Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Chính sách cổ tức và kỳ vọng thị trường của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông niêm yết ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (519.51 KB, 8 trang )

Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ KỲ VỌNG THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC DN
XÂY DỰNG CƠNG TRÌNH GIAO THÔNG NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
Trường Đại học Giao thông Vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội
Email: dungntt89@utc.edu.vn; Tel: 0989908997
Tóm tắt.
Báo cáo sử dụng dữ liệu từ các cơng ty xây dựng cơng trình giao thơng niêm yết
trên sàn chứng khoán Việt Nam từ năm 2015-2019. Báo cáo tập trung vào phân tích
Chính sách cổ tức (CSCT) và Kì vọng thị trường đối với nhóm DN này cũng như mối
quan hệ giữa hai tiêu chí này để xác định mức độ ảnh hưởng của các quyết định về
CSCT của DN tới Nhận định của các NĐT. Tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp
thống kê so sánh, khảo sát để phân tích và sử dụng mơ hình kinh tế lượng để kiểm định
các giả thiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ cổ tức của nhóm DN được nghiên cứu
có thể coi là thấp và CSCT của các DN này có tác động thuận chiều tới kì vọng thị
trường của các cổ phiếu. Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị tới các bên liên
quan.
Từ khóa: Chính sách cổ tức , kì vọng thị trường, DN XDCTGT ở VN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chính sách cổ tức là một trong ba quyết định tài chính quan trọng của doanh
nghiệp và là một trong những căn cứ quan trọng để các nhà đầu tư đưa ra các quyết
định đầu tư, việc đông đảo nhà đầu tư tin tưởng vào sự phát triển của doanh nghiệp có
thể coi như là giá trị doanh nghiệp đang tăng và ngược lại. Có rất nhiều nghiên cứu
được tiến hành trên các thị trường khác nhau đối với các nhóm doanh nghiệp khác nhau
cho thấy nhiều kết quả khác biệt về sự ảnh hưởng của chính sách cổ tức tới kì vọng thị
trường. Ở những thị trường chứng khốn mới nổi như Việt Nam, nhà đầu tư được đánh
giá là đa phần có chiến lược đầu tư ngắn hạn thì chính sách cổ tức hàng năm, chính
sách có gắn trực tiếp với quyền lợi của các nhà đầu tư, được nhiều nghiên cứu cho rằng


sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lí đầu tư, cũng chính là ảnh hưởng lớn tới kì vọng thị
trường. Trong nền kinh tế, mỗi nhóm doanh nghiệp lại có tình hình kinh doanh đặc thù
và kì vọng thị trường khác nhau, cần các chiến lược về chính sách cổ tức khác nhau.
Nhóm các doanh nghiệp XDCTGT vốn được xếp vào nhóm doanh nghiệp có sự phát
triển trong dài hạn do quy mô tài sản lớn và thời gian thu hồi vốn dài. Hiện tại, chưa hề
có nghiên cứu nào trên thị trường Việt Nam về chính sách cổ tức của nhóm doanh
nghiệp này cũng như ảnh hưởng của chính sách cổ tức tới kì vọng thị trường của các
doanh nghiệp này. Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi: Thực
trạng CSCT và Kì vọng thị trường của nhóm DN này như thế nào? CSCT có ảnh
hưởng tới Kì vọng thị trường của các DN XDCTGT niêm yết được nghiên cứu hay
không? Kiến nghị nào cần được đưa ra?
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
a. Cơ sở lý thuyết
-840-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thông vận tải

Nghiên cứu của Talat Afza và Samya Tahir (2012), quan sát của nghiên cứu là
25 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Pakistan giai đoạn từ 20052009. Nghiên cứu cho thấy, chỉ có 4 yếu tố tác động đến P/E có ý nghĩa thống kê trong
đó có Tỷ lệ chi trả cổ tức và biến Tỷ lệ chi trả cổ tức tác động cùng chiều với chỉ số
P/E có mức ý nghĩa từ 1%-5%. [1]
Jitmaneeroj, Boonlert (2017) đã kiểm tra mối quan hệ có điều kiện và phi tuyến
giữa tỷ lệ giá trên thu nhập (P/E) và Tỷ lệ cổ tức. Một phát hiện chung của các nghiên
cứu trước đây khi sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính là tỷ lệ P/E có quan hệ thuận
chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức. Tuy nhiên, khơng có nhiều nghiên cứu kiểm tra điều kiện
mà mối quan hệ thuận chiều tồn tại. Bài báo sử dụng mơ hình hiệu ứng cố định để điều
tra mối quan hệ có điều kiện và phi tuyến tính giữa tỷ lệ P/E và Tỷ lệ cổ tức. Với việc

