Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

Tiểu luận Phân tích cung

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (66.32 KB, 9 trang )

Tiểu luận Phân tích cung - cầu của cafe trong giai đoạn 2004 - 2010


LỜI NĨI ĐẦU
Việt Nam là một nước gió mùa nhiệt đới,có khí hậu nóng ẩm quanh năm,có một
vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày,có
khả năng xuất khẩu cao…Càphê là một trong những loại cây trồng đó,hiện nay ở
Việt Nam,cà phê là mặt hàng nơng sản có giá trị xuất khẩu lớn thứ hai sau
gạo.Thực tế đã cho thấy,trong xu thế hội nhập tồn cầu hóa nền kinh tế thế giới thì
xuất khẩu càphê đóng một vai trị quan trọng,khơng những là kênh huy động nhập
khẩu máy móc phục vụ cơng nghiệp hóa đất nước mà cịn là cán cân thương mại
quan trọng trong tất cả các quan hệ thương mại trên thế giới.Tuy nhiên để xuất
khẩu càphê thật sự trở thành một trong những thé mạnh của Việt Nam,điều đó cịn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố,yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài…từ sự tác động
của nhà nước,doanh nghiệp,hiệp hội…đến sự tác động của thị trường thế giới…
Với mong muốn là tìm hiểu một cách sâu sắc hơn về cung – cầu của cafe trông
nước cũng như thế giới,em xin đưa ra đề tài nghiên cứu của nhốm mình nghiên cứu
đề tài : “phân tích cung-cầu của cafe trong giai đoạn 2004 - 2010” Để hoàn thành
được đề tài này,em xin chân thành cảm ơn cô giáo Hồ Thị Mai Sương đã cung cấp
phần lớn kiến thức và phương pháp luận cho em ngay từ khi lựa chọn đề tài đến
khi hoàn thành.Ngoài ra em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể thầy cô trong thư
viện trường ĐH Thương Mại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm
tài liệu phục vụ cho đề tài này.
PHẦN I. LÝ LUẬN
I.Cầu (DEMAND):
1.Cầu: -Khái niệm cầu (D): phản ánh lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua
muốn mua và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một giai đoạn nhất
định và giả định rằng tất cả các yếu tố khác là không đổi. -Phân biệt cầu và lượng
cầu: +Lượng cầu () là lượng cụ thể của hàng hóa hay dịch vụ mà người mua mong
muốn có và có khả năng mua tại một mức giá xác định trong một giai đoạn nhất
định và giả định rằng tất cả các yếu tố khác không đổi. +Cầu được thể hiện thông


qua tập hợp các lượng cầu ở các mức giá khác nhau.
2.Luật cầu: -Giả định tất cả các yếu tố khác không đổi, nếu giá của hàng hóa hay
dịch vụ tăng lên sẽ làm cho lượng cầu về hàng hóa hay dịch vụ đó giảm đi và
ngược lại. -Giữa giá và lượng cầu có mối quan hệ nghịch: P tăng thì giảm hoặc P
giảm thì tăng.
3.Hàm cầu: -Dạng phương trình tuyến tính: -Hoặc:


4.Đồ thị đường cầu:
5.Cầu cá nhân và cầu thị trường: -Cầu của từng người tiêu dung đối với một loại
hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó là cầu cá nhân. -Cầu thị trường về một hàng hóa
hoặc dịch vụ là tổng tất cả các cầu cá nhân của hàng hóa hoặc dịch vụ đó.
6.Các yếu tố tác động đến cầu: Cầu thay đổi: +Cầu tăng: lượng cầu tăng lên tại
mọi mức giá. +Cầu giảm: lượng cầu giảm đi tại mọi mức giá. -Số lượng người
mua. -Thị hiếu, sở thích. -Thu nhập. -Giá cả của hàng hóa có liên quan. -Các chính
sách của chính phủ. -Kỳ vọng về thu nhập. -Kỳ vọng về giá cả. -Các yếu tố khác.
7.Sự di chuyển và sự dịch chuyển đường cầu: -Sự di chuyển (trượt dọc) trên đường
cầu: +Sự thay đổi vị trí của các điểm khác nhau trên cùng một đường cầu. +Do giá
của bản thân hàng hóa đang xét thay đổi. -Sự dịch chuyển đường cầu: +Đường cầu
thay đổi sang một vị trí mới (sang phải hoặc sang trái). +Do các yếu tố ngồi giá
của bản thân hàng hóa đang xét thay đổi.
8.Độ co dãn của cầu theo giá : -Khái niệm: +Là hệ số giữa phần tram thay đổi
trong lượng cầu của một mặt hàng với phần trăm thay đổi trong giá của một mặt
hàng đó (giả định tất cả các yếu tố khác khơng đổi) +Nó đo lường phản ứng của
lượng cầu trước sự biến động về giá cả. +Nó cho biết khi giá của hàng hóa tang 1%
thì lượng cầu của hàng hóa đó giảm bao nhiêu % và ngược lại. -Cơng thức tính:
+Cơng thức tổng qt: +Độ co giãn điểm: +Độ co giãn khơng có đơn vị tính và
ln là một số không dương. +Độ co giãn khoảng: -Các trường hợp độ co dãn: khi
Cầu co dãn khi Cầu kém co dãn khi Cầu co dãn đơn vị => Cầu khơng co dãn =>
Cầu hồn tồn co dãn

II.Cung (SUPPLY):
1.Cung: -Khái niệm cung (S): phản ánh lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán
mong muốn và có khả năng bán tại các mức giá khác nhau trong một giai đoạn
nhất định (giả định rằng các yếu tố khác không đổi). - Phân biệt lượng cung và
cung: +Lượng cung () là lượng cụ thể của hàng hóa hay dịch vụ mà người bán
mong muốn và có khả năng bán tại một mức giá xác định trong một giai đoạn nhất
định (giả định rằng các yếu tố khác không đổi). +Cung được thể hiện thông qua tập
hợp các lượng cung ở các mức giá khác nhau.
2.Luật cung: -Giả định tất cả các yếu tố khác không đổi, nếu giá của hàng hóa hay
dịch vụ tăng lên sẽ làm cho lượng cung về hàng hóa đó cũng tăng lên và ngược lại.
-Giữa giá và lượng cung có mối quan hệ cùng chiều.
3.Hàm cung: -Dạng hàm cầu tuyến tính: -Hoặc:


4.Đồ thị đường cung:
5.Cung của hãng và cung thị trường: -Cung thị trường là tổng cung của các hang
trên thị trường.
6.Các yếu tố tác động đến cung: -Cung thay đổi: +Cung giảm: lượng cung giảm đi
tại mọi mức giá. +Cung tăng: lượng cung tăng lên tại mọi mức giá. -Số lượng
người bán. -Tiến bộ về công nghệ. -Giá của các yếu tố đầu vào. -Chính sách của
chính phủ. -Giá của hàng hóa có liên quan trong sản xuất. -Kỳ vọng về giá cả.
-Yếu tố khác: thiên tai, dịch bệnh.
7. Sự di chuyển và sự dịch chuyển đường cung: -Sự di chuyển (trượt dọc) trên
đường cung: +Sự thay đổi vị trí của các điểm khác nhau trên cùng một đường
cung. +Do giá của bản than hàng hóa đang xét thay đổi. -Sự dịch chuyển đường
cung: +Đường cung thay đổi sang một vị trí mới (sang phải hoặc sang trái). +Do
các yếu tố ngồi giá của bản thân hàng hóa đang xét thay đổi.
8.Độ co giãn của cung theo giá : -Khái niệm: +Là tỷ lệ giữa phần trăm thay đổi
trong lượng cung của một mặt hàng với phần trăm thay đổi trong giá của mặt hàng
đó (giả định các yếu tố khác khơng đổi) +Nó cho biết khi giá cả của hàng hóa thay

