Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Nghiên cứu chế tạo vật liệu nano lưỡng tính Fe3O4/Ag bằng phương pháp lý hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (611.85 KB, 8 trang )

Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thông vận tải

NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU NANO LƯỠNG TÍNH Fe3O4/Ag
BẰNG PHƯƠNG PHÁP LÝ HỐ
Đồn Thị Th Phượng1, Vũ Văn Duy2, Nguyễn Phi Hùng1*, Bùi Quang Tuấn1,
Bùi Lê Hồng Minh3, Nguyễn Xuân Tuyên1, Lê Thị Giang4, Chu Tiến Dũng1*
Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Giao thông vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội
Khoa Điện-Điện tử (TĐH3-59), Trường Đại học Giao thông vận tải, Số 3 Cầu Giấy,
Hà Nội
3
Khoa KTMT&ATGT, Trường Đại học Giao thông vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội
4
Khoa Kỹ thuật Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức, Số 565 Quang Trung, Đơng
Vệ, TP. Thanh Hố
*
Tác giả liên hệ: Email: Chutdung-vly@utc.edu.vn; Nphung@utc.edu.vn

1

2

Tóm tắt. Nội dung bài báo trình bày phương pháp chế tạo vật liệu nano lưỡng tính
Fe3O4/Ag bằng phương pháp lý hoá kết hợp. Cấu trúc và thành phần pha của vật liệu
được khảo sát bằng phương pháp nhiễu xạ tia X cho thấy vật liệu tạo thành đồng thời
chứa pha ơxit sắt từ tính (Fe3O4) và pha kim loại bạc (Ag). Bên cạnh đó, kết quả đo từ
tính và hấp thụ quang là minh chứng cho thấy vật liệu nano composit Fe3O4/Ag thể hiện
đồng thời tính chất siêu thuận từ với từ độ bão hồ có giá trị 40,8 emu.g-1 (đo ở nhiệt độ
phịng, từ trường ngồi 10,2 kOe) và tính chất hấp thụ plasmon bề mặt mạnh với đỉnh
hấp thụ ở bước sóng 410 nm. Vật liệu nano composit hứa hẹn mang lại khả năng ứng


dụng trong xử lý ô nhiễm môi trường nước trong tương lai gần.
Từ khóa: Fe3O4, nano composit, Fe3O4/Ag, siêu thuận từ, plasmon bề mặt.

1. MỞ ĐẦU
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nano thì vật liệu nano ln là một nhánh
nghiên cứu dành được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và
trên thế giới. Vật liệu ở kích thước nano có những đặc điểm và tính chất mới lạ hồn
tồn khác so với vật liệu khối thơng thường, nguyên nhân gây ra là do hiệu ứng kích
thước tới hạn của vật liệu, đặc biệt với các vật liệu nano kim loại quý (Ag, Au,…) thì
hiệu ứng cộng hưởng plasmon bề mặt của vật liệu được thể hiện rõ khi bị kích thích bởi
chùm sáng. Khi đó, điện trường của ánh sáng tới sẽ làm cho các điện tử tự do trên bề
mặt vật liệu dao động cưỡng bức theo tần số của điện trường ánh sáng tới tạo thành dao
động plasma bề mặt. Nếu các vật liệu kim loại dạng hình cầu có kích thước tương
đương với bước sóng ánh sáng chiếu tới thì sẽ xảy ra hiện tượng giam giữ lượng tử của
dao động plasma bề mặt và các dao động này được cộng hưởng tăng cường mạnh tạo
thành đỉnh hấp thụ cao được quan sát trong phổ hấp thụ tử ngoại - khả kiến (với nano
Ag có đỉnh hấp thụ trong khoảng 400 nm, nano Au có đỉnh hấp thụ trong khoảng 520
-927-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

nm) [1]. Hơn nữa, khi kích thước của vật liệu càng giảm thì tổng diện tích bề mặt trên
một đơn vị khối lượng của vật liệu tăng cao, dẫn đến làm tăng diện tích hấp thụ, trao
đổi của vật liệu nano đối với môi trường xung quanh. Hạt nano kim loại quý cụ thể là
nano bạc (Ag) với tính chất hấp thụ plasmon bề mặt, tán xạ Raman tăng cường bề mặt
được tăng lên hàng triệu lần giúp tăng cường khả năng quang xúc tác, kháng khuẩn.
Đặc biệt, gần đây nhiều nhóm trên thế giới nghiên cứu về khả năng tương thích sinh

