năm 1951 có đơn khởi kiện ngày 24/6/2020, yêu cầu
chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thăng và cụ Trần Thị Trọng. Căn cứ Khoản 5 Điều 26


và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì đây là vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản và
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp Huyện. Việc Tòa án nhân dân huyện Cái Bè,
tỉnh Tiền Giang thụ lý, giải quyết là đúng quy định pháp luật.

Thời hiệu khởi kiện:
Đối với di sản của ông Thăng – bà Trọng: Căn cứ theo Khoản 1 Điều 623 Bộ luật
dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di
sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời điểm, địa điểm mở thừa kế. Ông
Thăng chết ngày 04/01/2002, bà Trọng chết ngày 22/8/2007. Bà Lan nộp hồ sơ khởi kiện
đòi cha di sản vào ngày 24/6/2020. Như vậy, yêu cầu phân chia di sản đối với phần tài sản
của ông Thăng trong khối tài sản chung của ông Thăng – bà Trọng vẫn còn thời hiệu khởi
kiện, tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định pháp luật.

Căn cứ điểm 2.4 điều 2 mục I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc không áp dụng thời
hiệu khởi kiện về quyền thừa kế thì trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Thăng
– bà Trọng vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
Xác định tư cách đương sự và quyền thừa kế
Theo quy định tại Điều 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74 ,75, 76 Bộ luật dân sự 2015 quy định
về quyền và nghĩa vụ đương sự trong vụ việc dân sự như đã trình bày ở phần xác định tư
cách đương sự (trả lời Câu 2, Hồ Sơ 24 ) thì tất cả 06 người con của ông Thăng, bà Trọng,
bà Lan đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Những người còn lại Tòa án cho tham gia phiên
tịa với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định pháp luật.
Căn cứ Điều 634 Bộ luật dân sự 1995, Điều 631 Bộ luật dân sự 2005 thì 06 người con
của ơng Thăng, bà Trọng, bà Lan đều có quyền thừa kế của di sản mà 03 người này để lại.
Xác định hồ sơ trong tố tụng
+ Tiền tạm ứng án phí
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí tịa án. Quy định tại Khoản 7 Điều 27 về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm
trong một số loại việc cụ thể:
7. Đối với vụ án liên quan đến chia tài sản chung, di sản thừa kế thì nghĩa vụ chịu án phí
dân sự sơ thẩm được xác định như sau:


a) Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác
định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản của mình trong khối di
sản thừa kế là khác nhau và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản
chung, di sản thừa kế đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức
tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung
hoặc trong khối di sản thừa kế. Đối với phần Tòa án bác đơn yêu cầu thì người yêu cầu
chia tài sản chung, di sản thừa kế khơng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp
Tòa án xác định tài sản chung, di sản thừa kế mà đương sự yêu cầu chia không phải là tài

sản của họ thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm khơng có giá ngạch;
Theo thơng tin trong (Hồ sơ 24) này thì bà Nguyễn Thị Kim Lan đã có đơn u cầu
Tịa án Thẩm định giá tài sản là di sản thừa kế và đã được Tịa chấp nhận. Do đó, đây là
vụ án dân sự tranh chấp di sản thừa kế có giá ngạch nhưng tịa án xác định mức đóng tạm
ứng cho tranh chấp khơng có giá ngạch là trái quy định pháp luật.
+ Thếu một số Văn bản mang tính bắt buộc:
-

Thiếu giấy Chứng tử của bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1936, chết năm 2007
Thiếu giấy tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản

Căn cứ Khoản 1 Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ nộp tiền tạm
ứng chi phí định giá tài sản
-

Thiếu Quyết định định giá tài sản của Hội đồng thẩm định giá.

Căn cứ Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về định giá tài sản, thẩm định
giá tài sản. Biên bản định giá tài sản không có đủ cơ sở pháp lý vì Quyết định định giá tài
sản phải do Chủ tịch hội đồng định giá ký mới có hiệu lực pháp lý.
Xét thấy, việc thu sai án phí có ngạch thành án phí khơng có ngạch là bất hợp lý. Và
thiếu một số Văn bản cần thiết mang tính bắt buộc trong hồ sơ vụ án dân sự này là một sai
phạm nghiệm trọng về mặt Tố tụng.
2. Về nội dung
Xác định di sản thừa kế
Ông Thăng được cấp quyền sử dụng đất ngày 19 tháng 7 năm 1997 tại thửa đất 631
với diện tích 1951 mét vuông đất gồm đất: LN.K + T với thời hạn sử dụng là 50 năm. Ông
Thăng chết ngày 04/01/2002, bà Trọng chết ngày 22/8/2007 không để lại di chúc thừa kế.
Căn cứ Khoản 1, khoản 1.1, khoản 1.2 mục II quy định về thừa kế, tranh chấp liên
quan đến quyền sử dụng đất của Nghị quyết 02/2004 NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội



đồng thẩm phán tịa án nhân dân tối cao thì diện tích đất này thuộc phần đất di sản thừa
kế.