đưa vào các yếu tố cơ bản và tâm lý nhà đầu tư, mơ hình này cho phép mối quan hệ phi
tuyến được điều kiện hóa dựa trên tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi
nhuận yêu cầu. Kết quả: Dựa trên dữ liệu hàng năm của các ngành công nghiệp ở Hoa
Kỳ trong giai đoạn 1998-2014, bài báo này đưa ra bằng chứng mới chỉ ra rằng khi tỷ
suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu lớn hơn (nhỏ hơn) so với tỷ suất sinh lợi yêu cầu, thì
tỷ lệ P/E và tỷ lệ chi trả cổ tức thể hiện mối quan hệ ngược chiều (cùng chiều). Ý nghĩa
thực tiễn: Do mối quan hệ biến động giữa tỷ số P / E và tỷ lệ chi trả, các nhà quản lý
doanh nghiệp và các nhà đầu tư cổ phiếu nên quan tâm nhiều hơn đến việc giảm tỷ lệ cổ
tức hơn, và cũng nên quan tâm hơn tới các cơng ty có tỷ lệ chi trả thấp. [2]
Krishnan, Cnv; Chen, Yifei(2017đã sử dụng cơ sở dữ liệu của tất cả các công ty
thuộc chỉ số S&P 1500 trong suốt 88 quý từ năm 1995 đến năm 2016, nghiên cứu ghi
nhận rằng tỷ lệ chi trả cổ tức giai đoạn hiện tại có tương quan cùng chiều và mức độ
tương quan là đáng kể với tỷ lệ giá trên thu nhập (PER) của giai đoạn tiếp theo đối với
các cơng ty có vốn hóa thị trường cao và các công ty sản xuất. Bên cạnh đó, tỷ lệ chi trả
cổ tức có tương quan nghịch chiều và ảnh hưởng đáng kể tới các công ty có tỷ lệ Giá trị
sổ sách với thị trường cao. Vốn hóa thị trường (quy mơ doanh nghiệp), tỷ lệ giữa giá trị
Sổ sách với Giá cổ phiếu trên thị trường (đại diện cho nhận định của thị trường về tiềm
năng tăng trưởng) và vấn đề ngành để xác định mức PER như một hàm của mức chi trả.
Tuy nhiên, một khi các mức PER đã được xác định thì sự thay đổi trong hệ số chi trả cổ
tức trong kỳ hiện tại có ảnh hưởng đáng kể và ngược chiều với sự thay đổi PER của kỳ
tiếp theo. Nghiên cứu tìm thấy bằng chứng ủng hộ lập luận rằng sự gia tăng trong giai
đoạn hiện tại báo hiệu giảm cơ hội đầu tư và tăng rủi ro và sẽ làm giảm tỷ lệ PER trong
tương lai. [3]
b. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê lịch sử: Phương pháp này sử dụng để phân tích thực trạng
Tỷ lệ cổ tức và Kỳ vọng thị trường của nhóm DN XDCTGT niêm yết ở Việt
nam.
- Phương pháp Khảo sát nhà đầu tư : phương pháp này sử dụng để đánh giá mức độ
ảnh hưởng của tỷ lệ cổ tức tới kỳ vọng thị trường theo nhận định chủ quan của

các nhà đầu tư.
- Phương pháp Hồi qui mơ hình : Phương pháp này để đánh giá sự ảnh hưởng của
tỷ lệ cổ tức tới kỳ vọng thị trường dựa trên số liệu thực tế của các công ty trên
-841-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

