Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

SKKN một số phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học môn toán lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.81 KB, 19 trang )

ĐỀ TÀI SKKN:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP “TÍCH CỰC HĨA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH ” TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4
I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ mở đầu thiên nhiên kỷ mới, trên thế giới có
biết bao sự thay đổi lớn lao và mạnh mẽ. Việt Nam, bước vào thời kỳ cơng
nghiệp hóa - hiện đại hóa là cơ hội cũng như chứa nhiều thử thách đối với
đất nước và con người thời đại mới. Đây là một quá trình đầy gian khổ kéo dài
nhiều năm dẫn đến những thay đổi quan trọng trong cơ cấu kinh tế, trình độ phát
triển sản xuất, khoa học kỹ thuật…Những thay đổi đó đã tác động vào giáo dục,
địi hỏi phải có những đổi mới tư duy giáo dục, phải thực hiện cải cách giáo dục,
giáo dục phải đi trước một bước, “đi tắt đón đầu” nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của xã hội, nhu cầu đào tạo ra những con người có trình độ, năng động
sáng tạo trong thời đại đổi mới.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định rất rõ ở Nghị
quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập quốc tế và xem “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Giáo dục là nhân tố
quan trọng nhất, là động lực, mục tiêu cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Trong Luật giáo dục, Khoản 2, Điều 24 đã ghi : “Phương pháp giáo dục
phổ thơng phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đạc điểm của từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”
Như vậy, có thể nói tư tưởng của đổi mới PPDH cũng là q trình của đổi
mới phương pháp dạy học tích cực hóa họat động học tập của học sinh. Tích cực
trong hoạt động học tập của học sinh thực chất là tính tích cực nhận thức được
đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình
chiếm lĩnh tri thức.


Trang

1


Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học đóng vai trị là tiền đề,
nền tảng. Tuy nhiên do đặc điểm về tâm sinh lý độ tuổi, các em học sinh chưa
biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nếu dạy học một cách thụ
động, học sinh sẽ không đáp ứng được nhu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trong
cạnh trạnh trí tuệ địi hỏi phải đổi mới giáo dục trong đó có sự đổi mới căn bản
về PPDH. Vì vậy, việc đổi mới PPDH Tốn lớp 4 là yêu cầu cần thiết của giáo
viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 4 như chúng tơi.
Ở chương trình lớp 4, mơn Tốn chiếm số tiết dạy rất lớn. Tuy chương
trình tốn đã có những đổi mới để tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức
mới nhằm giúp học sinh học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lực của
học sinh; nhưng để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, trước hết giáo viên
phải nắm vững mục tiêu, nội dung, khả năng có thể khai thác trong từng bài
học. Điều quan trọng là giáo viên phải xây dựng những hệ thống phương pháp
dạy học, biết kết hợp nhiều PPDH vào trong một tiết dạy nhằm huy động tính
tích cực, sáng tạo của học sinh trong hoạt động học, để các em nắm chắc và vận
dụng thành thạo nội dung trong từng bài, góp phần phát triển năng lực tư duy và
năng lực thực hành của mình để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế, để
giúp học sinh lĩnh hội được đầy đủ các kiến thức từ những phương pháp dạy
học. Qua thực tế giảng dạy, bản thân tơi ln trăn trở phải làm gì, làm như thế
nào để các em có hứng thú trong học tập, nhất là đối với mơn Tốn. Chính vì
vậy tơi đã đi sâu vào tìm hiểu “ Một số phương pháp tích cực hóa hoạt động
học tập của học sinh trong dạy học mơn Tốn lớp 4” để nghiên cứu và áp
dụng vào cơng tác giảng dạy của mình.

2. Điểm mới của đề tài:
Phát huy tích cực học tập của học sinh là không phải vấn đề mới mà đã
được đặt ra trong ngành giáo dục nước ta những năm 60 của thế kỉ trước.

Trang

2


Hiện nay, đổi mới chương trình giáo dục phổ thơng bao gồm cả đổi mới về
nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, trong đó chú trọng đến
PPDH.
Đổi PPDH học ln được tồn ngành giáo dục và tồn xã hội quan tâm,
song đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy như chúng tôi luôn được đặt lên hàng
đầu. Làm thế nào để dạy học luôn phát huy khả năng sáng tạo của học sinh,
đánh thức mọi tiềm năng của các em, đồng thời giúp các em có những hành vi
phù hợp trước những tình huống, những vấn đề phức tạp trong cuộc sống cộng
đồng...và “ Phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy
học mơn tốn lớp 4 ” đã phần nào đáp ứng được nhu cầu học tập của các em học
sinh.
Hệ thống “một số phương pháp dạy học tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh trong dạy học mơn tốn lớp 4” trong sáng kiến đã giúp học sinh có
thói quen tự học, ham học và đó là điều kiện tốt để khơi dậy nội lực, khả năng
vốn có của mỗi học sinh, HS khá giỏi có điều kiện để phát triển; HS yếu kém
cũng có cơ hội để vươn lên, kết quả học tập được nâng cao. Từ những kết quả
đã đạt được cho thấy việc vận dụng các biện pháp đó đem lại chất lượng khả
quan. Đây chính là điểm mới và chứng tỏ các biện pháp mà bản thân tơi đã áp
dụng mang lại tính khả thi cao.

