Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

Học thuyết hình thái kinh tế xã hội và quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế xã hội ý nghĩa của học thuyết này đối với con đường phát triển đất nước việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (166.9 KB, 10 trang )

Triết học Mác - Lênin nhóm 52
Chủ đề : Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và quá trình phát triển lịch sử - tự
nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội. Ý nghĩa của học thuyết này đối với con đường
phát triển đất nước Việt Nam.
I. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
1) Khái niệm
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
dùng để chỉ xã hội ở từng nấc thang lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc
trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và một
kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên quan hệ sản xuất đặc trưng ấy.

Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội
Sản xuất vật chất là q trình mà trong đó con người sử dụng công cụ lao
động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất
của giới tự nhiên để tạo ra của cải xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và
phát triển của con người.
Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành sản xuất.Đó là hoạt động không
ngừng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm mục đích thỏa mãn nhu
cầu tồn tại và phát triển của con người. Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội
lồi người chính là sự sản xuất xã hội, tức là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống
hiện thực, bao gồm ba phương diện không tách rời nhau là sản xuất vật chất, sản
xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người.

Vai trò của sản xuất vật chất:
Là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt của con người nhằm duy trì sự
tồn tại và phát triển của con người nói chung cũng như từng cá thể người nói
riêng
Là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người. Hoạt động sản xuất vật
chất là cơ sở hình thành nên quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người, từ đó
hình thành nên các quan hệ xã hội khác về chính trị, pháp luật, đạo đức, tơn giáo...
Sản xuất vật chất đã tạo ra các điều kiện, phương tiện bảo đảm cho hoạt động tinh


thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sản xuất tinh thần của xã
hội.


Là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người. Nhờ hoạt động sản
xuất vật chất mà con người hình thành nên ngơn ngữ, nhận thức, tư duy, tình
cảm, đạo đức... Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản, quyết định nhất đối với
sự hình thành, phát triển phẩm chất xã hội của con người.

2)

Kết cấu bao gồm ba yếu tố cơ bản, phổ biến

a) Lực lượng sản xuất:
* Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức
sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên
theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
+ Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực
sáng tạo. Người lao động là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải
vật chất xã hội
+ Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư liệu
lao động và đối tượng lao động.
+ Đối tượng lao động
Ví dụ: sắt, thép, xi măng, sỏi, bông, len, sợi vải… Đó là những vật liệu, ngun li
ệu “thơ” để làm đầu vào của sản xuất.
+ Tư liệu lao động
Ví dụ: những công cụ lao động như cày, cuốc, máy kéo, dệt, máy, xe tải…; nhữn
g nhiên liệu sản xuất như xăng, dầu, điện…

b)


Quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất.


Quan hệ sản xuất là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ mối q
uan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất.
Chính nhờ mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên tồn tại thống nhất với nhau mà quá trình sản xuất xã hội mới
diễn ra bình thường.
Ví dụ:
 Trong quá trình khai thác mỏ than, nếu mỗi người chỉ làm việc một
cách tách biệt, khơng có sự phối hợp giữa các công nhân, những
người công nhân lại không nghe chỉ đạo của quản lý…, tức là
không tồn tại mối quan hệ giữa những con người với nhau (“quan
hệ sản xuất”), thì tập thể đó khơng thể khai thác than hiệu quả.
– Trong thực tế quá trình sản xuất, hệ thống các quan hệ sản xuất biểu hiện cụ
thể theo 03 mặt khác nhau như sau:
 Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất;
 Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất;
 Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.
ĐỌC CÁC NHÁNH TRONG SILDE CHO MỖI Ý.
c)

Kiến trúc thượng tầng:
Là toàn bộ các quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo… c
ùng với những thiết chế xã hội tương ứng: nhà nước, đảng phái, giáo hội và các tổ
chức chính trị – xã hội khác được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.


Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức
sản xuất có tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định


quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng
sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu
của q trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của q
trình sản xuất, cịn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của q trình đó.
Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo
nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phụ thuộc vào thực trạng phát triển
của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Vai trò quyết định
của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện ở chỗ:
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể
hiện ở chỗ:
– Lực lượng sản xuất thế nào thì quan hệ sản xuất phải thế ấy tức là quan hệ
sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
– Khi lực lượng sản xuất biến đổi quan hệ sản xuất sớm muộn cũng phải biến
đổi theo.
– Lực lượng sản xuất quyết định cả ba mặt của quan hệ sản xuất tức là quyết
định cả về chế độ sở hữu, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức phân phối sản
phẩm.

Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng của xã hội
a) Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận
động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó.
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm và quy luật phát triển riêng.

Các yếu tố của kiến trúc thượng tầng tồn tại trong mối liên hệ tác động qua lại
lẫn nhau và đều nảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh những cơ sở hạ tầng nhất
định.
b) Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng của xã hội
Vị trí: là một quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển lịch sử xã hội.
Nội dung: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt cơ bản của xã hội
gắn bó hữu cơ, có quan hệ biện chứng, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến


trúc thượng tầng, còn kiến trúc thượng tầng tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối
với cơ sở hạ tầng.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
Quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện trước hết ở
chỗ, cơ sở hạ tầng với tư cách là cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội sẽ quyết
định kiểu kiến trúc thượng tầng của xã hội ấy.
Quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng: Nếu cơ sở hạ tầng có đối kháng
hay khơng đối kháng, thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng có tính chất như vậy
Quyết định sự vận động phát triển của kiến trúc thượng tầng: Những biến đổi
căn bản của cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản trong
kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái kinh tế - xã
hội, cũng như khi chuyển từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái
kinh tế - xã hội khác.
II.Quá trình phát triển các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự
nhiên

1. Sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên
Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ thấp đến cao. Tương
ứng với q trình đó là lịch sử của các hình thái kinh tế – xã hội theo những quy luật, đó là

q trình lịch sử tự nhiên của xã hội.
C. Mác khẳng định rằng “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên”


2. Tính chất lịch sử - tự nhiên của quá trình phát triển các hình
thái kinh tế - xã hội được thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau
đây:
Một là, sự vận động và phát triển của xã hội khơng tn theo ý chí chủ quan của con người
mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái
kinh tế - xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,
khoa học,...
Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,... của xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp
hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó.
V.I.Lênin từng nhấn mạnh một phương pháp luận quan trọng khi nghiên cứu về xã hội là:
"Chỉ cố đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan
hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở
vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự
nhiên".


Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau
của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại và sự phát triển của lịch sử xã hội lồi
người có thể đo sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ vai trị quyết định
chính là sự tác động của các quy luật khách quan.

3. Quá trình phát triển Lịch sử - Tự nhiên của các hình thái
Kinh tế - Xã hội
Nguồn gốc sâu sa của việc phát triển và thay thế các hình thái kinh tế xã hội nằm ở chỗ:

o Sự phát triển của lực lượng sản xuất gây lên sự thay đổi về quan hệ sản xuất.
o Sự thay đổi về quan hệ sản xuất (với tư cách là cơ sở hạ tầng) đến lượt nó sẽ làm cho
kiến trúc thượng tầng (là hệ thống các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế
chính trị - xã hội tương ứng, được hình thành trên một sơ sở hạ tầng nhất định) thay
đổi.
Theo chủ nghĩa Mác – Lenin, trong lịch sử loài người đã và sẽ tuần tự xuất hiện 5 hình thái
kinh tế xã hội từ thấp đến cao:

PHẦN NÀY ĐỌC TIẾP TRONG SLIDE NHÉ
Vậy quá trình phát triển của những hình thái này đã diễn ra như thế
nào?
Về cơ bản có ba yếu tố: lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng tác động biện chứng, tạo nên sự phát triển của lịch sử xã hội, thông qua sự
tác động tổng hợp của hai quy luật cơ bản là quy luật cơ sạ hạ tầng phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất và quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
Sự phát triển của xã hội bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước
hết là sự biến đổi, phát triển của công cụ sản xuất và sự phát triển về tri thức,
kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động.
Mỗi sự phát triển của lực lượng sản xuất đều tạo ra khả năng, điều kiện và đặt ra
yêu cầu khách quan cho sự biến đổi của quan hệ sản xuất. Khi lực lượng sản


xuất phát triển về chất, địi hỏi phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ
sản xuất mới về chất.. Khi cơ sở hạ tầng xã hội biến đổi về chất dẫn đến sự biến
đổi, phát triển căn bản (nhanh hay chậm, ít hoặc nhiều) của kiến trúc thượng tầng
xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội cũ mất đi, hình thái kinh tế - xã hội mới, tiến bộ
hơn ra đời. Trong đó, có sự thống nhất giữa quy luật chung cơ bản phổ biến với
quy luật đặc thù và quy luật riêng của lịch sử, chính vì vậy, Tiến trình lịch sử
xã hội lồi người là kết quả của sự thống nhất giữa logic và lịch sử.