thị trường chứng khốn
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Tỷ lệ cổ tức và Kì vọng thị trường đối với nhóm Doanh
nghiệp XDCTGT niêm yết ở Việt Nam thoả mãn những điều kiện sau:
- Doanh thu của doanh nghiệp đến chủ yếu từ hoạt động xây dựng cơng trình giao
thơng
- Các doanh nghiệp đã thực hiện việc niêm yết và có khả năng chi trả cổ tức ít nhất
4 trong 5 năm từ 2015-2019
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
c. Kết quả nghiên cứu
Thực trạng tỷ lệ cổ tức và kì vọng thị trường
Khái quát về tỷ lệ cổ tức của nhóm doanh nghiệp xây dựng cơng trình giao thơng niêm
yết ở Việt Nam
Tỷ lệ cổ tức được tính theo cơng thức (1) sau đây:
(1)
Trong đó:
- D.Y là Dividend Yield là Lợi tức trên mỗi cổ phần
- Dividend là Cổ tức tiền mặt trên mỗi cổ phần
- 10.000 VNĐ là mệnh giá tiêu chuẩn trên thị trường chứng khoán Việt nam,được
quy định làm căn cứ xác định tỷ lệ cổ tức công bố trên các SCK ở VN

Tỷ lệ cổ tức trung bình 5 năm của nhóm doanh nghiệp trong mẫu được thể hiện trong
sơ đồ sau:

Đồ thị 1. Tỷ lệ cổ tức trung bình 5 năm
Như vậy ta có thể thấy, năm 2016 có thể coi là năm tốt nhất đối với mẫu quan sát
và năm 2019 là năm mà tỷ lệ cổ tức thấp nhất. Tỷ lệ cổ tức trung bình của năm 2016 là
khoảng 9% và năm 2019 là khoảng 4%. Để có thể thấy rõ hơn tỷ lệ cổ tức của nhóm
doanh nghiệp quan sát, ta chia tỷ lệ cổ tức thành các nhóm. Ta sử dụng tỷ lệ lạm phát
trung bình 5 năm, sức sinh lời trung bình ngành xây dựng, lãi suất tiền gửi tiết kiệm
trên thị trường làm căn cứ để chia nhóm. Ta có: Lạm phát trung bình 5 năm qua là
3,05% (số liệu theo thống kê của Tổng cục thống kê); Tỷ lệ lợi tức cổ tức trung bình
ngành 5 năm qua là 4,3% (số liệu theo thống kê của investing.com); Lãi suất trái phiếu
trung bình trên thị trường là 6,7% (số liệu theo Viện chiến lược và chính sách tài chính)
Từ đó có thể chia nhóm: Nhóm 1: dưới 3%; Nhóm 2: 3% - dưới 4,3%; Nhóm 3:
4.3% - dưới 6,7%; Nhóm 4: trên 6,7%. Ta có đồ thị sau:
-842-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thông vận tải

Đồ thị 2. Tỷ lệ cổ tức phân theo nhóm
Khi phân chia các doanh nghiệp theo nhóm dựa theo tỷ lệ cổ tức ta thấy có 2
nhóm doanh nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong mẫu đó là những doanh nghiệp có tỷ lệ cổ tức
thấp nhất và tỷ lệ cổ tức cao nhất, và nhóm có tỷ lệ cô tức thấp hơn mức lạm phát là lớn
nhất. Điều đó cho thấy tình hình cổ tức của các doanh nghiệp trong mẫu có sự phân hố
rõ rệt và tỷ lệ cổ tức trung bình của thị trường khơng cao nhưng nhóm doanh nghiệp có
tỷ lệ cao cũng chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Tỷ lệ cổ tức trung bình của nhóm cỏ tỷ lệ
cổ tức cao là 12,45%, tỷ lệ cao nhất là 30% và thấp nhất là 7%. Điều đó cho thấy, riêng