3. Phạm vi áp dụng của đề tài:

- Thời gian áp dụng: Từ năm học: 2012 – 2013; năm học: 2013 – 2014 đến
năm học: 2014 - 2015.
- Đề tài đề cập đến một số phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của
học sinh trong dạy học môn Toán lớp 4

Qua thực tế giảng dạy, khi áp dụng “Phương pháp tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh” vào dạy học các em trong lớp đã nắm bắt kiến

thức nhanh và vận dụng vào làm bài một cách vững vàng. Vì vậy tơi đã
cùng với Giáo viên trong tổ khối 4,5 trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng
thời xây dựng chuyên đề về môn học này để cùng nhau nâng cao chất
lượng mơn Tốn trong chương trình học tập ở Tiểu học.
Trang

3


II. PHẦN NỘI DUNG
1. Thực trạng:

1.1. Nội dung cấu trúc chương trình mơn tốn lớp 4
- Trong chương trình mơn Toán lớp 4, ở học kỳ I chủ yếu tập trung
vào bổ sung, hồn thiện, tổng kết, hệ thống hóa, khái quát hóa về số tự
nhiên và dãy số tự nhiên, các phép tính và một số tính chất. Ở học kỳ II tập
trung vào dạy phân số, dấu hiệu chia hết và một số dạng về hình học.
Nội dung chương trình tốn lớp 4 gồm 6 chương:
+ Chương I: Số tự nhiên, bảng đơn vị đo khối lượng.
+ Chương II: Bốn phép tích với các số tự nhiên. Hình học
+ Chương III: Dấu bị chia hết cho 2,5,3,9. Giới thiệu hình bình hành
+ Chương IV: Phân số- các phép tính với phân số. Giới thiệu hình thoi.

+ ChươngV: Tỉ số- Một số bài toán liên quan đế tỉ số. Tỉ lệ bản đồ.
+ Chương VI: Ôn tập.
Về nội dung chương trình tốn lớp 4: Mỗi chương là một mảng kiến
thức.
1. 2. Thực trạng về chất lượng và “phương pháp tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh” trong dạy học mơn Tốn lớp 4.
1. 2.1. Đối với giáo viên:
Để nâng cao chất lượng mơn Tốn trong nhà trường, giáo viên đã mạnh
dạn thực hiện các phương pháp dạy học mới kết hợp với các phương pháp dạy
học truyền thống và đưa các hình thức dạy học mới. Chú trọng rèn các kỹ năng
giải tốn, thực hành tính và làm bài tập theo yêu cầu. Bên cạnh đó, học sinh
được học 2 buổi/ngày, có dành riêng các tiết bồi dưỡng cho học sinh có năng
khiếu tốn nên bước đầu cũng mang lại những kết quả nhất định trong việc nâng
cao chất lượng mơn tốn Tuy nhiên một số giáo viên chưa định rõ những biện
pháp kỹ thuật trong việc “Rèn kỹ phương pháp tích cực hoạt động học tập của
học sinh” nên hiệu quả chưa được nâng cao. Trong q trình dạy học, người
giáo viên cịn chưa có sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để các đối tượng

Trang

4


học sinh nắm vững được lượng kiến thức, đặc biệt là rèn phương pháp tự học
phát huy tính tích cực sáng tạo cho các em học sinh.
Nguyên nhân là do giáo viên dạy nhiều môn, thời gian dành để nghiên
cứu tìm tịi những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh trong
lớp còn hạn chế. Do vậy chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng của
học sinh. Một số giáo viên chưa nhiệt tình trong công tác giảng dạy cũng