đổi 1% thì lượng cung của hàng hóa đó thay đổi bao nhiêu %. -Cơng thức tính:
+Cơng thức tổng quát: +Độ co giãn điểm: +Độ co giãn không có đơn vị tính và
ln là một số khơng âm. +Độ co giãn khoảng: -Các trường hợp độ co dãn: =>
Cung co dãn => Cung kém co dãn => Cung co giãn đơn vị => Cung không co dãn
=> Cung hoàn toàn co dãn
PHẦN II. THỰC TRẠNG
Trong những năm gần đây Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ
hai thế giới sau Brazil. Thực tế cho thấy răng kể từ những năm 90 đến nay, ngành
ca phê ở nước ta có những tăng trưởng vượt bậc và cà phê trở thành ngành kinh tế
quan trọng của nền kinh tế nước ta, đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp, chúng ta
không chỉ biết đến cà phê như một thức uống mà cà phê cịn là nơng sản xuất khẩu
quan trọng đứng sau lúa gạo. Từ khi ngành cà phê ra đời đã thúc đẩy sự phát triển
của kinh tế và xã hội, điều chú ý là nó đã thu hút trực tiếp khoảng 6 nghìn lao
động. Con số trên xấp xỉ 3% tổng lao động nông nghiệp, bên cạnh đó cuộc sống
của 1 triệu người ln chiu ảnh hưởng từ sự phát triển của nó. Để đạt được những
thành quả nói trên, ngành cà phê nước ta cũng gặp vơ vàn khó khăn, thách thức.
Bên cạnh những yếu tố thuộc về tự nhiên thì quá trình tự do hoa thương mại cũng
tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển của ngành cà phê nói chung và


việc trồng cà phê nói riêng. Thị trường ln là yếu tố địi hỏi sức cạnh tranh nhiều
nhất để có thể đứng vững và phát triển. Mức cung cầu và giá cả là ba yếu tố đặc
trưng của thị trường cà phê trong nước cũng như thế giới. Cung cầu thị trường phụ
thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sản lượng năng suất mức tiêu thụ. Những yếu tố
kể trên thay đổi do người sản xuất và người sử dụng ca phê nên thường xuyên thay
đổi theo biến động thị trường. Để hiểu them về ngành ca phê ở nước ta, chúng ta
xoay quanh 3 vấn đề quan trọng mang tính quyết định đến sự phát triển của ngành
cà phê là: mức cung, cầu và giá cả thị trường ca phê.
I. PHÂN TÍCH CUNG,CẦU VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG CA PHÊ NƯỚC TA
GIA ĐOẠN 2004-2010