học, đánh dấu sinh học, kháng khuẩn của nano bạc nhằm ứng dụng trong xử lý ô nhiễm
môi trường [2, 3]. Tuy nhiên, hạn chế của các nano Ag khi sử dụng trong xử lý ơ nhiễm
nước là khó thu hồi, khó loại bỏ hồn tồn chất ơ nhiễm sau xử lý dẫn đến tích tụ trong
mơi trường và có thể trở thành các chất ô nhiễm thứ cấp.
Để giải quyết hạn chế của nano Ag, các nghiên cứu điều khiển, định hướng và
phân tách chất ô nhiễm sử dụng nano Fe3O4 siêu thuận từ đã và đang được phát triển
không ngừng. Các hạt nano Fe3O4 ở kích thước khoảng 10 nm được nghiên cứu chế tạo
và thử nghiệm hấp thụ, tách lọc kim loại As ra khỏi dung dịch cho hiệu suất cao với
nồng độ As sau tách lọc đạt tới 15  g [4]. Các hạt nano Fe3O4 được chức năng hoá
với các phối tử gốc schiff nhằm tăng khả năng hấp thụ và loại bỏ các kim loại nặng
trong dung dịch nước thải đã được Moradinasab và Behzad công bố [5]. Zhan và cộng
sự tiến hành chức năng hoá hạt nano từ tính với các nhóm chức chứa nitơ (-NH2, -NH-)
nhằm tăng khả năng hấp thụ, bắt cặp, phân tách các ion kim loại nặng, các loại vi
khuẩn, virus gây bệnh ra khỏi dung dịch nước thải bằng gradient từ trường bên ngồi
[6]. Tuy nhiên, hạt nano từ tính Fe3O4 trần (khơng được chức năng hóa bề mặt) sẽ rất dễ
bị ôxi hoá, dẫn đến làm cho các hạt nano Fe3O4 khơng bền trong mơi trường, làm giảm
từ tính của vật liệu nên khơng có khả năng thực hiện được chức năng phân tách khi đưa
vào ứng dụng thực tế.
Chính vì vậy, việc bọc lớp vỏ bao quanh các hạt nano từ tính Fe3O4 là vấn đề cấp
thiết nhằm bảo vệ lõi từ tính Fe3O4 tránh khỏi các tác động hóa học của môi trường,
đồng thời làm tăng hiệu suất hấp thụ, xử lý các chất ô nhiễm trong môi trường. Các lớp
bọc khác nhau như silica, chitosan, cacbon… đã được nhiều nhóm nghiên cứu quan tâm
trong những năm gần đây [7-10]. Trong bài báo này, nhóm tác giả nghiên cứu bọc lớp
vỏ bảo vệ lên bề mặt vật liệu nano Fe3O4 thơng qua hai giai đoạn: - Chức năng hố bề
mặt Fe3O4 bằng phân tử (3-Aminopropyl)triethoxysilane (APTES); - Gắn kết lên bề mặt
vật liệu chức năng bằng các nano Ag nhằm tạo ra vật liệu composit đa tính năng vừa có
khả năng quang xúc tác, kháng khuẩn của nano Ag, vừa có khả năng thu hồi, phân tách
chất ơ nhiễm trong dung dịch.
2. THÍ NGHIỆM
9.2. Hố chất thí nghiệm;

Các hố chất được sử dụng để chế tạo mẫu vật liệu composit bao gồm:
FeCl2.4H2O 99%; FeCl3.6H2O 98%; NH4OH 25%-28%; PVP, APTES, AgNO3, NaBH4,
ethanol 96% (cồn) đều được mua từ hãng Sigma aldrich của Cộng hoà liên bang Đức.