như chưa đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động
học tập của học sinh. Tổ chức các hình thức dạy và học chưa phong phú
và phù hợp với từng đối tượng học sinh. Do vậy, chưa lôi cuốn các em sự
tập trung chú ý nghe giảng. Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng
tâm, kiến thức cịn dàn trải.
Nội dung mỗi bài học trước thường là cơ sở của bài học sau, việc
giới thiệu bài cũng hết sức quan trọng vì nó là một sự chuyển tiếp giữa
mảng kiến thức cũ và mảng kiến thức mới. Tuy nhiên vẫn còn một số giáo
viên chưa đầu tư, các kiến thức liên quan đến bài giảng chưa biết sử dụng
bài trước để giới thiệu dẫn dắt lôi cuốn học sinh một cách hấp dẫn vào bài
mới và kết hợp sử dùng đồ dùng dạy học chưa phù hợp.
Ví dụ: Bài nào giáo viên cũng chỉ giới thiệu một cách khô khan
Hôm nay chúng ta học bài: Phép cộng phân số ( tiếp theo ).
Khai thác nội dung kiến thức giáo viên cũng chưa làm nổi bật được
khi nào bắt đầu, khi nào cao trào đỉnh điểm, khi nào kết thúc,…Cách đặt ra
tình huống có vấn đề, tự nhớ lại kiến thức cũ và vận dụng làm bài, chủ
động, sáng tạo trong giờ học.
Ví dụ: Bài: “ So sánh hai phân số khác mẫu số ”. Giáo viên không
cho học sinh tự tìm cách làm để cho hai phân số có mẫu số bằng nhau mà
yêu cầu luôn học sinh quy đồng rồi so sánh tử số của 2 phân số mới. Hoặc
bài: “ Diện tích hình thoi ”, giáo viên chỉ u cầu tính diện tích dựa vào
hình chữ nhật, chứ khơng u cầu các em ghép hình rồi tự tìm cách tính
dựa vào cách tính diện tích hình chữ nhật.
Trang

5


Một số giáo viên ít dành thời gian nghiên cứu, hay chuẩn bị đồ dùng
dạy học chưa phù hợp phục vụ cho tiết dạy dẫn tới việc tiếp thu bài trong

mơn Tốn chưa cao.
Bên cạnh đó giáo viên nhận thức về cấu trúc chương trình, những nội dung
cơ bản trong mơn Tốn cũng chưa đầy đủ để vận dụng phương pháp dạy học
phù hợp từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải.
1. 2.2. Đối với học sinh:
Đa số học sinh tiểu học kỹ năng thực hành và đọc hiểu yêu cầu bài tốn cịn
yếu, đọc hấp tấp, khơng chịu khó tìm hiểu đề bài phân tích bài tốn dựa trên các
giả thiết để tìm ra các mối quan hệ chính trong bài tốn nhằm nhận dạng bài
tốn (vì mỗi dạng tốn có cách giải khác nhau)
Kỹ năng tóm tắt bài tốn cịn yếu do năng lực tư duy trừu tượng còn kém.
Các em chỉ biết làm phép tính mà chưa biết chuyển hình thức câu hỏi sang
câu lời giải mang tính khẳng định một phần do tư duy ngơn ngữ cịn yếu
Chưa có thói quen thử lại kết quả đúng hay chưa đúng
Hay tự bằng lòng với kết quả làm được, chưa chịu khó tìm cách giải
khác…Tất cả những yếu tố trên đã làm ảnh hưởng đến kết quả chất lượng mơn
tốn của học sinh lớp 4.
Nguyên nhân:

Ở lớp 4, các em được học mơn tốn với các kiến thức trừu tượng, khái
quát, vận dụng một số tính chất của số, phép tính, hình học dạng khái qt
hơn. Các em thực hành vận dụng nhiều, lượng kiến thức khá lớn so với các
kiến thức các em đã học trước đó. Trong khi đó, các em chưa nhận thức
đúng vai trị quan trọng của mơn Tốn lớp 4 trong chương trình tốn Tiểu
học. Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích
cực tư duy suy nghĩ tìm tịi cho mình những phương pháp học đúng để biến
tri thức của thầy thành của mình. Cho nên sau khi học xong bài, các em
chưa nắm được lượng kiến thức thầy giảng, rất nhanh qn và kỹ năng tính
tốn chưa nhanh. Ví dụ: Khi học xong các cách giải tốn về phân số các
Trang


6


em làm rất lộn xộn: cộng hai phân số cùng mẫu số cũng quy đồng rồi cộng
tử số, có khi nhân phân số các em cũng quy đồng…mặc dù khi học xong
bài mới, ở lớp các em vân dụng làm bài rất tốt, nhưng khi làm luyện tập
chung lại lộn xộn. tinh thần hợp tác học tập chưa cao nhiều em còn chưa tự
tin, học thụ động.
1.2.3. Khảo sát chất lượng đợt 1 kỹ năng mơn tốn lớp 4A, 4C qua các
năm do bản thân tôi phụ trách:
Năm học

TSHS

(lớp)

GIỎI

KHÁ

TB

YẾU

SL

%

SL


%

SL

%

SL

%

2012-2013 (4A)

33

1

3,2

7

19,4

15

48,4

10

29


2013-2014 (4C)

29

4

14,0

6

20,7

14

48,3

5

17,0

Kết quả kiểm tra chất lượng mơn tốn, 8 tuần đầu lớp 4B năm học 2014 –
2015: (Do bản thân tơi tự kiểm tra để đánh gía chất lượng học sinh lớp 4B)
Tổng số

Điểm

Điểm

Điểm


Điểm

học sinh

( 9 - 10 )

(7-8)