với nhóm chi trả tỷ lệ cổ tức cao của mẫu nghiên cứu thì các doanh nghiệp vẫn có sức
cạnh tranh nhất định trên thị trường khi đặt cùng các doanh nghiệp còn lại trong ngành
và các doanh nghiệp khác trên thị trường.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, số quan sát có tỷ lệ cổ tức thấp hơn cả lạm
phát trung bình là nhiều nhất, điều đó đồng nghĩa với việc nhiều doanh nghiệp trong
mẫu khơng mang lại lợi ích đáng kể cổ đông nếu chỉ xét theo tỷ lệ cổ tức.
Khái qt về kì vọng thị trường của nhóm doanh nghiệp xây dựng cơng trình giao
thơng niêm yết ở Việt Nam
Kì vọng thị trường được tính tốn bằng cách lấy giá cổ phiếu chia cho lợi nhuận
sau thuế trên mỗi cổ phiếu. Cơng thức (2) :
(2)
P
Trong đó:
- PER là Tỷ lệ Giá trên Lợi nhuận mỗi cổ phần
- Price per Share là Giá bán mỗi cổ phần
- Earing per Share là Lợi nhuận mỗi cổ phần
Lý do để hệ số này tăng là do Giá bán tăng (do nhà đầu tư kì vọng về sự tăng
trưởng tốt hơn của cơng ty) hoặc giá bán giữ nguyên mà lợi nhuận mỗi cổ phần lại
giảm (lợi nhuận giảm nhưng nhà đầu tư vẫn có niềm tin vào doanh nghiệp và thị trường
vẫn giữ được sự thay đổi không đáng kể của giá bán). Để làm rõ hơn về mức độ kì
vọng thị trường đối với nhóm doanh nghiệp này, ta có đồ thị thể hiện PER của các
doanh nghiệp, được phân tích theo 110 quan sát như sau. Tác giả không sử dụng cách
phân tích theo số trung bình vì trong mẫu có một số quan sát có hệ số PER tăng đột
biến (do lợi nhuận sụt giảm mạnh chứ không phải do doanh nghiệp gây dựng được kì
vọng thì trường tốt), PER lớn này sẽ kéo PER trung bình của doanh nghiệp lên rất cao,
-843-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII


Trường Đại học Giao thông vận tải

nhưng lại không phán ảnh được là DN đang làm ăn tốt và có kì vọng thị trường tốt.

Đồ thị 3. PER của 110 quan sát của 22 doanh nghiệp
Theo đồ thị, PER trung bình của các doanh nghiệp trong 5 năm phân bố nhiều ở
mức thấp nhấp (dưới 10 lần), điều đó hàm ý rằng nhóm doanh nghiệp này khơng phải
là nhóm cổ phiếu có kì vọng thị trường cao.
Quan sát trên bộ số liệu chi tiết ta có, mức kì vọng cao phân bố đều ở cả những
cơng ty có lợi nhuận thấp hay lợi nhuận cao. Tuy nhiên, mức kì vọng thị trường chỉ đo
xem giá bán cổ phiếu gấp bao nhiêu lần lợi nhuận doanh nghiệp thực tế đạt được, chỉ
số này sẽ phản ánh được chênh lệch về kì vọng của các công ty một cách rõ nét nếu các
công ty trong mẫu có mức lợi nhuận tương đồng nhau. Nếu so sánh một công ty làm ăn
kém, EPS rất thấp, giá bán cổ phiếu cũng thấp nhưng tỷ lệ giữa giá bán và EPS rất cao
với một công ty làm ăn tốt, EPS cao và giá bán chỉ lớn hơn vài lần so với EPS thì
khơng thể nói cơng ty thứ nhất được đề cập đang làm ăn tốt hơn và đạt được ủng hộ
của thị trường tốt hơn. Khi các cơng ty trong tồn mẫu có sự chênh lệch lợi nhuận như
mẫu quan sát thì việc cơng ty nhỏ có hệ số PER cao hơn một doanh nghiệp lớn khơng
thực sự mang nhiều ý nghĩa so sánh.
Bên cạnh đó, chỉ có một số ít doanh nghiệp duy trì được hệ số PER ổn định qua
các năm. Đa phần các doanh nghiệp đều đối mặt với thực tế là kì vọng thị trường tăng
giảm rất bất thường.
• Kết luận chung về kì vọng thị trường
+ Kì vọng thị trường đối với nhóm doanh nghiệp được xem xét nhìn chung đa
phần ở mức thấp so với các nhóm ngành các ở Việt Nam trong 5 năm vừa qua.
+ Kì vọng thị trường đối với nhóm doanh nghiệp đang được xem xét rất dễ thay
đổi, thiếu ổn định.
+ Nhóm các doanh nghiệp có lợi nhuận rất thấp hoặc lợi nhuận rất cao đối mặt
với sự biến động PER nhiều hơn. Tuy nhiên, đa phần những sự thay đổi này là do thay
đổi về EPS hơn là thay đổi về giá cổ phiếu.