-928-


Trường Đại học Giao thông vận tải

Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

9.3. Chế tạo vật liệu;
Chế tạo hạt nano Fe3O4 bằng phương pháp đồng kết tủa, sau đó được chức năng
hố bề mặt với các phân tử APTES bằng phản ứng thuỷ phân - ngưng tụ theo qui trình
được mơ tả theo bài báo của nhóm tác giả Chu [9, 11, 12] thu được các hạt nano Fe3O4
và các hạt nano Fe3O4 chức năng hoá với APTES ký hiệu là Fe3O4-N.
Các hạt nano composit Fe3O4/Ag được chế tạo bằng phương pháp hố khử có sử
dụng sóng siêu âm giúp kích thích phản ứng và phân tán vật liệu đồng đều tránh bị kết
tụ thành vật liệu khối cụ thể như sau: 10 mg hạt nano Fe3O4-N được phân tán trong 100
ml cồn tuyệt đối 96%, sau đó thêm 2 ml AgNO3 0,01 M vào hỗn hợp, tiếp tục rung siêu
âm để hấp thụ qua đêm. Hỗn hợp mẫu được thêm vào 2 ml NaBH4 0,01 M và rung siêu
âm thời gian 2 giờ, già hoá mẫu trong 2 giờ sau đó lọc rửa sạch bằng nước cất nhiều lần
nhờ phân tách trong từ trường ngoài thu được mẫu composit sạch.
9.4. Phương pháp khảo sát cấu trúc, tính chất vật liệu;
Cấu trúc, thành phần pha của các mẫu vật liệu được xác định phép đo nhiễu xạ tia
X (XRD) trên hệ máy D8 ADVANCE (Bruker - Germany) tại Khoa Hóa học, Trường
ĐH Khoa học Tự nhiên. Tính chất từ của vật liệu được xác định trên hệ đo từ kế mẫu
rung DMS 880 (Hoa Kỳ) tại Trung tâm Khoa học Vật liệu, Khoa Vật lý, Trường ĐH
Khoa học Tự nhiên. Quang phổ hấp thụ plasmon bề mặt cục bộ trong vùng tử ngoại khả kiến (UV-Vis) được khảo sát trên hệ máy UV - Carry 50 đặt tại Phịng thí nghiệm
Bộ mơn Kỹ thuật Mơi trường, Trường Đại học Giao thông vận tải.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Cấu trúc và thành phần pha của vật liệu
Cấu trúc và thành phần pha của vật liệu nano Fe3O4, Fe3O4-N và Fe3O4/Ag được
mô tả trên giản đồ nhiễu xạ tia X (Hình 1). Giản đồ XRD của nano Fe3O4 trong Hình
1(a) xuất hiện rõ các đỉnh nhiễu xạ tại các vị trí góc 2θ = 30,2o; 35,6o; 43,4o; 53,7o;
57,1o; 62,7o tương ứng với vị trí các mặt phẳng nhiễu xạ (220), (311), (400), (422),
(511) và (440) phù hợp với phổ chuẩn của ôxit sắt từ Fe3O4 (JCPDS Cards 19-0629) [9
- 12]. Kết quả này cho thấy, các hạt nano ôxit sắt từ Fe3O4 có cấu trúc lập phương, dạng
spinel ngược thuộc nhóm cấu trúc khơng gian Fd-3m. Do đó, hằng số mạng tinh thể a
của vật liệu sẽ có mối liên hệ với khoảng cách d giữa các mặt phẳng tinh thể theo công
thức (1) dưới đây:

a = d h2 + k 2 +

2

(1)

Với giá trị d được tính tốn từ giản đồ XRD theo công thức (2) của định luật phản
xạ Bragg [12]:

2d sin  = n

(2)

Trong đó, θ, λ lần lượt là góc nhiễu xạ và bước sóng tia X với cathode bằng Cu có
giá trị là λ = 1,54056 Å (với n = 1, 2,3,... ).
-929-



Trường Đại học Giao thông vận tải

Hội nghị Khoa học cơng nghệ lần thứ XXII

Đường kính trung bình D và giá trị sai số D của tinh thể vật liệu nano có thể tính
tốn được từ cơng thức Scherrer (3), (4):

Hình 1. Giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu vật liệu nano Fe3O4 (a), Fe3O4-N (b) và
Fe3O4/Ag (c).