Xu hướng cơ bản, xu hướng chung của sự vận động, phát triển của lịch sử loài
người là do sự chi phối của quy luật khách quan (thống nhất giữa cái chung với
cái đặc thù và cái riêng) xét đến cùng là sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Logic của tồn bộ tiến trình lịch sử lồi người là sự kế tiếp nhau của các hình
thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Đó là con đường tất yếu của tiến bộ lịch
sử.
Sự phát triển phong phú, nhiều vẻ, đa dạng, phức tạp của các hình thái kinh tế - xã
hội cụ thể của các giai đoạn xã hội, các quốc gia, dân tộc cụ thể
Theo V.I. Lênin: “Tính quy luật chung của sự phát triển lịch sử tồn thế giới đã
khơng loại trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang những
đặc điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó”1.
Sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa phải thông qua đấu tranh giai cấp, đỉnh cao là cách mạng xã hội .

III. Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT ĐỐI VỚI CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
1. Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
Thứ 1 theo lí luận hình thái kinh tế - xã hội sản xuất vật chất chính là cơ hội của xã
hội, phương thức sản xuất sẽ quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất và cũng là
nhân tố quyết định trình độ phát triển của đời sống xã hội và lịch sử nói chung do đó
1. V.I. Lênin: Tồn tập, Sđd, t.45, tr.431.


không thể xuất phát từ ý thức tư tưởng hoặc từ ý chí chủ quan của con người để giải thích
các hiện tượng trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ bản thân thực trạng của nền
sản xuất xã hội đặc biệt là từ trình độ phát triển của phương thức sản xuất xã hội với cốt
lõi của nó là trình dộ phát triển của lực lượng sản xuất hiện thực
Thứ 2 theo lí luận hình thái kinh tế - xã hội hay học thuyết hình thái kinh tế xã hội xã
hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên máy móc giữa các cá nhân mà xã hội
thực sự là một cơ thể sống động các phương diện của đơi sống xã hội tồn tại trong một hệ

thống cấu trúc thống nhất chặt chẽ tác động qua lịa lẫn nhau trong đó quan hệ sản xuất
đóng vai trị là quan hệ cơ bản nhất quyết định các quan hệ xã hội khác nhau như là :
chính trị, pháp luật, văn hóa, khoa học, đạo đức,… của đời sống xã hội và mối quan hệ
lẫn nhau giữa chúng.
Thứ 3 theo lí luận hình thái kinh tế- xã hội sự vận động phát triển của xã hội là một
quá trình lịch sử tự nhiên tức là quá trình diễn ra theo các quy luật khách quan khơng phải
theo ý muốn chủ quan do đó muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn có hiệu quả những
vấn đề của đời sống xa hội phải đi sâu nghiên cứu các qui luật vận động phát triển của xã
hội.
2. Ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đối với con đường phát triển đất
nước của Việt Nam
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở khoa học cho việc xác định con đường
phát triển của Việt Nam cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Con đường đi lên
của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa,
tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư
bản chủ nghĩa, những tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới
chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực
lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
Từ những phân tích trước đó cho thấy cơ sở nghiên cứu, quán triệt của học thuyết
của Mác Lênin về hình thái kinh tế – xã hội, Đảng ta đã xây dựng đường lối hình thành ,
phát triển đất nước cho từng giai đoạn lịch sử, để từ một đất nước bị thực dân đô hộ và áp
bức bóc lột, mức sống kém, có nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đang ngày càng phát triển


và hội nhập tồn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với khu vực và trên tồn thế
giới.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học
trong quán triệt quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mơ hình, mục tiêu
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được xác định với các tiêu chí về lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng. Đồng thời xác định các phương hướng xây dựng chủ

nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chúng ta đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội,
làm cho tư duy giáo điều, duy ý chí, bảo thủ đã bị đẩy lùi. Cả xã hội đang ra sức thực
hiện mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng được cơ bản nền tảng
kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù
hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh.



×