Kết quả khảo sát nhà đầu tư
Giới thiệu về cuộc khảo sát
Tác giả khảo sát 150 nhà đầu tư trên thị trường chứng khốn có nắm giữ mã cổ
phiếu của ít nhất một doanh nghiệp xây dựng cơng trình giao thơng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Nội dung khảo sát: Đánh giá của các nhà đầu tư về tác động của Tỷ lệ cổ tức tới
Kì vọng thị trường của chính họ đối với cổ phiểu của nhóm này theo 3 mức: Tác động
rất mạnh, tác động bình thường, tác động không đáng kể
-844-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thông vận tải

Kết quả khảo sát
Tỷ lệ phản hồi là 123/150 nhà đầu tư ( chiếm 82 %)
Kết quả khảo sát được thể hiện trong đồ thị sau:

Đồ thị 4. Tác động của D.Y tới PER
Như vậy có thể thấy rất rõ rằng các nhà đầu tư đều cho rằng thay đổi Tỷ lệ cổ tức
có tác động tới kì vọng thị trường và đa phần (khoảng 64% số NĐT được khảo sát) cho
rằng mức độ tác động là rất mạnh. Chỉ có 11% số nhà đầu tư cho rằng mức độ này là
không đáng kể.
Kết quả sử dụng mơ hình
Để đo lường tác động đến chính sách cổ tức của các DN niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, tác giả sẽ tiến hành phương pháp hồi quy lần lượt 2 mơ hình:
FEM (Mơ hình tác động cố định), REM (Mơ hình tác động ngẫu nhiên). Sau đó, nhóm
tác giả sẽ sử dụng các kiểm định để lựa chọn mơ hình phù hợp.
Mơ hình tổng qt:

Yit= α+ βk Xkit+ uit
Trong đó:
+ Yit Giá trị của biến phụ thuộc ứng với DN i vào thời gian t (Kì vọng thị trường
PER)
+ Xit Giá trị của biến độc lập đại diện cho nhân tố tác động tới biến phụ thuộc
(Tỷ lệ cổ tức tiền mặt)
+ uit Sai số ngẫu nhiên của DN i vào thời gian t.
+ Cách xác định được mơ hình phù hợp: Để đánh giá được mơ hình nào là phù
hợp để nghiên cứu, tác giả sử dụng kiểm định Hausman-test để lựa chọn FEM hay
(REM).
Kết quả
Kết quả hồi quy của cả hai mơ hình đều thống nhất rằng chính sách cổ tức tiền
mặt có tác động lợi kì vọng thị trường của doanh nghiệp. Kết quả kiểm định Hausman
Test cho thấy, vì p-value = 0,1040 > 0.05, tức là chúng ta không đủ cơ sở để bác bỏ giả
thuyết Ho với mức ý nghĩa 5%, kết luận là khơng có sự khác biệt giữa FEM và REM
một cách có ý nghĩa thống kê, vì vậy, chúng ta sử dụng mơ hình REM sẽ phù hợp hơn.
Kết quả ước lượng mơ hình được REM như sau:
PERit = 20.91253 + 1.82791 DYit
Căn cứ vào kết quả ước lượng theo mơ hình REM ta thấy:
-845-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

+ Mơ hình lựa chọn có hệ số xác định bội là 0,6574 nghĩa là mô hình giải thích
được 65,74% sự biến động của PER do DY gây ra;
+ DY có tác động cùng chiều tới PER, khi tỷ lệ cổ tức (tính trên 100) tăng 1 đơn
vị thì PER tăng 1.82791 đơn vị và ngược lại. Hay là khi Số tiền chi trả cổ tức tăng 100