D=

0,9.
 .cos

 0,9 
D =  2
  cos 

(3)

 0,9 
  + 
2

  cos 


 



(4)

Với  là độ bán rộng của đỉnh nhiễu xạ.
Kết quả tính tốn thu được hằng số mạng của tinh thể nano Fe3O4 là
a = 8,385  0,011 (Å) khá trùng khớp với các kết quả đã công bố trước đây [7 - 11].
Đường kính của hạt nano Fe3O4 tính tốn được có giá trị là D = 10,3  2,9 (nm), ở kích
thước này các hạt nano Fe3O4 đạt tới điều kiện kích thước tới hạn của vật liệu siêu
thuận từ như đã được nhiều cơng trình cơng bố [7, 13].
Vật liệu nano Fe3O4 sau khi chức năng hoá với các phân tử APTES bằng phản ứng
thuỷ phân – ngưng tụ tạo thành các nhóm chức amin (-NH2) gắn kết trên bề mặt hạt
nano từ tính tạo thành vật liệu chức năng Fe3O4-N được mô tả cấu trúc tinh thể trên giản
đồ XRD Hình 1(b). So sánh giữa hai giản đồ XRD Hình 1(a) và Hình 1(b) cho thấy cấu
trúc, thành phần pha của tinh thể Fe3O4 không bị biến đổi sau khi chức năng hố. Q
trình này giúp cho tính chất từ của vật liệu nano từ tính khơng bị biến đổi, lớp chức
-930-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

năng hố góp phần bảo vệ tinh thể Fe3O4 tránh khỏi các tác động từ môi trường xung
quanh.
Trên Hình 1(c) biểu thị giản đồ XRD của mẫu vật liệu nano composit Fe3O4/Ag
ngoài sự xuất hiện của các đỉnh nhiễu xạ đặc trưng của tinh thể nano Fe3O4 tại các vị trí
ứng với mặt phẳng tinh thể (220), (311), (511) và (440) với cường độ đỉnh giảm tương
đối so với cường độ đỉnh trong mẫu nano Fe3O4 đơn lẻ. Bên cạnh đó, giản đồ XRD
Hình 1(c) cịn xuất hiện các đỉnh nhiễu xạ tại các góc nhiễu xạ 2θ = 38,2o; 44,3o; 64,5o
tương ứng với vị trí các mặt phẳng nhiễu xạ (111), (200) và (220) của tinh thể nano Ag,

phù hợp với phổ chuẩn của kim loại Ag (JCPDS Cards 4-0783) [3, 12]. Các đỉnh nhiễu
xạ trên giản đồ XRD là minh chứng cho thấy tinh thể nano Ag hình thành có cấu trúc
lập phương tâm mặt phù hợp với các công bố của Mayer và cộng sự [1]. Hơn nữa, trong
giản đồ XRD của mẫu composit Fe3O4/Ag khơng cịn xuất hiện đỉnh nhiễu xạ tại các vị
trí của mặt phẳng tinh thể (400) và (422) của tinh thể nano Fe3O4. Nguyên nhân của sự
mất đỉnh và suy giảm cường đồ nhiễu xạ tại các vị trí của tinh thể Fe3O4 có thể được
giải thích một phần là do sự hình thành các nano tinh thể Ag bao bọc xung quanh tinh
thể Fe3O4 làm suy giảm cường độ, giảm độ xuyên sâu của tia X chiếu tới vật liệu từ tính
bên trong. Kết quả XRD là minh chứng rõ ràng cho thấy sự tồn tại đồng thời 2 thành
phần pha vật liệu kim loại Ag và từ tính Fe3O4 trong composit.

Hình 2. Tính chất siêu thuận từ của các mẫu vật liệu nano Fe3O4 (a), Fe3O4-N (b) và
Fe3O4/Ag (c).
3.2. Tính chất từ của vật liệu
Tính chất từ của vật liệu được biểu diễn trên đường cong từ độ (M) của mẫu vật
liệu phụ thuộc vào cường độ từ trường bên ngoài đặt vào (H) thu được trên hệ DMS
880 cho kết qua được mô tả như Hình 2. Trên Hình 2 cho thấy rõ các đường cong M(H)
của các mẫu khảo sát đều đi qua gốc 0, khơng có hiện tượng từ trễ - tức là khi từ trường
-931-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

ngồi H tiến tới 0 (Oe) thì từ độ M của vật liệu đạt tới giá trị nhỏ tiến tới 0 (emu/g). Kết
quả này cho biết các mẫu vật liệu nano đã chế tạo có tính chất siêu thuận từ (với từ dư
và lực kháng từ khá nhỏ). Tính chất này của vật liệu là điều kiện tốt cho các hạt nano
siêu thuận từ có thể phân tán dễ dàng trong dung mơi khi khơng có từ trường ngoài
bằng chuyển động khuếch tán của phân tử vào dung dịch giúp cho các vật liệu siêu