(5-6)

( Dưới 5 )

31

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%


3

9,7

7

22,6

13

50

8

0

Từ thực trạng chất lượng mơn tốn của học sinh đã nêu ở trên, trong những
năm được phân công giảng dạy ở trường (đặc biệt là năm học này) tôi đã tập trung
thực hiện một số biện pháp để góp phần nâng cao chất lượng mơn tốn cho học
sinh lớp 4 nói chung và rèn ý thức tích cực học tập cho các em học sinh nói riêng.
Xuất phát từ tình hình đó, bản thân tơi ln ln trăn trở tìm biện pháp để
giải đáp những yêu cầu: Làm thế nào để dạy học luôn phát huy khả năng sáng
tạo của học sinh, đánh thức mọi tiềm năng của các em, đồng thời giúp các em có
những hành vi phù hợp trước những tình huống, những vấn đề phức tạp trong
cuộc sống cộng đồng... Làm thế nào để giáo viên say mê với trong dạy học mơn
tốn và rèn phương pháp dạy học tích cực học tập cho học sinh? Làm thế nào để
Trang

7



chính quyền địa phương, phụ huynh tích cực ủng hộ giáo viên trong cơng tác
nâng cao chất lượng mơn tốn? Làm thế nào để học sinh có hứng thú tự giác
trong học tập?.. Những kinh nghiệm thực tế và giải pháp về tổ chức dạy học với
“phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh” nâng cao chất lượng
mơn tốn cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học nơi đang công tác, tôi muốn
chia sẻ cùng đồng nghiệp. Đó là:

1. 3.Các phương pháp dạy học theo hướng tích cực:
1.3.1. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp phát
hiện và giải quyết vấn đề, kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt
động dạy học.
Ví dụ trong bài: “ Phép cộng phân số ” ( tiếp theo ). (Toán 4 trang 127 ).
Bài tốn: “ Có một băng giấp màu, bạn Hà lấy 1 băng giấy, Bạn An lấy 1
2

3

băng giấy. Hỏi cả 2 bạn lấy bao nhiêu phần băng giấy màu? ”
Sau khi học xong học sinh biết cách cộng hai phân số khác mẫu số
và rèn luyện kỹ năng tính tốn cho học sinh.
Hướng dẫn giải như sau:
+ Muốn tìm số phần băng giấy của 2 bạn Hà và An đã lấy, cần thực
hiện phép tính gì? ( phép cộng:

1
2

1
3


+ ).

Như vậy, việc yêu cầu học sinh tính tổng hai phân số khác mẫu số là
một tình huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà học sinh chưa thể
giải quyết được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (học
sinh chỉ mới biết tính tổng hai phân số có cùng mẫu số).
Tuy nhiên nếu học sinh chịu khó suy nghĩ hoặc được giáo viên
hướng dẫn tìm cách biến đổi để đưa hai phân số đã cho thành hai phân số
có cùng mẫu số (Quy đồng mẫu số) thì học sinh có thể giải quyết vấn đề
kết hợp với PPDH vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành phép
cộng 2 phân số khác mẫu số.
Trang

8


1. 3.2 .Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH vấn đáp
kết hợp với một số PPDH khác trong hình thành tri thức mới.
Học sinh muốn tiếp thu tri thức mới cần có sự hướng dẫn của giáo viên
bắng một hệ thống câu hỏi phù hợp. Giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học
nhằm chuyển giao ý đồ sư phạm của thầy thành nhiệm vụ học tập của trị.
Ví dụ trong bài: “Phép nhân phân số” (SGK trang 132)
Hình thành phép tính nhân của 2 phân số và cho học sinh là một vấn đề
mới. Nếu giáo viên chỉ giới thiệu quy tắc tính sau đó áp dụng vào lun tập thì
khơng phát huy được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của học sinh. Do đó, giáo
viên cần suy nghĩ, chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp và phối hợp với hình vẻ
trực quan (như SGK trang 132) để hướng dẫn học sinh tiếp thu tri thức mới một
cách tích cực, sáng tạo.
Với bài học này, giáo viên có thể tổ chức hoạt động dạy học bằng hệ thống câu

hỏi sau:
Dựa vào cách tính diện tích hình chữ nhật bằng đồ dùng trực quan hãy cho
biết x = ? (HS nêu: x = )
- Quan sát hình và cho biết 8 là gì của hình chữ nhật mà ta phải tính diện tích?
(8 là tổng số ơ của hình chữ nhật.)
* HS giải thích: Chiều dài HCN bằng 4 ô và được xếp thành 2 hàng nên tính
được tổng số ơ bằng cách lấy 4 x 2 = 8.
- 4 và 2 là gì của các phân số trong phép nhân x ? ( 4 và 2 là tử số của các
phân số trong phép nhân x ).
- Để tính số ơ vng có trong hình vng diện tích 1 m2 ta làm thế nào? ( lấy 5
x 3 = 15 (ô)).
- Vậy 5 và 3 là gì của các phân số trong phép nhân x ? ( 5 và 3 là mẫu số của
các phân số trong phép nhân x ).
- Như vậy, khi muốn nhân hai phân số với nhau ta làm thế nào? ( ... ta lấy tử
số nhân tử số, mẫu số nhân mẫu số).