đồng thì tỷ lệ PER tăng thêm 1.82791.
d. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Theo kết quả mơ hình thì Có mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và kì vọng thị
trường. Mối quan hệ được nghiên cứu là thuận chiều đồng nghĩa với việc khi chính sách
cổ tức tăng, tiền cổ tức tăng thì kì vọng thị trường tăng và khi chính sách cổ tức giảm
thì kì vọng thì trường cũng giảm.
• Trong trường hợp cổ tức giảm
Khi cổ tức giảm mà lợi nhuận của doanh nghiệp đang ổn định thì giá cổ phiếu
giảm nhanh khiến cho PER giảm
Nếu cổ tức giảm trong khi lợi nhuận của doanh nghiệp giảm thì giá cổ phiếu sụt
giảm rất nhiều khiến PER giảm mạnh.
Khi cổ tức giảm trong khi lợi nhuận tăng thì giá bán cũng có tăng nhẹ, tuy nhiên
lại tăng với tốc độ thấp hoặc không tăng, khiến cho kì vọng thị trường vẫn giảm
• Trong trường hợp cổ tức tăng
Cứ khi cổ tức tăng bất kể tình trạng lợi nhuận đang cao hay thấp thì giá CP tăng
đủ nhiều để khiến cho tỷ lệ PER tăng,
Từ đó ta có thể nói, tâm lí nhà đầu tư VN đối với nhóm cổ phiếu của các cơng ty
XDCTGT chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự tăng giá hay giảm giá cổ phiếu
KIẾN NGHỊ
• Đối với nhà đầu tư:
Hiện tại, cứ khi nào hệ số cổ tức giảm thì kì vọng thị trường đối với cổ phiếu
giảm, các nhà đầu tư cần phân biệt rõ ràng mục đích của việc cắt giảm cổ tức để đưa ra
quyết định đầu tư hợp lí, sẽ có những tình huống mà việc cắt giảm cổ tức lại mang lại
lợi ích lớn hơn cho nhà đầu tư. Lí do là vì các doanh nghiệp XDCTGT là nhóm doanh
nghiệp có tài sản lớn và sự phát triển dài hạn do sản phẩm là các cơng trình giao thông
cần lượng vốn lớn nhưng lại thu lại dần dần nên thời gian thu hồi vốn lâu, có thể lên tới
cả chục năm và vài chục năm đối với các cơng trình lớn.
Nếu doanh nghiệp đang có các chiến lược kinh doanh tốt mà muốn dành đa phần
lợi nhuận giữ lại, thậm chí tồn bộ số lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư thay vì chi trả cổ
tức thì các cổ phiếu này có tiềm năng mang lại nguồn lợi rất lớn cho các doanh nghiệp

trong tương lai. Các nhà đầu tư nên cân nhắc đưa các doanh nghiệp như vậy vào danh
mục đầu tư, khi nhiều nhà đầu tư cũng hướng tới việc phát triển dài hạn của doanh
nghiệp như vậy thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn và thực sự
mang lại lợi ích lớn trong dài hạn cho nhà đầu tư.
• Đối với DN:
DNXDCTGT có thể lợi dụng tâm lí thích cổ tức của nhà đầu tư trước những thời
điểm doanh nghiệp cần có nguồn vốn lớn phục vụ cho các dự án có khả năng sinh lời
cao một cách tương đối chắc chắn. Việc thực hiện chi trả cổ tức cao ở một năm sẽ khiến
hình ảnh của cơng ty trở nên tốt hơn, kì vọng thị trường cao hơn, việc phát hành cổ
phiếu mới, vay vốn ngân hàng hay kí các hợp đồng về nguyên vật liệu hay nhân công
-846-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

với các đối tác cũng có thể dễ dàng hơn khi mà cổ phiếu của doanh nghiệp được đánh
giá cao trên thị trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Talat Afza và Samya Tahir (2012),Các nhân tố ảnh hưởng tới hệ số P/E: trường
hợp các doanh nghiệp ở Pakistan, International Journal of Academic Research in
Business and Social Sciences, 2012, vol 2, trang 331 - 334
[2]. Jitmaneeroj, Boonlert (2017), “ Tác động của chính sách cổ tức lên tỷ số Giá
trên thu nhập P/E”, đăng trên tạp chí Review of Accounting and Finance, 2017,
số 16, trang 101-108.
[3]. Krishnan, Cnv; Chen, Yifei(2017), “Mối quan hệ giữa hệ số chi trả cổ tức và hệ
số Giá trên thu nhập”, (December 9, 2019). Available at SSRN:
https://ssrn.com/abstract=3016040 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3016040


-847-



×