thuận từ có thể bắt cặp với các thực thể mơi trường, sinh học mục tiêu [4 - 7]. Điều đặc
biệt, tính chất siêu thuận từ của vật liệu (khi từ trường ngồi tăng lên đạt một giá trị
nhất định thì giá trị từ độ của vật liệu tăng nhanh và đạt giá trị bão hoà ở nhiệt độ khảo
sát - nhiệt độ phịng). Giá trị từ độ bão hồ tỉ lệ thuận với độ cảm từ của vật liệu giúp có
thể dễ dàng định hướng, khu trú, thu hồi các vật liệu siêu thuận từ trong dung dịch bằng
từ trường bên ngồi [5 - 11]. Ở nhiệt độ phịng, từ độ bão hồ của mẫu nano Fe3O4,
Fe3O4-N, Fe3O4/Ag thu được có giá trị cao tương ứng là 69,3 emu.g-1, 51,9 emu.g-1 và
40,8 emu.g-1 tại từ trường ngoài 10,2 kOe. Sự suy giảm của từ độ bão hoà trong các
mẫu vật liệu nano được giải thích là do sự hình thành các lớp chức năng hố (-(O-)3SiC3H6-NH2) khơng có từ tính hoặc hình thành các vật liệu nghịch từ (nano Ag) khơng có
mơmen từ tính nên dẫn đến từ độ trên một đơn vị khối lượng giảm [12]. Kết quả đo tính
chất từ cũng là một cơ sở giúp khẳng định hình thành các nhóm chức năng hố và nano
Ag trên nền nano Fe3O4 tạo thành composit Fe3O4/Ag. Tính chất siêu thuận từ của vật
liệu nano composit với từ độ bão hoà ở nhiệt độ phòng cao giúp cho các hạt nano siêu
thuận từ khơng bị kết tụ, có thể phân tán dễ dàng trong dung dịch nhằm xử lý tối đa các
chất ơ nhiễm và xa hơn có thể thu hồi lại các hạt nano này bằng gradien từ trường bên
ngồi.

Hình 3. Tính chất hấp thụ tử ngoại - khả kiến của các mẫu vật liệu nano Fe3O4 (a),
Fe3O4-N (b) và Fe3O4/Ag (c).

-932-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thơng vận tải

3.3. Tính chất quang của vật liệu và khả năng ứng dụng
Tính chất hấp thụ quang học đặc trưng của nano kim loại khi chiếu ánh sáng tới bề
mặt được thể hiện khá rõ khả năng hấp thụ mạnh với đỉnh hấp thụ cộng hưởng plasmon

bề mặt có cường độ lớn ở bước sóng 410 nm (Hình 3). Quan sát Hình 3 cho thấy, sự
xuất hiện đỉnh hấp thụ khi có ánh sáng chiếu tới khơng xảy ra trên các mẫu vật liệu
nano Fe3O4 và Fe3O4-N, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu đã công bố [1-3, 12].
Theo nghiên cứu của Marimuthu và cộng sự [3] chứng tỏ rằng với đỉnh hấp thụ cộng
hưởng plasmon bề mặt là chỉ thị giúp phát hiện ra các chất ô nhiễm trong môi trường
khi được chức năng hoá bề mặt phù hợp. Hơn nữa, khi hấp thụ các bức xạ thì các điện
tử dẫn trên bề mặt nano composit trở nên linh động nên có thể cho và nhận điện tử với
môi trường xung quanh và gây ra các phản ứng ơxi hố – khử giúp xử lý các chất ơ
nhiễm trong mơi trường. Như vậy, có thể thấy vật liệu nano composit Fe3O4/Ag hứa hẹn
khả năng xử lý quang xúc tác rất lớn trong thực tiễn xử lý nước thải trong tương lai.
4. KẾT LUẬN
Bài báo đã sử dụng các phương pháp đồng kết tủa, thuỷ phân – ngưng tụ, khử hoá
học với sự hỗ trợ của sóng siêu âm để chế tạo thành cơng mẫu vật liệu nano composit
Fe3O4/Ag. Vật liệu nano composit Fe3O4/Ag chứa đồng thời hai thành phần pha cấu
thành đó là: Pha siêu thuận từ của nano Fe3O4 với từ độ bão hồ cao giúp định hướng,
phân tách chất ơ nhiễm, thu hồi - tái sử dụng vật liệu nano composit khi xử lý nước thải;
Pha kim loại Ag với khả năng hấp thụ mạnh ánh sáng chiếu tới tại bước sóng 410 nm
mang lại khả năng quang xúc tác mạnh làm biến đổi, phân huỷ các chất ô nhiễm trong
môi trường. Chính vì vậy, vật liệu nano composit Fe3O4/Ag hứa hẹn sẽ trở thành vật
liệu xử lý nước thải có hiệu quả cao trong thực tiễn.
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Bộ giáo dục và Đào tạo đã tài trợ cho nghiên cứu này
trong khuôn khổ đề tài mã số B2018-GHA-17 và B2020-GHA-04.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. K.M. Mayer, J.H. Hafner, Localized surface plasmon resonance sensors, Chemical
Reviews, 111(6) (2011) 3828-3857.
[2]. M.T. Moustafa, Removal of pathogenic bacteria from wastewater using silver
nanoparticles synthesized by two fungal species, Water science 31 (2017) 164-176.
[3]. S. Marimuthu, A.J. Antonisamy, S. Malayandi, K. Rajendran, P.C Tsai, A.
Pugazhendhi, V.K. Ponnusamy, Silver nanoparticles in dye effluent treatment: A review