1.1. Diện tích cafe nước ta hiện nay Cây cà phê được đưa vào trồng ở Việt Nam từ
năm 1857, trước hết là ở một số nhà thờ tại Hà Nam, Quảng Bình, Kontum... Song
mãi tới đầu thế kỷ hai mươi trở đi thì cây cà phê mới được trồng trên quy mô tương
đối lớn của các chủ đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ - Nghệ An và sau đó là ở Đắc
Lắc và Lâm Đồng, nhưng tổng diện tích khơng q vài ngàn hecta. Sau cách mạng
tháng 8, diện tích cà phê ở miền Bắc được phát triển thêm tại một số nông trường
quốc doanh và thời kỳ có diện tích cao nhất là trên 10.000 ha vào năm 1963 - 1964.
Ở miền Nam trước ngày giải phóng, vào năm 1975 diện tích cà phê có khoảng
10.000 ha. Tại Đắc Lắc có khoảng 7.000 ha, Lâm Đồng 1.700 ha và Đồng Nai
1.100 ha. Cà phê trồng ở miền Bắc trong những năm trước đây chủ yếu là cà phê
chè (Coffea arabica), năng suất thường đạt từ 400 - 600 kg/ha, có một số điển hình
thâm canh tốt đã đạt trên 1 tấn/ha. Hạn chế lớn nhất đối với việc trồng cà phê chè ở
miền Bắc là tác hại của sâu bệnh. Sâu đục thân (Xylotrechus quadripes) và bệnh gỉ
sắt cà phê (Hemileia vastatrix), là hai đối tượng sâu bệnh hại nguy hiểm nhất. Diện
tích trồng cà phê ở miềm Nam trước ngày giải phóng chủ yếu là giống cà phê vối
(Canephora robusta), một số diện tích nhỏ cà phê chè được trồng ở Lâm Đồng.
Năng suất cà phê vối trong thời kỳ này thường đạt trên dưới 1 tấn/ha, ở một số đồn
điền có quy mơ vừa và nhỏ cũng đã đạt năng suất từ 2 - 3 tấn/ha. Tính đến cuối
năm 1994, tổng số diện tích cà phê ở nước ta đã có khoảng 150.000 ha và sản
lượng vụ năm 1993/1994 đã đạt trên 150.000 tấn. Vụ cà phê năm 1994/1995 ước
đạt 180.000 tấn. Năng suất bình qn trên diện tích cà phê kinh doanh đã đạt trên
1,2 tấn/ha, nhiều nông trường có quy mơ từ 400 - 1500 ha đã đạt năng suất bình
quân từ 2,5 - 3 tấn/ha. nhiều vùng liền khoảnh rộng tới vài trăm hecta, nhiều chủ
hộ nhận khoán, nhiều vườn cà phê tư nhân đã đạt được năng suất từ 4 - 6 tấn/ha, cá
biệt có một số điển hình đạt từ 8 - 10 tấn/ha. Từ một vài năm gần đây cây cà phê
chè đã được phát triển mở rộng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc với tổng diện tích


khoảng 7.000 ha bao gồm: Sơn La, Tuyên Quang, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Lai Châu,
Lạng Sơn, Hịa Bình, n Bái v.v... Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Việt Nam hiện có 536.959 ha đất canh tác cà phê, trong đó gần 90% diện tích cà
phê ở khu vực Tây Nguyên. Tăng 0,6% so với năm 2009. Trong đó diện tích thu
hoạch được ước tính ở mức 515.000 héc ta, tăng 1% so với năm 2009. Nhiều nông
dân đã mở rộng diện tích trồng cà phê trung bình khoảng 2.000 ha/năm. Diện tích
trồng cà phê Arabica hiện nay khoảng 35.000 ha chiếm khoảng 6% tổng diện tích
cà phê của cả nước. 1.2. Sản lượng cafe Còn về sản lượng,theo USAD, sản lượng
nước ta niên vụ 2008/2009 đạt khoảng 18 triệu bao (tương đương 1,08 nghìn tấn),
tăng 3,8% so với niên vụ trước. Dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2009/2010 sẽ
giảm xuống còn khoảng 17,5 triệu bao (tương đương 1,05 nghìn tấn). Chính phủ
vẫn tiếp tục khuyến khích nông dân áp dụng GAP - một công cụ nhằm nâng cao
sản lượng và duy trì tính bền vững trong sản xuất. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
lâm nghiệp Tây Nguyên cũng tiến hành nghiên cứu, lựa cọn và cho lai nhiều giống
cà phê mới đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân trong việc thay thế các cây cà
phê lâu năm cho phù hợp với điều kiện của khu vực canh tác và thu được lợi nhuận
cao. Bảng 1: Sản lượng cà phê của Việt Nam theo năm (tính từ tháng 10 đến tháng
9 năm sau) Niên vụ 2008/2009 2009/2010 2010/2011 Thời gian bắt đầu niên vụ
10/2008 10/2009 10/2010 Sản lượng (hạt cà phê xanh, nghìn tấn) 1.080 1.050
1.124 Sản lượng trung bình (tấn/ha) 2,16 2,09 2,10 Nguồn: Bộ Nông nghiệp &
PTNN Do thời tiết mưa kéo dài trong thời gian ra hoa và thu hoạch cây cà phê tại
Đắk Lắk và Lâm Đồng nên sản lượng cà phê nước ta niên vụ 2009/2010 sẽ giảm
xuống còn 17,7 triệu bao (tương đương, giảm 3% so với niên vụ trước). Việc cây
cà phê ra hoa muộn và không đồng đều cũng là nguyên nhân khiến việc thu hoạch
gặp nhiều khó khăn, nhất là khi hạt cà phê đã chín và còn xanh cùng mọc trên cùng
một cây. Điều kiện thời tiết không thuận lợi cũng làm cho chất lượng và kích thước
hạt cà phê khơng được đồng đều. Ngồi ra, thiếu nhân lực cũng khiến cho chi phí
thuê nhân công thu hoạch cao hơn so với niên vụ trước. Mưa xối xả tại một số
vùng trong thời gian thu hoạch cũng khiến người nơng dân gặp nhiều khó khăn
trong việc sấy khơ cà phê. Sản lượng trung bình niên vụ 2009/2010 dự báo khoảng
2,09 mét tấn/ha, thấp hơn 3% so với niên vụ trước. Đầu năm 2010, bất chấp những
dự báo khá lạc quan về kinh tế toàn cầu cũng như tình hình tiêu thụ và dự trữ cà