Trang

9


- Giáo viên nêu công thức tổng quát:

a
c

b
d

= a  c và yêu cầu học sinh nêu

bd

quy tắc nhân hai phân số, sau đó tổ chức: luyện tập, củng cố.
1. 3.3. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài
toán là cơ sở giải loại tốn sắp học.
Giải các bài tốn có tính chất chuẩn bị này, học sinh có thể tính ra
được kết quả dễ dàng nhằm tạo điều kiện cho các em tập trung suy nghĩ
vào các mối quan hệ toán học và các từ mới chứa trong đầu bài tốn:
Ví dụ 1: Để chuẩn bị cho việc học loại tốn: “Tìm 2 số biết tổng và
tỉ số của 2 số đó”. Có thể cho học sinh giải bài tốn sau: “ Cơ có 30 quả
cam, chia thành 3 phần bằng nhau. Bạn nam được 1 phần, bạn nữ được 2
phần. Hỏi bạn nam được bao nhiêu quả cam?”.
Ví dụ 2: Để chuẩn bị cho việc học loại tốn: “Tìm 2 số biết tổng và
hiệu của 2 số đó”. Có thể cho học sinh giải bài tốn sau: “Hai bạn An và
Mai có tất cả 15.000 đồng, An có nhiều hơn Mai 5.000 đồng. Hỏi mỗi bạn
có bao nhiêu tiền?”.
-Tổ chức cho học sinh làm việc trên đồ dùng học tập:
+Mỗi học sinh lấy 15 que tính (tượng trưng cho 15.000 đồng ). Chia
bảng con làm 2 phần, phần lớn là số tiền của An, phần nhỏ là số tiền của
Mai.
+An nhiều hơn Mai 5.000 đồng. Vậy ta lấy 5 que tính cho An trước
rồi chia đơi phần cịn lại:! Học sinh lấy 5.000đồng cho An trước (đặt 5 que
tính vào phần lớn).
- Cịn mấy nghìn đồng ? (15.000 – 5.000 = 10.000 đồng ).
- Vậy chia đều cho 2 bạn, mỗi bạn được mấy nghìn ? ( 10.000 : 2 =
5.000 đồng ).
- Bỏ vào hai phần mỗi phần 5.000 đồng ( 5 que tính )
- Vậy Mai được mấy nghìn ? ( 5.000 đồng ).
- Cịn An được mấy nghìn ? ( 5.000 +5.000 = 10.000 đồng ).
- Tương tự hướng dẫn bài toán trên sơ đồ và giải.

Trang 10


1.3.4. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài
tốn phát huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.
Để giải được các bài toán này giáo viên cần triển khai các hoạt động
mang tính chất thực tiễn, học sinh phải được thao tác trên đồ dùng trực
quan. Từ đó các em sẽ tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học.
Ví dụ: Trong bài “Phép cộng phân số”.
Để hình thành phép cộng hai phân số có mẫu số bằng nhau, giáo viên
và học sinh cùng thực hành trên băng giấy
– Chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau, bằng cách gấp đôi ba lần
theo chiều ngang:
+ Tô màu vào

3
8

băng giấy; Tơ màu vào

2
8

băng giấy

Nhìn vào băng giấy học sinh dễ nêu được hai lần đã tô màu được 5
8

băng giấy. Học sinh nêu:


3
8

+

2
8

=

3 2
8

5
8

= .

Kết luận: Nêu được cách cộng hai phân số bằng cách lấy tử số cộng
với nhau và giữ nguyên mẫu số.
1.3.5. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH hợp tác
theo nhóm nhỏ và kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy
học nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, hợp tác của học sinh.
Mục tiêu, nội dung bài học yêu cầu hình thành tri thức mới cho học
sinh. Tri thức mới đó cần có sự kiểm nghiệm kết quả qua nhiều học sinh
khác nhau, cần có sự phát hiện, đóng góp trí tuệ. Tập thể học sinh thống
nhất kết quả có sự hướng dẫn của giáo viên.
Ví dụ: Dạy bài Nhân với có số hai chữ số (SGK lớp 4 trang 69)
GV nêu vấn đề : Tính 36 x 23 = ?
Muốn thực hiện phép tính 36 x 23 ta làm thế nào? Yêu cầu học sinh thực

hiện theo nhóm. HS thảo luận, nói vắn tắt ý của mình…
GV dựa vào ý của HS để định hướng suy nghĩ :
- Đây là phép nhân với số có 2 chữ số, ta chưa học.
Trang 11