on synthesis, treatment methods, mechanisms, photocatalytic degradation, toxic effects
and mitigation of toxicity, Journal of Photochemistry & Photobiology, B: Biology 205
(2020) 111823.
-933-


Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII

Trường Đại học Giao thông vận tải

[4]. I. Akin, G. Arslan, A. Tor, M. Ersoz, Y. Cengeloglu, Arsenic (V) removal from
underground water by magnetic nanoparticles synthesized from waste red mud, Journal
of Hazardous Materials, 235-236 (2012) 62-68.
[5]. S. Moradinasab and M. Behzad, Removal of heavy metals from aqueous solution
using Fe3O4 nanoparticles coated with Schiff base ligand, Desalination and Water
Treatment, 57(9) (2014) 4028-4036.
[6]. S. Zhan, Y. Yang, Z. Shen, J. Shan, Y. Li, S. Yang, D. Zhu, Efficient removal of
pathogenic bacteria and viruses by multifunctional amine-modified magnetic
nanoparticles, Journal of Hazardous Materials, 274 (2014) 115-123.
[7]. H. Shi, J. Yang, L. Zhu, Y. Yang, H. Yuan, Y. Yang, X. Liu, Removal of Pb 2+,
Hg2+, and Cu2+ by Chain-Like Fe3O4@SiO2@Chitosan Magnetic Nanoparticles, J
Nanosci. Nanotechnol., 16(2) (2016) 1871-1882.
[8]. M. Chen, L.L. Shao, J.J. Li, W.J. Pei, M.K. Chen and X.H. Xie, One-step
hydrothermal synthesis of hydrophilic Fe3O4/carbon composites and their application in
removing toxic chemicals”, RSC Adv., 6 (2016) 35228-35238.
[9]. C.T. Dung, L.M. Quynh, T.T. Hong, and N.H. Nam, Synthesis, Magnetic Properties
and Enhanced Photoluminescence of Fe3O4-ZnO Heterostructure Multifunctional
Nanoparticles, VNU Journal of Science: Mathematics-Physics, 33(1) (2017) 16-33.
[10]. S. Mahdavi, M. Jalali, and A. Afkhami, Removal of heavy metals from aqueous
solutions using Fe3O4, ZnO, and CuO nanoparticles, J. Nanopart. Res. 14 (2012) 171188.

[11]. T.D. Chu, Multifunctional nanocomposites Fe3O4/ZnO: Synthesis, Characteristic
for Wastewater Treatment, TNU Journal of Science and Technology 225(06), 149-156,
2020.
[12]. T.D. Chu, C.D. Sai, M.Q. Luu, T.H. Tran, D.T. Quach, D.H. Kim, and H.N.
Nguyen, Synthesis of bifunctional Fe3O4@SiO2-Ag magnetic-plasmonic nanoparticles
by an ultrasound assisted chemical method, Journal of Electronic Materials 46(6),
3646-3653, 2017.
[13]. Z. Hedayatnasab, A. Dabbagh, F. Abnisa, W.M.A. Wan Daud, Polycaprolactonecoated superparamagnetic iron oxide nanoparticles for in vitro magnetic hyperthermia
therapy of cancer, European Polymer Journal, 133 (15) (2020) 109789.

-934-



×