phê thế giới, viễn cảnh về một năm khởi sắc trở lại của cà phê Việt Nam dường
như vẫn không mấy sáng sủa. Tính cả ba tháng đầu năm, giá và lượng cà phê xuất
khẩu của Việt Nam đã giảm xuống mức thấp nhất so với cùng kỳ ba năm trở lại
đây. Thêm vào đó, nếu giá vật tư đầu vào tiếp tục tăng cao trong khi giá bán cà phê
ở mức thấp như năm 2009, nông dân sẽ giảm lượng phân bón, số lần tưới nước,


không trồng mới thay thế cà phê già cỗi Trước khi kết thúc năm 2009, ngành cà
phê Việt Nam đã rất lạc quan tin tưởng sang năm 2010, xuất khẩu cà phê sẽ nhanh
chóng hồi phục bởi lượng cung trên thị trường thế giới giảm trong khi cầu tăng.
Song, diễn biến tiêu thụ cà phê những tháng đầu niên vụ 2010 đang đi ngược lại dự
báo. Bấy lâu, nông dân Việt Nam ln rơi vào vịng luẩn quẩn được mùa rớt giá,
nhưng với ngành cà phê thời gian này, nghịch lý đã xảy ra, sản lượng giảm, song
giá lại tụt giảm thê thảm. Theo Bộ NN&PTNT, lượng cà phê còn tồn trong cả nước
tính đến thời điểm này khoảng 600.000 tấn. Sau hơn 3 tháng chờ giá, nông dân đã
bắt đầu bán tháo do áp lực nợ vay, do cần vốn đầu tư cho vụ mới. Theo tính tốn,
nơng dân phải bán được giá 25 triệu đồng/tấn thì mới có lãi, nhưng hiện các doanh
nghiệp (DN) xuất khẩu chỉ có thể mua với giá 22,5 triệu đồng/tấn. Giá cà phê ở
Đắk Lắk hiện đang lấp lửng ở mức dưới 23 triệu đồng/tấn, thấp nhất trong nhiều
năm qua. Ông Trần Tấn Đạt, một người trồng cà phê ở tổ dân phố 9, phường Ea
Tam, thành phố Buôn Ma Thuột cho biết, ông vừa bán 1 tấn cà phê nhân, thu được
hơn 20 triệu đồng, gần như hịa vốn. Cơng 2 vợ chồng, chăm sóc 4 sào vườn trong
suốt cả năm coi như bằng không. Biết giá thấp, nhưng kinh tế gia đình eo hẹp, ơng
Đạt vẫn phải bán để lấy tiền đầu tư phân bón, nước tưới, vì lúc này các đại lý cà
phê, đại lý phân bón, khơng cịn tạm ứng cho người dân như những niên vụ trước.
Không chỉ rơi vào tình trạng suy thối giá, Đắk Lắk-vùng sản xuất cà phê lớn nhất
cả nước đang trong tình trạng suy giảm về sản lượng và chất lượng. Liên tiếp 3 vụ
cà phê gần đây, nhiều vùng cà phê chủ lực của tỉnh chỉ đạt 60-80% sản lượng so
với trung bình nhiều năm. Ngược lại, tỷ lệ hạt nhỏ, hạt kém chất lượng lại tăng hơn
20%. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là người trồng phải bán cà