- Ta mới chỉ học cách nhân với số có một chữ số.
- Vậy phải tìm cách quy về phép nhân với số có một chữ số (hay quy
về các phép nhân đã học)
HS tự nghĩ cách nhân theo hướng nêu trên, ghi tắt vào giấy các ý riêng của
mình. Sau đó các em bàn bạc trong nhóm nhỏ và thống nhất kết quả.
Sau đó giáo viên yêu cầu các nhóm trình bày kết quả:
Một số học sinh lên cơng bố “phát minh” của mình (hoặc nhóm mình)
trước cả lớp. Học sinh này được nói và viết tự do trên bảng lớp. Chẳng hạn:
- HS A: Đại diện cho nhóm Sơn ca trình bày trước lớp:
+ Em tách theo phép cộng 23 = 7 + 8 + 8
+ Dùng quy tắc nhân một số với một tổng
36 x 23 = 36 x (7 + 8 + 8 ) = 36 x 7 + 36 x 8 + 36 x 8
Đây tồn là phép nhân với số có một chữ số, biết làm rồi. HS nêu kết quả.
- HS B: Đại diện cho nhóm Sáo sậu trình bày trước lớp:
+ Em tách theo phép cộng : 23 = 20 + 3
36 x 23 = 36 x (20 + 3 ) = 36 x 20 + 36 x 3
36 x 20 : có dạng phép nhân với số trịn chục : đã học.
36 x 4 là phép nhân với số có một chữ số đã học. HS nêu kết quả.

36 x 23 = 36 (20 + 3)
= 36 x 20 + 36 x 3
= 720 + 108
= 828
GV tổng kết thảo luận để chốt lại cách làm đúng tuy nhiên cách làm của

bạn B nhanh hơn, sau đó nêu cách tính thực tiễn như trong sách giáo khoa.
GV hướng dẫn đặt tính và tính nhân số có hai chữ số: 36 x 23 = ? (như SGK)

Như vậy, việc phát huy tính tích cực,chủ động sáng tạo học tập của
học sinh và hợp tác trong nhóm nhỏ đã giúp các em hăng hái tham gia học
tập và phối hợp làm việc có hiệu quả, các em tự trãi nghiệm và đúc rút
được kết quả cho bản thân và tích cực hơn trong học tập.Trong hoạt động
nhóm nhỏ, mỗi cá nhân phải nổ lực khơng ỷ lại vào người khác tồn nhóm
Trang 12


phải phối hợp với nhau để cuối cùng đạt mục tiêu chung. Mơ hình hợp tác
trong xã hội đưa vào đời sống học đường để chuẩn bị cho học sinh thích
ứng với đời sống xã hội, trong đó con người sống và làm việc theo theo sự
phân công hợp tác với tập thể cộng đồng. Tuy nhiên giáo viên luôn là
người hổ trợ động viên học sinh kịp thời khi các em thấy khó khăn trong
học tập qua hoạt động hợp tác nhóm để thống nhất kết quả cuối cùng và rút
ra kết luận chung.
1. 3.6. Khi dạy thực hành luyện tập Giáo viên cần lưu ý giúp mọi học
sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng
của mình, bằng cách:
– Cho các em làm các bài theo thứ tự trong sách giáo khoa, không bỏ
bài nào, kể cả bài dễ, bài khó.
- Khơng bắt học sinh chờ đợi nhau trong khi làm bài. Làm xong chuyển
sang bài tiếp theo. Học sinh này có thể làm nhiều bài hơn học sinh khác:
-

Ví dụ: Khi dạy bài : “ Tính bằng cách thuận tiện nhất ”

-


3
5

+

6
10

+

8
10

=

3
5

+(

6
10

+

8
10

)=


3
5

+

14
10

=

20
=2
10

Hoặc cho học sinh rút gọn rồi thực hiện cộng phân số cùng mẫu số
-

3
5

+

6
10

+

8
10


=

3
5

+

3
5

+

4
5

=

10
5

=2

Có thể một số em vẫn thực hiện theo thứ tự các phép tính của biểu thức,
kết quả đúng nhưng chưa nhanh,chưa hợp lí. Giáo viên nên hướng dẫn học
sinh các tính chất đã học của phép cộng để tìm ra cách giải thuận tiện.
Hoặc trong bài luyện tập của phép nhân thì giáo viên phải dẫn dắt học
sinh nhớ lại kiến thức đã học đó là:
+ Tính chất giao hốn ; tính chất kết hợp của phép nhân..
+ Tính chất nhân một số với một tổng (Hoặc một tổng nhân với một số ).