Căn cứ theo Khoản 2 Điều 92 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những tình
tiết, sự kiện không phải chứng minh. Nội dung trong hồ sơ vụ việc dân sự thì các bên
đương sự đều thống nhất di sản thừa kế đang tranh chấp là tài sản chung của ơng Thăng,
bà Trọng khi cịn sống nên không cần chứng minh quyền sở hữu thuộc về ông Thăng hay
bà Trọng đối với tài sản này.
Yêu cầu chia di sản thừa kế
+ Yêu cầu của nguyên đơn
- Căn cứ Điều 612, 651, 652, 653, 654 Bộ Luật dân sự 2015 thì yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Lan thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thăng, bà
Trọng nên yêu cầu chia di sản thừa kế của bà phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên bà
yêu cầu nhận toàn bộ 1/2 di sản và 1/6 của 1/2 di sản của ông Thăng – bà Trọng là chưa
đúng, bởi vì: Ngồi bà Nguyễn Thị Kim Lan thì ơng: Nguyễn Huy Thành, sinh năm 1968;
ơng: Nguyễn Huy Lộc, sinh năm 1963; ông: Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1963; Bà:
Nguyễn Lan Tố Quyên, sinh năm 1971; Bà: Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1973 cũng
thuộc Hàng thừa kế thứ nhất của di sản. Do đó, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Lan là
chưa phù hợp quy định pháp luật.
+ Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Bà Nguyễn Lan Tố Qun, Bà: Nguyễn Thị Bích Ngọc có u cầu độc lập yêu cầu chia
1/6 di sản thừa kế gồm nhà và đất do ông Thăng để lại là không phù hợp bởi vì khơng
cơng nhận ơng Nguyễn Huy Thành có cơng sức ni dưỡng ơng Thăng, bà Trần Thị
Trọng và bà Nguyễn Thị Lan và lo cả ma chay, mồ mã. Đồng thời, ơng Nguyễn Huy
Thành cịn có cơng tôn tạo, sửa chữa nhà của ông Thăng để làm nơi thờ cúng. Mặt khác,
không công nhận phần đất 200m vuông do ông Thăng ủy quyền sử dụng đất Phạm Thị
Tâm vào năm 2001 là không phù hợp.

+ Yêu cầu của bị đơn
Nguyễn Huy Thành yêu cầu công nhận phần đất 200m vuông do ông Thăng ủy quyền
sử dụng đất Phạm Thị Tâm (vợ Nguyễn Huy Tài) vào năm 2001. Yêu cầu không chia
phần đất nhà thờ cúng và mồ mã. Căn cứ Điều 237, 634 Bộ Luật dân sự 1995 (áp dụng
thời điểm của ông Thăng chết 2002), Điều 631 Bộ Luật dân sự 2005 (áp dụng thời điểm
đối với bà Trọng, bà Nguyễn Thị Lan chết 2007) xét thấy là phù hợp quy định pháp luật.
Bởi vì, vào ngày 16/8/2001 ơng Thăng có làm Giấy ủy quyền sử dụng 200m vuông đất ở
để xây dựng nhà và đã sử dụng ổn định từ năm 2001 đến nay không có tranh chấp. u
cầu khơng chia phần đất nhà thờ cúng và mồ mã là hợp với pháp luật tại Điều 645 Bộ luật
dân sự 2015 và hợp đạo lý của người Việt Nam.


5. DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI
Câu 13 ( HS 24) Anh (chị) hãy dự kiến kế hoạch hỏi trình bày tại phiên tịa sơ thẩm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn? (2.0 điểm)
-Hỏi, làm rõ, chứng minh yêu cầu của nguyên đơn có hợp pháp và hợp tình khơng?
-Hỏi, làm rõ, chứng minh, làm rõ nghĩa vụ nuôi dưỡng của nguyên đơn đối với người
để lại di sản, có hay khơng có?
-Hỏi, làm rõ Nguyễn Huy Thành có giữ gìn và tơn tạo di sản hay không?
- Hỏi, làm rõ, chứng minh việc ủy quyền sử dụng 200m vuông đất của ông Thăng
đối với bà Phạm Thị Tâm là có hay khơng có?
6. BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO BỊ ĐƠN
Câu 15 ( HS 24) Là luật sư bảo vệ cho bị đơn, anh ( chị ) hãy trình bày nội dung cơ bản
bản luận cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng? ( 3 điểm )
Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát ,kính thưa tồn thể
mọi người có mặt tại phiên tịa hơm nay. Tơi là: Luật sư Trần Thiện Nhân, thuộc Văn
phịng luật sư Nguyễn Thy – Đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang, với tư cách là Luật sư bảo vệ
cho thân chủ của tôi là bị đơn – ông Nguyễn Huy Thành trong vụ án tranh chấp di sản
thừa kế được đưa ra xét xử ngày hôm nay.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên

tịa ngày hơm nay, tơi xin trình bày quan điểm của mình để bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng, hợp pháp cho bị đơn là – ơng Nguyễn Huy Thành. Tơi xin trình bày quan điểm của
mình như sau:
- Theo yêu cầu khởi kiện của ngun đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Lan địi nhận tồn bộ 1/2
di sản và 1/6 của 1/2 còn lại của ông Thăng và bà Trọng là chưa đúng, bởi vì: Căn cứ
Điều 612, 651, 652, 653, 654 Bộ Luật dân sự 2015, ngồi bà Nguyễn Thị Kim Lan thì các
Ơng: Nguyễn Huy Thành, sinh năm 1968; Ông: Nguyễn Huy Lộc, sinh năm 1963; Ông:
Nguyễn Huy Tài, sinh năm 1963; Bà: Nguyễn Lan Tố Quyên, sinh năm 1971; Bà:
Nguyễn Thị Bích Ngọc, sinh năm 1973 cũng thuộc Hàng thừa kế thứ nhất của di sản. Do
đó, yêu cầu của bà Lan là không đúng quy định pháp luật.
- Việc Bà Nguyễn Lan Tố Qun, bà: Nguyễn Thị Bích Ngọc có u cầu độc lập yêu
cầu chia 1/6 di sản thừa kế gồm nhà và đất do ông Thăng để lại là khơng phù hợp bởi vì
các lý do sau: Phần đất 200m vuông do ông Thăng ủy quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị
Tâm (vợ Nguyễn Huy Tài) vào năm 2001 đến nay ổn định, khơng có tranh chấp do đó nên


không thể chia thừa kế phần đất này. Và phần đất mồ mã cũng không thể chia. Phần căn
nhà cũ


do thân chủ tôi - ông Nguyễn Huy Thành đã giữ gìn, tơn tạo, sửa chữa và đã được các anh
em khác thống nhất để phần này làm nhà thờ cúng không chia thừa kế.
Căn cứ Điều 237, 634 Bộ Luật dân sự 1995 (áp dụng thời điểm của ông Thăng chết
2002), Điều 631 Bộ Luật dân sự 2005 (áp dụng thời điểm đối với bà Trọng, bà Nguyễn
Thị Lan chết 2007) xét thấy là phù hợp quy định pháp luật.
Việc thân chủ tôi ông - Nguyễn Huy Thành yêu cầu không chia phần đất nhà thờ cúng
và mồ mã là hợp với pháp luật tại Điều 645 Bộ luật dân sự 2015 và hợp đạo lý của người
Việt Nam. Mặt khác, ơng Thành có cơng bồi tạo, làm tăng giá trị di sản thừa kế. Căn cứ
điều 617, 618 Bộ luật dân sự 2015 thì ơng Thành được quyền địi thanh tốn chi phí bảo
quản di sản và được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế trước khi

chia thừa kế.
Yêu cầu của thân chủ tôi ông - Nguyễn Huy Thành
- Yêu cầu Hội đồng xét xử khơng chấp nhận tồn bộ u cầu của bà Nguyễn Thị Kim Lan.
- Yêu cầu không chia thừa kế phần đất mồ mã, phần căn nhà thờ cúng và công nhận phần
đất 200m vuông của bà Phạm Thị Tâm đang sử dụng. Đồng thời, u cầu thanh tốn chi
phí bảo quản di sản (tiền công sửa chữa căn nhà thờ cùng) và được hưởng thù lao theo
thỏa thuận từ cơng bảo quản các di sản cịn lại trước khi chia thành 06 phần bằng nhau.
Đó là tất cả phần trình bày của tơi. Cảm ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe!
PHÁP LUẬT ÁP DỤNG
1. Bộ luật dân sự 1995
2. Bộ luật dân sự 2005
3. Bộ luật dân sự 2015
4. Bộ luật tố tụng dân sự 2015
5. Nghị quyết 02/2004 NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân
dân tối cao



×