phê vào thời điểm giá thấp nên không đủ kinh phí để tái đầu tư, chăm bón. Những
nét chính về tình hình tiêu thụ cà phê việt nam Theo số liệu điều tra VLSS, khơng
có nhiều người dân Việt Nam tiêu thụ cà phê trong hộ gia đình. Trong ngày
thường, có khoảng 19,2% tiêu thụ cà phê, trong đó 47% tiêu thụ cà phê uống liền
và 53% tiêu thụ cà phê bột. Tuy nhiên, trong dịp lễ tết, số lượng người tiêu thụ cà
phê trong hộ gia đình tăng lên, khoảng 23% số hộ. Trung bình năm 2004, người
Việt Nam tiêu thụ khoảng 1,25 kg cà phê/năm, bao gồm cà phê tiêu thụ trong ngày
thường (cà phê uống liền và cà phê bột) và cà phê uống trong dịp lễ tết. Tuy nhiên,
trong điều tra này, chỉ có số liệu về giá trị của cà phê uống liền. Giá trị tiêu thụ cà
phê trung bình của người dân Việt Nam năm 2004 là khoảng 9.130 đ/người/năm.
Tiêu thụ nội địa cà phê có sự khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn cả về lượng
và giá trị. Lượng tiêu thụ bình quân đầu người của thành thị năm 2004 (2,4kg) cao
gấp 2,72 lần tiêu thụ của nông thôn (0,89 kg). Trong khi đó, giá trị tiêu thụ bình
qn đầu người của thành thị đạt 20.280 đồng, cao gấp 3,5 lần mức của nông thôn.


Bộ số liệu VHLSS cũng phân chia tiêu thụ cà phê thành hai loại cà phê bột và cà
phê uống liền. Tình hình tiêu thụ của cả hai loại cà phê bột và cà phê uống cũng có
sự khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn. Khu vực thành thị tiêu thụ cà phê
uống liền nhiều gấp 2,74 lần khu vực nơng thơn, trong khi đó, chênh lệch về giá trị
tiêu thụ loại cà phê này là gần 5 lần giữa hai khu vực. Giá trị tiêu thụ tiêu thụ cà
phê bột ở khu vực thành thị lớn gấp 2,65 lần khu vực nơng thơn (7,8 và 2,9 nghìn
đ/người/năm). Sự khác biệt lớn về giá trị tiêu thụ có thể do giá ở khu vực thành thị
cao hơn khu vực nông thôn nhờ mức sống cao hơn. Năm 2004, tổng chi tiêu khu
vực thành thị khoảng 27 triệu đồng trong khi tổng chi tiêu ở khu vực nông thôn chỉ
có khoảng 12 triệu đồng. Ngồi ra, chênh lệch về giá trị cũng có thể do chất lượng
cà phê bán tại thị trường thành thị cao hơn thị trường nông thơn. Tuy nhiên, chưa
có một nghiên cứu nào khẳng định rõ nhận định này. Các hộ gia đình được chia
làm 5 nhóm dựa trên thu nhập của hộ, mỗi nhóm chiếm 20% tổng số hộ, từ nhóm
nghèo nhất (quintile 1) đến nhóm giàu nhất (quintile 5). Tiêu thụ cà phê bình qn