+ Tính chất nhân một hiệu với một số (Hoặc một số nhân với một hiệu ).
Học sinh phải vận dụng nhanh các tính chất này vào giải tốn: Khi nào vận
dụng tính chất này, khi nào vận dụng tính chất kia:
Trang 13


Ví dụ: 2



10 + 10



5 = 10



( 2 + 5 ) = 10



10 = 20 ( Áp dụng tính

chất nhân một số với một tổng.
1. 3.7. Phương pháp kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích
nhận định thực trạng học tập để điều chỉnh hoạt động học của trò mà đồng
thời tạo điều kiện nhận định thực trạng dạy để điều chỉnh hoạt động dạy

của thầy. Trong phương pháp dạy học tích cực giáo viên phải hướng dẫn
học sinh phát triển năng lực tự đánh giá để điều chỉnh cách học và luôn tạo
điều kiện để học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau. Kỉ năng đánh giá và tự
đánh giá, giúp học sinh sớm thích ứng với đời sống xã hội, hịa nhập và
góp phần phát triển cộng đồng và rèn luyện khả năng phát hiện và giải
quyết vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế.
Trong q trình giảng dạy, tơi đã áp dụng các phương pháp trên và
nhận thấy học sinh lớp tôi hứng thú học tập hơn. Các em mạnh dạn phát
biểu ý kiến xây dựng bài, tính tốn nhanh, chính xác. Học sinh ham học, tự
tin, chất lượng học tập được nâng lên một cách rõ rệt. Các em học sinh dần
dần chiếm lĩnh kiến thức mới và giải quyết các vấn đề gần gũi với đời
sống.
Sự tiến bộ của các em biểu hiện cụ thể qua kết quả như sau:
Giỏi

Đợt
Năm học

Khá

Trung Bình

Yếu

KSĐK

SLHS

SL


%

SL

%

SL

%

SL

%

1

33

3

9,1

10

30,3

16

48,5


4

12,1

2012- 2013

2

33

7

21,2

15

45,5

9

27,2

2

6,1

(Lớp 4A)

3


33

11

33,3

16

48,5

6

18,2

/

/

4

33

13

39,4

17

51,5


3

9,1

1

29

4

13,8

6

20,7

14

48,3

5

17,2

2013- 2014

2

29


10

34,5

11

37,9

6

20,6

2

6,8

(Lớp 4C)

3

29

14

48,3

12

41,4


2

6,8

1

3.5

29

14

48,3

12

41,4

3

10,3

/

/

4

Trang 14



Kết quả kiểm tra mơn tốn năm học 2014 – 2015:
Tổng số

Điểm

Điểm

Điểm

Điểm

học sinh

( 9 - 10 )

(7-8)

(5-6)

( Dưới 5 )

31

TS

%

TS


%

TS

%

TS

%

10

9,4

14

31,25

7

53,1

0

0

Qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên bản thân tôi đã gặt hái được
những kết quả vượt bậc về mọi mặt, trong đó có chất lượng mơn tốn ngày càng
được nâng cao. Các em học sinh ln tích cực chủ động tham gia học tập, học
sinh ln có ý thức tự học và tham gia tốt các hoạt động của nhà trường. Cụ thể:

Năm học 2012 - 2013: Lớp 4A có 13 em học sinh giỏi và 17 em đạt học
sinh tiến tiến. Năm học: 2013- 2014: Lớp 4C có 14 em học sinh giỏi và 12 em
đạt học sinh tiến tiến, có 1 em học sinh tham dự Hội thi trạng nguyên nhỏ tuổi
đạt giải ba cấp huyện và 1 em đạt giải Nhất vẽ tranh.
Năm học: 2014- 2015: Lớp 4B có 20 em được khen hồn thành các mơn
học và 4 em hồn thành mơn tốn.

Việc sử dụng các phương pháp trên đã giúp các em có hứng thú hơn
học tập và vận dụng vào làm bài tập tương đối tốt. Mặc dù chưa được hoàn
thiện, nhưng cũng chứng tỏ trong các mơn học, mơn Tốn cần có sự đổi
mới về phương pháp dạy học, giúp học sinh phát huy cao tính tích cực
sáng tạo trong học tập. Góp phần phát triển năng lực tư duy và năng lực thực
hành của học sinh để áp dụng vào thực tiễn trong cuộc sống.

Trang 15


III: PHẦN KẾT LUẬN
1. Ý nghiã thực tiễn của sáng kiến:
Trong cơng tác giảng dạy, vai trị của người Thầy rất quan trọng, đặc
biệt là mơn Tốn. Người giáo viên chủ yếu cung cấp cho học sinh một cách
đầy đủ, chính xác, có hệ thống kiến thức. Ngồi ra, cịn thường xuyên rèn
luyện cho các em những kĩ năng cần thiết giúp các em có phương pháp,
vận dụng kiến thức đã học vào việc làm các bài tập liên hệ với thực tiễn. Vì
vậy, mơn học này có vai trị vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục
phổ thông. Cho nên tôi đã vận dụng những phương pháp này nhằm phát
huy tính tích cực trong học tập của học sinh như sau:
- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH vấn đáp kết hợp
với một số PPDH khác trong hình thành tri thức mới.
- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp phát hiện