đầu người tăng dần từ nhóm có thu nhập thấp nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất.
Trong đó, lượng tiêu thụ cà phê của nhóm 5 cao hơn nhóm 1 đến gần 18 lần, tuy
nhiên, giá trị tiêu thụ chỉ chênh lệch khoảng gần 9 lần. Như vậy, về mơ tả thống kê,
tiêu thụ cà phê có xu hướng thay đổi theo thu nhập. Tình hình tiêu thụ cà phê bột
và uống liền cũng diễn biến theo xu hướng trên, tuy nhiên, lượng cà phê bột tiêu
thụ thấp hơn nhiều so với lượng cà phê uống liền. Ở nhóm thu nhập cao nhất,
lượng cà phê uống liền được tiêu thụ nhiều gấp 9,4 lần lượng cà phê bột. Trong khi
đó, ở nhóm nghèo nhất, mức chênh lệch này là 9,8 lần. Hầu hết các khu vực ở Việt
Nam đều tiêu thụ cà phê, nhưng rất khác biệt. Nam Trung Bộ, Đồng bằng Sông
Cửu Long và Duyên hải Nam Trung Bộ là ba khu vực tiêu thụ cà phê nhiều nhất
trong cả nước. Vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Đồng bằng Sơng Hồng tiêu thụ rất ít
cà phê, thậm chí khu vực Tây Bắc hầu như khơng tiêu thụ với mức tiêu thụ bình
qn đầu người chỉ có 0,03 kg/năm. Lượng tiêu thụ cà phê ở khu vực Tây Nguyên
nhiều thứ 4 trên cả nước nhưng vẫn ở mức thấp so với 3 khu vực đứng đầu. Giá trị
tiêu thụ của các khu vực diễn biến khơng hồn tồn giống như lượng tiêu thụ. Đặc
biệt là ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở khu vực Duyên hải
Nam Trung Bộ, mặc dù lượng tiêu thụ đầu người rất cao (1,5kg/người/năm) nhưng
giá trị tiêu thụ chỉ đạt 6230 đ/người/năm. Trong khi đó ở khu vực Tây Nguyên, các
con số này lần lượt là 0,28 kg và 4150đ. Một trong những nguyên nhân giải thích
hiện tượng này là khu vực Tây Nguyên chủ yếu tiêu thụ các loại cà phê bột, có chất
lượng cao, với lượng cà phê bột tiêu thụ ở khu vực này cao thứ 3 trong toàn quốc
(0,12 kg/người/năm) so với mức 0,08kg của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Theo
nhận định của nhiều chuyên gia, tiêu thụ nội địa của cà phê Việt nam cịn q ít.


Trong khi mỗi người Bắc Âu uống 10 kg cà phê nhân mỗi năm, ở Tây Âu là 5-6 kg
thì người Việt Nam mới tiêu thụ khoảng 500 gr . Việt Nam vốn là nước sản xuất cà
phê chỉ đứng sau Brazil và là nước đứng đầu về sản xuất cà phê vối. Theo số liệu
từ Vicofa, tốc độ tăng trưởng bình qn diện tích đất trồng cà phê đạt khoảng 15%
trong những năm 90, và tới cuối thế kỷ 20 cả nước đã có khoảng nửa triệu hecta cà

phê. Hiện nay hầu hết cà phê nhân được sản xuất ra là để phục vụ xuất khẩu. Sản
lượng xuất khẩu của Việt Nam đạt 600.000-700.000 tấn cà phê nhân mỗi năm. Hai
vụ cà phê 2000-2001 và 2003-2004, Việt Nam đã xuất khẩu trên 800.000 tấn cà
phê. Cũng như nhiều ngành sản xuất khác, đặc biệt là thủy sản và nông sản, các
doanh nghiệp kinh doanh chế biến cà phê "chuộng" đầu tư để xuất khẩu hơn là tiêu
thụ thị trường nội địa. Một số nghiên cứu gần đây được Ngân hàng thế giới (WB)
đưa ra cho thấy tiềm năng thị trường cà phê nội địa của Việt Nam có thể tiêu thụ
tới 70.000 tấn/n



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×