và giải quyết vấn đề, kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy
học.
- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong PPDH hợp tác theo
nhóm nhỏ và kết hợp với PPDH khác để tổ chức hoạt động dạy học nhằm
phát huy tính chủ động sáng tạo, hợp tác của học sinh.
- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài tốn có
tính chất chuẩn bị cơ sở việc giải loại tốn sắp học.
- Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong việc giải các bài toán
phát huy tính trực quan cụ thể trong tư duy của học sinh.
- Khi dạy thực hành luyện tập Giáo viên cần lưu ý giúp mọi học sinh
đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của BGH nhà trường, tổ khối chun mơn, sự
giảng dạy tích cực của giáo viên, học sinh và sự đồng thuận của phụ huynh. Qua
những năm kiên trì thực hiện những biện pháp, giải pháp để giúp học sinh phát

phát huy tính tích cực trong học tập và thực tế áp dụng các PPDH trên vào

Trang 16


hướng dẫn học sinh học tốt mơn Tốn, tơi rút ra một số bài học kinh nghiệm
như sau:

- Giáo viên phải nắm được tồn bộ chương trình mơn Tốn lớp 4, nắm
vững kiến thức Toán trong SGK; SGV; chuẩn kiến thức kĩ năng. Có đầy đủ
đồ dùng dạy và học cho giáo viên và học sinh ở các tiết học. có phần củng
cố bằng các trị chơi: “ Trị chơi học Toán ” và chuyển từ kiến thức cũ giúp
học sinh khai thác kiến thức mới một cách hấp dẫn, khoa học. Biết tổ chức
các PPDH gắn với các bài tập thực hành luyện tập. giúp học sinh tự chiếm
lĩnh kiến thức mới và vận dụng làm các bài tập một cách chính xác. Đây

cũng là cách giúp các em ghi nhớ lâu những qui tắc và vận dụng giải các
bài tập đã học để khi lên lớp trên Giáo viên nhắc tới những dạng bài tập đó
là các em nhớ và vận dụng làm được ngay. Như vậy sẽ tránh được những
em học sinh lên lớp trên mà kiến thức Toán tiểu học bị hỏng.
- Giáo viên cần gần gũi với học sinh hơn nữa và có sự linh hoạt trong
cách tổ chức các PPDH , giúp học sinh tự tin, giúp các em tự giác biết cách
làm bài Tốn một cách khoa học, chính xác, sửa chữa những điểm yếu,
điểm sai của mình.
- Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ba mơi trường giáo dục: gia đình –
nhà trường – xã hội.
- Riêng đối với bản thân tôi, điều cần thiết và không thể coi nhẹ là phải
dạy tốt lý thuyết, từ đó mới phát triển được các tư duy, suy luận cho học
sinh. Để rèn luyện kĩ năng giải Tốn cho học sinh thì trong q trình giảng
dạy, giáo viên phải lựa chọn các phương pháp dạy tốt. Khi dạy học sinh
lớp 4 học Toán, giáo viên phải đặt ra tình huống để các em suy nghĩ, tìm
tịi cách giải khác nhau.
Trên đây là một số PPDH giúp học sinh học tốt mơn Tốn trong chương
trình Tiểu học nói chung và chương trình Tốn lớp 4 nói riêng. Trong suốt
thời gian qua bản thân tơi đã nghiên cứu, vận dụng vào thực tế giảng dạy
và chất lượng học tập của học sinh đã nâng lên rõ rệt. Các em đã thực sự
Trang 17


phấn khởi, tự tin khi học Tốn. Đối với tơi, cách dạy trên đã góp phần
khơng nhỏ vào việc dạy học và giáo dục các em học sinh và đó chính là
một trong những thành cơng bước đầu của bản thân tôi trong những năm
làm nghề thầy giáo.
3. Những kiến nghị, đề xuất :
* Đối với giáo viên : Thường xuyên học hỏi, cập nhật thông tin, khiêm tốn,
không tự bằng lịng thỏa mãn, kiên trì thực hiện mục tiêu muốn có trị giỏi trước

hết thầy phải giỏi. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, cách trình bày bài
giảng ; luôn đặt ra yêu cầu cao đối với từng đối tượng học sinh song phải kiên trì
và có tình yêu thương đối với con trẻ.
* Đối với nhà trường :
- Thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ tốt cho
việc dạy và học. Tăng cường bồi dưỡng đổi mới phương pháp dạy học cho giáo
viên đặc biệt là dạy học theo mơ hình trường học mới.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ trong q trình tổ chức dạy học mà
bản thân tơi đã đúc rút được. Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này
sẽ không tránh khỏi những mặt hạn chế, thiếu sót. Rất mong được sự giúp đỡ,
đóng góp của q thầy cơ và các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trang 18


Trang 19



×